Chương 6: Hazel

HAZEL ĐANG MỘT MÌNH ĐI BỘ VỀ NHÀ từ chuồng ngựa. Mặc cho đêm tối lạnh lẽo, cô đang vô cùng phấn chấn vì khích động. Sammy đã hôn lên má

Ngày hôm nay đúng là buồn vui lẫn lộn. Đám trẻ ở trường cứ chòng ghẹo về mẹ của cô, chúng gọi bà là phù thủy và nhiều tên khác nữa. Dĩ nhiên chuyện đó đã diễn ra lâu rồi, nhưng giờ đây nó ngày càng trở nên tệ hơn. Các tin đồn về lời nguyền của Hazel đang lan khắp. Ngôi trường cô theo học là Học viện Thánh Agnes, nơi dành cho Những Đứa Trẻ Da Màu và Da Đỏ, một cái tên bất biến cả trăm năm nay. Cũng như tên gọi, nơi này che giấu vô số hành động tàn nhẫn bên dưới lớp ngụy trang lòng tốt mỏng dính.

Hazel không hiểu tại sao những đứa trẻ da đen khác lại xấu tính như thế. Chúng đáng lẽ phải biết rõ điều đó hơn cô, vì chính chúng cũng luôn phải chịu đựng những lời mạt sát. Vậy mà chúng đã hét vào mặt và cướp đi bữa trưa của cô, đồng thời luôn hỏi xin những viên đá quý đẹp mê hồn: “Mớ kim cương bị nguyền rủa kia đâu, con nhóc kia? Đưa cho tao vài viên, bằng không tao sẽ đánh mày đấy!” Chúng xô ngã cô ở vòi phun nước và ném đá vào cô nếu cô cố đến gần chúng trong sân chơi.

Dù chúng có quá đáng thế nào đi nữa, Hazel không bao giờ đưa kim cương hay vàng cho chúng. Cô không căm ghét ai nhiều đến mức đó. Ngoài ra, cô cũng còn một người bạn – Sammy – và thế là đã quá đủ.

Sammy thích đùa rằng cậu là học sinh xuất sắc của trường Thánh Agnes. Cậu là người Mỹ gốc Mexico, vì thế cậu cho rằng mình chính là người da màu và da đỏ. “Họ nên tặng mình hai phần học bổng chứ,” cậu nói.

Cậu không to cao hay vạm vỡ, nhưng cậu sở hữu một nụ cười ngu ngơ và cậu làm cho Hazel bật cười.

Chiều hôm đó, cậu đã đưa cô đến chuồng ngựa, nơi cậu làm người giữ ngựa. Đó là câu lạc bộ cưỡi ngựa hiển nhiên là “chỉ dành cho người da trắng”, nhưng nó đóng cửa vào cuối tuần. Và khi mà chiến tranh đang nổ ra, mọi người xì xào rằng câu lạc bộ có thể phải đóng cửa hoàn toàn cho đến khi người Nhật rút đi và những người lính quay trở về. Sammy thường lén đưa Hazel vào để giúp chăm sóc bầy ngựa. Thỉnh thoảng họ lại cùng nhau cưỡi ngựa.

Hazel yêu thích những chú ngựa. Chúng dường như là sinh vật sống duy nhất không sợ cô. Con người ghét cô. Những con mèo rít ầm lên. Đám chó gầm gừ. Thậm chí cả con hamster ngu ngốc trong lớp Cô Finley cũng kêu the thé sợ hãi mỗi khi cô mang cà rốt cho nó. Nhưng những con ngựa thì không thế. Khi đến chuồng ngựa, cô có thể cưỡi chúng và phi thật nhanh, đến nỗi chẳng viên đá quý nào trồi lên kịp theo gót. Cô h như cảm thấy được giải thoát khỏi lời nguyền của mình.

Chiều hôm đó, cô đã dắt một chú ngựa đực màu lang sậm có cái bờm đen tuyệt đẹp ra ngoài. Cô nhanh chóng phi như bay vào những cánh đồng, để mặc Sammy lại phía sau. Khi đuổi kịp cô, cả cậu và con ngựa đều gần như hết cả hơi.

