Chương 61: Trí thoái quần ma

Thình lình, cánh cửa lớn của Lãnh Hương Các mở toang ngay ra, bên trong có tiếng chân người bước từ từ dần ra, Liễu Mi lớn tiếng hỏi:

– Thầy trò Độc Ma! Các ngươi thử nhìn xem ai đã đến kia!

Toàn đám môn đệ của Phi Các ma cung Vô ảnh phong đều chăm chú nhìn lại phía cửa, chỉ thấy Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác đã xuất hiện ngay nơi – cửa tiền, mắt trợn trừng, bên cạnh con thần ưng Đại Hắc ngồi phịch xuống đất, có Thanh điệp Châu Sách và Hồng điệp Châu Chu đứng ngay hai bên. Đinh Hủy, Đinh Phá hồn bay lạc vía, quay đầu lại sau nhìn, chỉ thấy sư tôn mình Độc Ma ngồi trên liễn xa lớn tiếng hạ lệnh:

– Tất cả mau lui nhanh!

Toàn đám môn đệ của Vô ảnh Phong, lúc này không khác gì ngọn sóng thủy triều, rầm rầm rộ rộ, kẻ nào cũng sợ chậm chân mang họa vào thân, ai nấy rút chạy toán loạn rời khỏi ngay Mặc Phụ Sơn.

Hầu Hạo và Liễu Mi đằng này vui mừng cất tiếng cười ha hả, chị em Châu Thị tính mở cuộc truy cản, nhưng bị Liễu Mi cản ngay lại. Mắt thấy đám thủ hạ của Vô ảnh Phong bỏ chạy trối chết, không tên nào còn dám ngoảnh cổ lại nhìn! Thầy trò Độc Ma lúc này càng chứng tỏ rõ lòng ích kỷ của mình, vì họ đã rút lui trước tiên hơn ai hết, mặc cho đám môn đệ hốt hoảng chạy rối rít phía sau, nhiều tiếng thê thảm đã vang lên vì cuộc chen lấn bị ngã xuống vực sâu, khiến cho ai nấy càng kinh hồn bạt vía!

Độc chỉ Thôi Bác Đoạn Trường Nhân, oai danh khét tiếng trong thiên hạ, quả là bậc cao thủ cử thế vô song, giang hồ trong thiên hạ đều khâm phục tột bực!

Đối với những lời báo cáo của Đinh Hãm là vị kỳ nhân Độc chỉ Thôi Bác đã chết tại Tả Diện Phong của Mặc Phụ Sơn, dưới lớp băng tuyết khổng lồ đã chôn sống vị cái thế cao thủ trong vực thẳm, thầy trò Độc Ma vốn đâu tin ngay, đều cho rằng công lực của Thôi Bác vốn là Đệ nhất trong vòm trời võ lâm, làm sao có thể chết dễ dàng như vậy được. Nay dốc hết gần toàn lực của sào huyệt Vô ảnh Phong ra đi, trong lòng cũng đã hơi ái ngại, nhưng vì số của báu vĩ đại trên Mặc Phụ Sơn, đã xui giục lòng tham của Độc Ma, nên rút cục hắn vẫn mở cuộc đại mạo hiểm tiến phạm Lãnh Hương Các của Mặc Phụ Sơn, không ngờ ngay trong lúc thắng thế tuyệt độ và sắp thành công ấy, chị em Châu Thị được ngay ám hiệu của Liễu Mi, nhanh nhẹ từ trong mật thất đẩy ngay ba bức tượng: một Thôi Bác và thần ưng Đại Hắc, sau khi từ từ xuất hiện ra, lẽ đương nhiên đám Độc Ma đâu biết là giả, chỉ thấy Độc chỉ Thôi Bác có vẻ giận dữ, con Đại Hắc lại như đang chực bay lên, thế là toàn đám người của Ma Cung, kể từ thầy trò Độc Ma trở xuống, đều sợ đến nỗi bay hồn thất đảm, lo nhanh chân đào tẩu ngay.