“Sao cậu lại chạy như ma đuổi thế?” Cậu cười lớn. “Tớ không xấu trai đến thế, phải không nào?”

Thời tiết hôm đó quá lạnh cho việc dã ngoại, nhưng dẫu sao thì họ cũng đã có một chuyến đi như thế, ngồi bên dưới bóng cây mộc lan trong khi lũ ngựa được buộc vào hàng rào gỗ. Sammy mang cho cô một cái bánh nướng nhỏ có cắm một ngọn nến sinh nhật phía trên, và dù đã bị nát bét do vụ cưỡi ngựa rượt theo, nhưng cái bánh đó là thứ dễ thương nhất mà Hazel từng thấy. Họ phân nó ra làm hai và chia sẻ với nhau.

Sammy nói về cuộc chiến. Cậu ước gì mình đủ tuổi để tham gia. Cậu hỏi Hazel rằng liệu cô có viết thư cho cậu nếu cậu trở thành một người lính đi chiến đấu ở nước ngoài không.

“Dĩ nhiên là có rồi, ngốc à,” cô nói.

Cậu cười rạng rỡ. Rồi, như bị thôi thúc bởi một ý muốn bất chợt nào đó, cậu vươn người tới trước và hôn lên má cô. “Chúc mừng sinh nhật, Hazel.”

Việc đó chẳng nhiều nhặn gì. Chỉ là một nụ hôn, thậm chí chẳng phải ở môi nữa. Nhưng Hazel cảm giác như thể mình đang bay bổng. Cô hầu như chẳng nhớ mình đã cưỡi ngựa quay lại chuồng hay chào tạm biệt Sammy như thế nào. Cậu nói, “Gặp cậu vào ngày mai nhé,” như mọi lần. Nhưng cô vĩnh viễn chẳng bao giờ gặp lại cậu nữa.

Vào thời điểm cô về đến Khu phố Pháp, trời đã nhá nhem tối. Gần về đến nhà, cảm giác ấm áp trong cô tan biến, thay thế bằng sự sợ hãi.

Hazel và mẹ cô – Nữ hoàng Marie, bà thích mọi người gọi vậy – sống trong căn hộ cũ kỹ phía trên một câu lạc bộ nhạc jazz. Bất chấp chiến tranh đã bắt đầu, ở đây khắp nơi đều có không khí hội hè. Các tân binh lang thang trên đường, cười đùa và bàn tán về những trận đánh với người Nhật. Họ đi xăm hình trong các cửa tiệm hay cầu hôn người yêu ngay trên vỉa hè. Vài người sẽ lên trên gác để mẹ Hazel đoán tương lai hay mua dăm ba loại bùa từ Marie Levesque, nữ hoàng bùa chú nổi tiến

“Cậu có nghe thấy không?” ai đó nói. “Hai mươi lăm xu cho cái bùa may mắn này đấy. Tớ mang nó đến cho một người quen biết xem, anh ta bảo vật này bằng bạc thật. Đáng giá đến hai mươi đô-la! Mụ pháp sư đó bị điên rồi!”

Chỉ trong giây lát, cuộc trò chuyện kiểu đó đã mang đến cho Nữ hoàng Marie vô số mối hàng. Lời nguyền của Hazel phát huy một cách từ từ. Lúc đầu, nó có vẻ như là một lời chúc phúc. Đá quý và vàng chỉ thỉnh thoảng mới xuất hiện, không bao giờ với số lượng lớn. Nữ hoàng Marie đã dùng nó để trang trải các hóa đơn. Họ ăn tối bằng món bít-tết mỗi tuần một lần. Hazel còn được mua cho áo đầm mới. Nhưng rồi các câu chuyện lan truyền khắp nơi. Dân chúng trong vùng bắt đầu nhận thấy chuyện vô cùng tồi tệ xảy ra với những ai mua bùa may mắn hay được thanh toán bằng châu báu của Nữ hoàng Marie. Charlie Gasceaux bị máy gặt làm mất cánh tay khi đang mang vòng tay bằng vàng. Ông Henry ở cửa hàng tạp hóa lên cơn đau tim và chết bất đắc kỳ tử sau khi Nữ hoàng Marie trả tiền mua hàng bằng một viên hồng ngọc.

Họ hàng thân thuộc thầm thì xôn xao về Hazel – việc cô có thể tìm thấy các món đồ trang sức bị nguyền rủa chỉ bằng việc đi ra phố như thế nào. Hiện tại, chỉ có những người không ở trong thành phố mới đến gặp mẹ cô, và dĩ nhiên là chẳng có nhiều người như thế. Mẹ Hazel càng lúc càng nóng tính. Bà nhìn cô với ánh mắt đầy căm phẫn.

Hazel leo lên cầu thang theo cách lặng lẽ nhất mà mình có thể, phòng trường hợp mẹ cô có khách hàng. Trong câu lạc bộ ở dưới gác, ban nhạc đang lên dây nhạc cụ. Tiệm bánh kế bên đã bắt đầu làm món bánh rán cho sáng ngày mai, thế là cả cầu thang tràn ngập mùi bơ đang tan chảy.

Khi lên đến bậc thang trên cùng, Hazel nghĩ mình nghe được hai giọng nói vang lên trong nhà. Nhưng khi cô ghé nhìn trộm vào phòng khách, mẹ cô đang ngồi một mình ở bàn cầu hồn, đôi mắt nhắm lại như thể đang ở trong trạng thái xuất thần.

Hazel từng thấy bà như vậy nhiều lần rồi, giả vờ nói chuyện với các linh hồn giúp các khách hàng – nhưng chưa bao giờ bà làm thế khi ở một mình. Nữ hoàng Marie luôn bảo Hazel rằng bùa chú của bà là “nhảm nhí và vớ vẩn”. Bà thật sự không tin vào bùa phép, thuật bói toán hay hồn ma. Bà chỉ là một nghệ sĩ, như ca sĩ hay nữ diễn viên vậy, đang biểu diễn để lấy tiền.

Nhưng Hazel thừa biết mẹ cô có tin vào vài trò phù phép nào đó. Lời nguyền của Hazel chẳng vớ vẩn đâu. Nữ hoàng Marie chỉ không muốn nghĩ đó là lỗi của bà – rằng bằng cách nào đó bà đã làm cho Hazel thành như hiện tại.

“Đều là do lão cha trời đánh thánh vật của con mà ra,” hẳn Nữ hoàng Marie sẽ cằn nhằn với tâm tình chẳng sáng sủa gì.

“Đến đây trong bộ vest màu bạc và đen kỳ lạ của ông ấy. Lần đầu tiên và duy nhất ta thực sự triệu hồi được một vị thần, và ta được gì nào? Đáp ứng mong ước của ta và làm đời ta bét nhè. Đáng lẽ ta phải là một nữ hoàng đích thực. Đó là lỗi của ông ấy khi con thành ra thế này.”

Bà sẽ không bao giờ giải thích rõ ý bà là gì, và Hazel cũng biết là không nên hỏi về cha mình. Điều đó chỉ khiến mẹ cô tức giận hơn mà thôi.

Hazel quan sát, Nữ hoàng Marie đang lầm bầm gì đó. Nét mặt bà điềm tĩnh và thoải mái. Hazel hết sức kinh ngạc vì vẻ đẹp của mẹ mình, khi bà không giận dữ và cau có. Bà có mái tóc dày màu nâu vàng giống hệt Hazel và nước da ngăm đen y như hạt café được rang chín. Bà hiện không mặc chiếc váy dài màu vàng nghệ hay đeo các chuỗi hạt bằng vàng mà bà thường dùng để gây ấn tượng với khách hàng – chỉ là một chiếc váy trắng kiểu dáng đơn giản. Thế nhưng, bà tỏa ra khí thế vương giả, đồng thời ngồi thẳng người và cao quý trong chiếc ghế mạ vàng như thể bà là một nữ hoàng thật sự vậy.

“Đến đó ngươi sẽ được an toàn,” bà lầm bầm. “Cách xa đám thần thánh đó.”

Hazel kìm lại để không phải thét lên. Giọng nói phát ra từ miệng mẹ cô không phải là của bà. Nghe như giọng một người phụ nữ lớn tuổi hơn. Giọng nói đó vừa nhẹ nhàng và êm ái, vừa uy nghi – giống như một nhà thôi miên đang ra lệnh vậy.