Trong trận đòn tinh thần chiến này, phía Độc Ma đã bị tổn thất mất một phần ba lực lượng, những kẻ bị chết tại Lãnh Hương Điện, phần đông đều bị chen ngã xuống vực thẳm cheo leo của sườn núi hay các khe hiểm trở, những kẻ bị thương nặng tự biết hết hy vọng, chúng đành tự sát hết, khắp trên ngọn Lãnh Hương Điện, nhan nhản các tử thi quái gở của đệ tử Độc Ma, không bị tàn khuyết tứ chi thì cũng bị bấy bá về ngũ quan, không cũng lở loét cùng mình mẩy! Những xác chết ấy quả đã đến mức độ rùng rợn trên rùng rợn! Rõ đúng là tên của người, bóng của cây, oai danh hiển hách của Độc chỉ Thôi Bác đã ngang nhiên phải khiến cho đám cường địch thối lui chạy trối chết như vậy Hầu Hạo và Liễu Mi lo đi quan sát hết một lượt toàn khu của Lãnh Hương Điện, thấy không còn tên môn đệ nào của Độc Ma sống sót, trong lòng mới vững tâm.

Mọi người lo mưu tính cho kế hoạch sau này, theo Liễu Mi suy tính, chuyến này Độc Ma bị thảm hại như thế, tất nhiên nổi giận trách mắng Đinh Hãm, không chừng Đinh Hãm còn bị trừng phạt về tội khi sư (nói láo với thầy) là khác, cũng có thể chúng phái người lại Lãnh Hương Điện để điều tra hư thực, nay chúng mình đều nằm trong tình trạng giấy gói ra lửa ấy, nếu bí mật bị lộ ra, hậu quả thật khó tưởng tượng, nay chỉ còn độc mỗi nước ba mươi sáu chước chạy là thượng chước!

Tuy chiếc áo báu Chân châu lũ kim sam và mười bảy báu vật có thể đem theo, nhưng còn số của kho tàng thì tính sao? Chẳng lẽ để lọt hết về tay bọn Độc Ma sao? Như thế khác nào hổ thêm cánh rồng thêm vi!

Hầu Hạo không chịu rời bỏ, chàng nhất quyết ở lại tử thủ. Nhưng hiện nay đám Ma Cung tuy bị tạm lừa gạt; một thời gian sau, thế nào chúng cũng phát giác sự thật, và khi đó chúng sẽ phái cao thủ đến dò thám, thế là mọi người lại bàn kế và gài bẫy để bắt địch.

Liễu Mi tuy biết tình trạng nguy hiểm, phần lại nhớ chàng Thượng Quan Linh, muốn rời khỏi đây ngay, nhưng nay thấy tình hình trên Lãnh Hương Điện quá nguy cấp khẩn trương, đành phải cố nán lại để tìm thử một kế vạn toàn khác, thế là cuộc bố trí lập tức được thi hành trong Lãnh Hương Các ngay.

Một ngày, hai ngày… năm ngày… và mười ngày trôi qua, mọi người chờ đợi, nhưng với sự lo ngại và hoang mang. Sau cùng, ngày thứ mười một, cao thủ của phía Phi Các ma cung quả nhiên đã nhởn nhơ đến như một bóng ma!

Trong Lãnh Hương Các, mọi việc đều đã chuẩn bị sẵn sàng, ai lo vị trí nấy. Bề ngoài trông lẳng lặng, nhưng bề trong đã căng thẳng cực độ, tất cả cảnh vật đang im tịnh để đón chờ một cuộc biến động; thân pháp của kẻ đến nhẹ nhàng như một làn sương, đã lẻn và mò nhanh vào trong Lãnh Hương Các. Chỉ thấy bóng đen đang đi theo lối Nga hành lộ phục (lối đi nhẹ êm như ngỗng, lối nấp khéo như loài cò bạch lộ). Rất thận trọng, chỉ thấy trong ngôi tiểu các đây, Liễu Mi, Hầu Hạo, Thanh điệp Châu Sách, Hồng điệp Châu Chu, mỗi người chiếm một nơi, đều mặc nguyên quần áo nằm trên tấm da thú ngủ.