Nữ hoàng Marie cứng cả người. Đang xuất thần, bà nhăn mặt lại rồi nói bằng giọng bình thường của mình: “Nơi đó quá xa. Quá lạnh. Quá nguy hiểm. Ông ấy bảo tôi đừng làm thế.”

Giọng nói kia đáp lại: “Nó đã từng làm gì cho ngươi nào? Nó đã ban cho ngươi một đứa trẻ bị nguyền rủa! Nhưng chúng ta có thể tận dụng món quà của con bé. Chúng ta có thể đánh trả lại lũ thần linh. Ở phương bắc, ngươi sẽ được ta bảo vệ, tránh xa khỏi lãnh địa của đám thần thánh. Ta sẽ thu xếp để con trai ta trở thành người bảo hộ của ngươi. Cuối cùng, ngươi cũng sẽ được sống như một nữ hoàng.”

Nữ hoàng Marie cau mày. “Nhưng còn Hazel thì…”

Sau đó khuôn mặt bà vặn vẹo mỉm cười khinh bỉ. Cả hai giọng nói vang lên cùng lúc, như thể họ đã tìm thấy điểm chung: “Một đứa trẻ bị nguyền rủa.”

Hazel lẩn nhanh xuống cầu thang, mạch cô đập thình thịch.

Dưới chân cầu thang, cô đâm sầm vào một người đàn ông mặc vest đen. Ông ta giữ chặt hai vai cô bằng những ngón tay mạnh mẽ và lạnh lẽo.

“Bình tĩnh nào, bé con,” người đàn ông nói.

Hazel chú ý đến chiếc nhẫn hình đầu lâu trên ngón tay ông, kế đó là loại vải kỳ lạ của bộ vest mà ông đang mặc. Trong bóng tối, lớp vải len đen tuyền đó dường như chuyển động và sôi sùng sục, định dạng thành những khuôn mặt đau đớn tột cùng, như thể các linh hồn lạc lối đang cố thoát khỏi những nếp gấp trên quần áo của ông ta.

Ông ta mang cà vạt màu đen với những vệt sọc màu bạch kim. Áo sơ-mi có màu xám của bia mộ. Khuôn mặt – tim Hazel gần như vọt khỏi lồng ngực. Da ông ta trắng nhợt đến độ gần như trở thành màu xanh, hệt như sữa lạnh. Mái tóc nhờn nhờn đen bóng. Tuy ông ta mỉm cười khá ân cần nhưng ánh mắt thì cáu bẳn và giận dữ, đầy uy quyền và cuồng điên. Hazel đã từng trông thấy cái nhìn đó trong các bộ phim thời sự ở rạp chiếu bóng. Người đàn ông này trông giống hệt gã Adolf Hitler đáng sợ đó. Ông ta không có ria mép, nếu không thì ông ta có thể là anh em sinh đôi của Hitler – hoặc là cha gã ta.

Hazel cố thoát thân. Nhưng ngay cả khi ông ta buông cô ra rồi, dường như cô chẳng nhúc nhích gì được. Đôi mắt ông ta làm cô đông cứng tại chỗ.

“Hazel Levesque,” ông ta nói bằng giọng u sầu. “Con đã lớn thật rồi.”

Hazel bắt đầu run lẩy bẩy. Bậc thềm xi măng ở chân cầu thang rạn nứt dưới bước chân của ông ta. Từ lớp bê-tông, một viên đá lấp la lấp lánh trồi lên như thể mặt đất vừa mới phun ra một hạt dưa hấu vậy. Người đàn ông nhìn nó, chẳng hề mảy may ngạc nhiên. Ông ta cúi xuống.

“Đừng!” Hazel hét lớn. “Nó bị nguyền rủa!

Ông ta nhặt viên đá lên – một viên ngọc lục bảo tuyệt đẹp. “Đúng thế, nó bị nguyền rủa. Nhưng không phải với ta. Quá đẹp… có giá trị hơn cả tòa nhà này, ta đoán thế.” Ông ta nhét viên ngọc vào trong túi áo. “Ta xin lỗi vì số mệnh của con, con gái. Ta cho là con sẽ ghét ta lắm.”

Hazel không hiểu gì cả. Giọng người đàn ông này nghe rầu rĩ, như thể chính bản thân ông là người phải chịu trách nhiệm về cuộc đời cô. Thế rồi cô nhận ra chân tướng sự việc: một vị thần trong trang phục màu bạc và đen, người đã đáp ứng các mong ước của mẹ cô và hủy hoại cuộc sống của cô.

Mắt cô mở lớn. “Ông? Ông là…”

Ông ta khum khum tay nâng cằm cô lên. “Ta là Pluto. Cuộc đời chưa bao giờ ưu ái những đứa con của ta, nhưng gánh nặng trên vai con rất đặc biệt. Giờ con đã mười ba tuổi, chúng ta phải chuẩn bị…”

Cô đẩy tay ông ta ra.

“Ông đã làm việc này với tôi sao?” cô gặng hỏi. “Ông đã nguyền rủa tôi và mẹ tôi sao? Ông đã bỏ rơi chúng tôi ư?”

Nước mắt dâng đầy khiến mắt cô cay xè. Người đàn ông da trắng giàu có trong bộ vest bảnh bao này là cha cô sao? Mãi đến giờ, khi cô được mười ba tuổi, ông ta mới xuất hiện và nói rằng ông ta lấy làm tiếc ư?

“Ông thật độc ác!” cô hét lớn. “Ông đã hủy hoại cuộc đời chúng tôi!”

Thần Pluto nheo mắt lại. “Mẹ con đã kể với con những gì thế, Hazel? Mẹ con đã bao giờ giải thích ước muốn của bà ấy chưa? Bà ấy có kể cho con nghe lý do con được sinh ra với lời nguyền đi cùng không?”

Hazel giận đến độ không thể đáp lại, nhưng hình như thần Pluto đọc được câu trả lời trên mặt cô.

“Không…” Ông ta thở dài. “Ta đoán bà ấy sẽ không làm thế. Đổ lỗi cho ta thì dễ hơn nhiều.”

“Ý ông là gì?”

Thần Pluto lại thở dài. “Đứa trẻon được sinh ra quá sớm. Ta không thể nhìn thấy tương lai của con một cách rõ ràng, nhưng một ngày nào đó con sẽ tìm thấy nơi mà con thuộc về. Hậu duệ của Neptune sẽ xóa đi lời nguyền và mang đến cho con sự bình yên. Thế nhưng, ta e là, chuyện đó còn lâu mới xảy ra…”

Hazel không hiểu ông ta nói gì hết. Trước khi cô kịp đáp lại, thần Pluto chìa tay ra. Một cuốn tập vẽ và một hộp bút chì màu xuất hiện trong lòng bàn tay ông ta.

“Ta biết con thích vẽ và cưỡi ngựa,” ông nói. “Những thứ này là dành cho sở thích vẽ của con. Còn về ngựa thì…” Đôi mắt ông lóe sáng. “Chuyện đó, con phải tự mình xoay xở thôi. Giờ ta phải nói chuyện với mẹ con. Chúc mừng sinh nhật, Hazel!”

Ông ta quay người lại và đi thẳng lên cầu thang – chỉ có thế, như thể ông ta vừa mới loại Hazel ra khỏi danh sách “việc phải làm” và đã hoàn toàn quên mất cô. Chúc mừng sinh nhật. Đi vẽ tranh đi con. Gặp lại con sau mười ba năm nữa nhé.”

Cô quá sửng sốt, quá giận dữ, quá bối rối đến nỗi cô chỉ biết đứng đờ người ra dưới chân cầu thang. Cô muốn ném hết bút chì màu xuống đất và giẫm lên chúng. Cô muốn chạy bừa tới chỗ thần Pluto và đá ông ta. Cô muốn bỏ chạy, tìm Sammy, trộm một con ngựa, sau đó rời khỏi thị trấn và không bao giờ quay trở lại. Nhưng cô đã không thực hiện bất cứ điều nào trong số đó.

Ở trên lầu, cửa ra vào của căn hộ bật ra, và thần Pluto bước vào bên trong.