Trong các, chỉ một ngọn đèn lẻ loi chập chờn, cảnh sắc vô cùng im lặng, Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác và thần ưng Đại Hắc quả không có đây, trước khi đến đây, bóng đen hình như đã dò thăm hết toàn khu của Lãnh Hương Điện, nếu trong Lãnh Hương Các này vẫn không thấy tung tích của Độc chỉ Thôi Bác bóng đen có thể mạnh dạn ra tay thi hành nhiệm vụ.

Nhưng bóng đen xảo quyệt đã sực nghĩ: đáng lẽ trong đây phải có thêm một cô gái nữa mới đúng, đó là Đông Phương Đình, em gái của Hầu Hạo, nhưng tại sao trong tiểu các này lại không có nàng, quả kỳ lạ thật? Bóng đen chăm chú khắp một lượt, nhìn hết hai bên vách tả hữu, biết bên trên có cửa ngầm. Nhưng làm sao biết được bên trong cửa có gì. Một tên bạo gan quỉ quyệt như bóng đen, hắn cũng không dám phát động hành vi mạo hiểm của mình trong lúc này!

Bóng đen ngần ngại và… vẫn ngần ngại, hắn đã cố ý gây nên tiếng động, hy vọng có thể đánh tỉnh bốn kẻ đang ngủ say, và nhường quyền phát động cho họ trước. Nhưng bốn người vẫn ngủ say, hình như họ không hề hay biết gì sự kiện đang tiến diễn âm thầm trong tiểu các. Không khí vẫn im lặng! Sau cùng, bóng đen đã không thể nào kéo dài tình trạng này như thế, kẻ Dạ hành khách của Vô ảnh Phong đã bắt đầu suy nghĩ đến: mình nên ra tay bằng cách nào đây? Bốn người chia ra bốn chỗ ngủ, đối với chị em Châu Thị, đương nhiên bóng đen chẳng coi ra gì, nhưng riêng Hầu Hạo và Liễu Mi, quả là mối e ngại cho Dạ hành khách của Vô ảnh Phong, chỉ sợ đả thảo kinh xà (đụng cỏ rắn hoảng hốt).

Nếu cả hai tỉnh dậy và hợp sức công hãm, e khó mà chiếm được ưu thế, nay thấy Hầu Hạo và Liễu Mi không những ngủ say, mà hai người nằm cách nhau cũng khá xa, nếu muốn ra tay cùng một lúc để chế ngự hai người, không phải là chuyện dễ thi hành gì trong nháy mắt được. Sau hồi chờ đợi và suy nghĩ, vị Dạ hành khách của Vô ảnh Phong bèn quyết định ngay kế sách mạo hiểm để tìm thành công trong may mắn.

Bóng đen nhặt ngay một hòn đá nhỏ và thình lình phát động thế, chỉ thấy toàn thân Dạ hành khách vọt nhanh ra như một làn khói đen uyển chuyển, nhằm ngay hướng của Hầu Hạo lao nhanh tới, đồng thời cũng trong một lúc ấy, viên đá bay tung về phía ngực của Liễu Mi đang ngủ? Sự việc chỉ cần xảy ra trong nhoáng mắt, tay phải của bóng đen đã nhẹ nhàng vuốt phớt qua khuôn mặt của Hầu Hạo…

Bỗng một tiếng ho khan vang lên trong Lãnh Hương Các, cánh cửa Tả môn bên trái đã thình lình mở ra, Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác đã xuất hiện…

Dẫu cho Dạ hành khách của Ma Cung là kẻ võ công siêu tuyệt đến đâu đi nữa, lúc này không khỏi ngẩn người chột dạ mất tinh thần ngay trong thời gian nhấp nháy chớp nhoáng ấy, song chưởng của Hầu Hạo từ dưới đất vọt ngay ra chụp trúng mạch môn cánh tay phải của Dạ hành khách Vô ảnh Phong! Bóng đen hoảng hồn, đang vùng vẫy và tính dùng chưởng bên trái bửa ngang ra về phía Hầu Hạo, bỗng Dạ hành khách cảm thấy hông bị tê liệt, toàn thân bị đổ ngay xuống. Thì ra Liễu Mi đã dùng ngay viên đá của bóng đen để tặng hồi cố chủ, với kết quả là điểm đúng ngay huyệt tê liệt của Dạ hành khách của Ma Cung!