Hazel vẫn còn run rẩy từ cái chạm lạnh cóng ban nãy, nhưng cô đi rón rén lên cầu thang để xem ông ta sẽ làm gì. Ông ta sẽ nói gì với Nữ hoàng Marie đây? Ai sẽ là người đáp lại – mẹ của Hazel hay giọng nói kinh khủng kia?

Khi đến gần cánh cửa, Hazel nghe thấy tiếng cãi vã. Cô lén nhìn vào. Mẹ cô dường như đã trở lại bình thường – đang la hét và đùng đùng nổi giận, ném đồ vật trong phòng khách bay tứ tán trong khi thần Pluto cố nói chuyện lý lẽ với bà.

“Marie, việc đó thật điên rồ,” ông ta nói. “Em sẽ ở quá xa, sức mạnh của anh không thể bảo vệ được cho em.”

“Bảo vệ tôi?” Nữ hoàng Marie hét lớn. “Anh đã bảo vệ tôi từ khi nào?”

Bộ vest đen của thần Pluto l lòe, như thể các linh hồn bị mắc kẹt trong lớp vải đang khích động vậy.

“Em chẳng biết được đâu,” ông ta nói. “Anh đã giúp em sống sót đến bây giờ, em và con. Kẻ thù của anh ở khắp nơi, cả thần linh lẫn người phàm. Giờ một khi chiến tranh nổ ra thì chỉ thêm rắc rối thôi. Em phải ở lại nơi mà anh có thể…”

“Cảnh sát cho rằng tôi là một kẻ giết người!” Nữ hoàng Marie hét tướng lên. “Các khách hàng muốn treo cổ tôi cứ như tôi là một mụ phù thủy không bằng! Còn Hazel nữa – lời nguyền của con bé ngày càng ghê gớm hơn. Sự bảo vệ của anh làm chúng tôi chết dần chết mòn.”

Thần Pluto dang hai tay ra như muốn nài nỉ. “Marie, nghe này…”

“Không!” Nữ hoàng Marie quay về phía tủ để đồ lấy ra một túi du lịch bằng da rồi ném nó lên bàn. “Chúng tôi sẽ đi,” bà nói. “Anh cứ giữ lại sự bảo vệ của mình. Chúng tôi sẽ đi về phía bắc.”

“Marie, đó là một cái bẫy,” thần Pluto cảnh báo. “Cho dù là ai đang thì thầm vào tai em, cho dù bất cứ ai đang điều khiển em chống đối lại anh đi nữa…”

“Anh là người đã khiến tôi chống đối anh!” Bà cầm một cái bình sứ lên và ném về phía ông. Nó vỡ tan thành từng mảnh trên sàn, đá quý đổ ra khắp nơi – ngọc lục bảo, hồng ngọc, kim cương. Toàn bộ bộ sưu tập của Hazel.

“Hai mẹ con sẽ không thể sống sót,” thần Pluto nói. “Nếu em đi về phía bắc, cả hai người sẽ chết. Chuyện đó rành rành trước mắt anh đây này.”

“Cút đi!” bà nói.

Hazel ước thần Pluto sẽ nán lại và tranh cãi. Những lời mẹ vừa thốt ra chẳng lọt tai Hazel chút nào. Nhưng cha cô đã vung tay lên và biến mất vào trong bóng tối… như thể ông đích thực là một vị thần.

Nữ hoàng Marie nhắm nghiền mắt lại. Bà hít một hơi thật sâu. Hazel sợ rằng giọng nói kỳ lạ sẽ chiếm lấy thân xác bà lần nữa. Nhưng khi bà cất tiếng, bà lại trở lại là chính mình.

“Hazel,” bà cắn cảu, “ra khỏi cánh cửa đó đ

Run lẩy bẩy, Hazel làm theo. Cô giữ chặt tập vẽ và bút chì màu sát vào lòng.

Mẹ cô chăm chú nhìn cô cứ như cô là một nỗi thất vọng cay đắng. Một đứa trẻ bị nguyền rủa, giọng nói đó đã nói vậy.

“Thu thập đồ đi,” bà bảo. “Chúng ta sẽ rời khỏi đây.”

“Đi đâ… âu ạ?” Hazel hỏi.

“Alaska,” Nữ hoàng Marie trả lời. “Con sẽ trở nên hữu ích hơn. Chúng ta sẽ bắt đầu một cuộc sống mới.”

Cứ theo cách nói của mẹ cô thì nghe như thể họ sẽ tạo ra một “cuộc sống mới” cho một ai đó – hay thứ gì đó.

“Ý của Pluto là gì?” Hazel hỏi. “Có đúng ông ấy là cha con không? Ông ấy nói mẹ đã ước…”

“Vào phòng con ngay!” mẹ cô quát. “Xếp đồ đạc đi!”

Hazel chạy vụt đi, và đột nhiên cô bị lôi ra khỏi quá khứ.

Nico đang lắc lấy lắc để hai vai cô. “Chị lại như thế nữa rồi.”

Hazel chớp mắt. Họ vẫn đang ngồi trên mái hầm mộ của thần Pluto. Mặt trời đang lặn dần phía chân trời. Có rất nhiều kim cương bao quanh cô, và đôi mắt cô cay xè vì khóc.

“X… xin lỗi,” cô lẩm bẩm.

“Đừng thế,” Nico nói. “Chị đã ở đâu?”

“Căn hộ của mẹ chị. Ngày bọn chị rời đi!”

Nico gật đầu. Cậu hiểu quá khứ của cô hơn bất cứ người nào khác. Cậu cũng là một đứa trẻ được sinh ra vào những năm 1940. Cậu chào đời sau Hazel vài năm và bị nhốt trong một khách sạn ma thuật trong nhiều thập kỷ. Nhưng quá khứ của Hazel tệ hơn nhiều so với Nico. Cô đã gây ra quá nhiều tổn thất và bất hạ

“Chị phải học cách kiểm soát các ký ức đó,” Nico cảnh báo. “Nếu hồi tưởng như thế lại tái hiện khi chị đang ở trên chiến trường thì…”

“Chị biết,” cô nói. “Chị đang cố.”

Nico siết chặt lấy tay cô. “Mọi việc sẽ ổn thôi. Em nghĩ đây là một phản ứng phụ của… chị biết đấy, của quãng thời gian chị ở Địa ngục. Hy vọng nó sẽ chóng qua thôi.”

Hazel không chắc lắm. Sau tám tháng, việc ngất đi trong giây lát càng lúc càng tệ hơn, như thể linh hồn cô đang cố cùng một lúc sống ở hai quãng thời gian khác nhau. Trước đây, chưa từng có ai sống lại sau khi đã chết đi – ít ra thì, không phải theo cách của cô. Nico đang cố an ủi cô, nhưng cả hai người họ chẳng biết được chuyện gì sẽ xảy đến.

“Chị không thể đi lên phía bắc lần nữa,” Hazel nói. “Nico, nếu chị buộc phải quay về nơi mà việc đó xảy ra…”

“Chị sẽ ổn thôi,” cậu hứa. “Lần này chị còn có bạn bè cơ mà. Percy Jackson – anh ấy đóng một vai trò quan trọng trong chuyện này. Chị có thể cảm nhận được điều đó, đúng không? Anh ấy là người tốt và anh ấy đứng về phía chị.”

Hazel nhớ lại những gì thần Pluto đã nói với cô ngày đó: Hậu duệ của Neptune sẽ xóa đi lời nguyền và mang đến cho con sự bình yên.

Liệu Percy có phải là người đó không? Biết đâu đấy, nhưng Hazel có cảm giác rằng việc đó chẳng dễ dàng gì. Cô không chắc liệu Percy có sống sót nổi với thứ đang chờ đợi ở phương bắc.

“Anh ấy đến từ đâu thế?” cô hỏi. “Sao mấy con ma lại gọi anh ấy là người Hy Lạp?”

Trước khi Nico kịp trả lời, tiếng tù và vang lên bên kia sông. Các quân đoàn đang tập trung cho buổi điểm danh tối.

“Tốt hơn hết chúng ta nên xuống đó,” Nico nói. “Em có linh cảm rằng các trò đánh trận tối nay sẽ thú vị lắm đây.”