Hầu Hạo, Liễu Mi, Châu Sách, Châu Chu, đều bổ vây hết lại, Liễu Mi xé ngay tấm khăn che mặt của Dạ hành khách, mọi người nhận ngay ra tên này là nhị đệ tử của Độc Ma tức Nhị Hung Đinh Hãm. Lúc này chỉ thấy hắn hôn mê bất tỉnh vì bị điểm trúng trọng huyệt! Cuộc gài bẫy của mọi người quả nhiên đã thành công, ai nấy cảm thấy tâm thần khoan thai nhẹ nhõm hẳn, chỉ thấy sau bức tượng của Độc chỉ Thôi Bác Đông Phương Đình từ sau bước ra, Liễu Mi cười rằng:

– Tiếng ho khan của em Đình quả là giống hệt tiếng ho của Thôi tiền bối hồi còn sống, cả đến tên quỉ quyệt chết bằm như Đinh Hãm đây cũng phải mắc mưu…

Châu Thị Song Điệp vốn là người ghét cay ghét đắng Đinh Hãm, Hồng điệp Châu Chu rút kiếm tính giết ngay Đinh Hãm để trả thù cho chị Bạch điệp Châu Ni, Liễu Mi vội ngăn lại. Nàng cho rằng, lúc này không thể nào giết Đinh Hãm được, nay phải dùng hắn làm con tin, phía Ma Cung không thấy Đinh Hãm về, chỉ nội vài hôm nữa, thế nào cũng phái người đến dò thăm, khi chúng biết Đinh Hãm bị bắt sống, thế nào cũng tin rằng Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác còn sống trên thế gian, may ra chúng không dám liều mạng bén mảng đến Mặc Phụ Sơn, và trên Lãnh Hương Điện này sẽ tạm thời được yên tĩnh trong một thời gian. Kế hoãn binh cầm chân địch này có thể khiến cho Liễu Mi xuống núi để lo chuẩn bị mọi việc, một mặt nàng lo tìm kiếm Thượng Quan Linh, mặt khác nàng lo tìm cách báo tin cho cha già Thanh Thông bang chủ Liễu Khải, và người trong.giới hiệp nghĩa cùng Nam bút Gia Cát Dật, yêu cầu họ mau mau lại cứu viện cho Mạc Phù Sơn và tăng cường thực lực cho Lãnh Hương Điện, rồi sau này sẽ liệu cơ ứng biến.

Anh em Hầu Hạo và chị em Châu Thị cũng cảm thấy tình trạng này chỉ duy còn con đường ấy mà thôi, tuy biết sau khi Liễu Mi ra đi, Lãnh Hương Các này sẽ mất hẳn thăng bằng về tinh thần cũng như thực lực, nhưng vì đại cuộc trước mắt, không thể nào không thi hành biện pháp như thế!

Liễu Mi đơn thân rời khỏi Mặc Phụ Sơn, anh em Hầu Hạo, chị em Song Điệp, lo ở lại trông giữ kho tàng và con tin Đinh Hãm, ai nấy canh cánh trông chờ sự cứu viện.

Nay, bút giả xin quay lại thuật về chuyện trong Thanh Thông Cốc.

Trong ngôi huyệt mộ vĩ đại như lăng tẩm của bực vua chúa của Thanh Thông phu nhân ấy, chỉ có một kẻ sống sót duy nhất trong ấy mà thôi, đó là Phích lịch nhị lang Sở Canh – một người sống bị nhốt chung với hai xác chết tại một mộ huyệt rờn rợn đầy hơi ma tử khí âm u này. Ác cái là Sở Canh phải chứng kiến cảnh chết khủng hoảng trong tinh thần trước khi bị chết thực sự. Chàng đã cố gắng tìm đủ cách để vận khí tự giải huyệt, nhưng lần nào cũng bị thất vọng. Thần trí chàng lúc này tỉnh táo vô cùng duy chỉ có nỗi toàn thân không làm sao nhích động được, mắt thao láo nhìn những ánh sáng chập chờn của các ngọn đèn dầu âm u rờn rợn, Sở Canh cũng cảm thấy mình đang đói bụng, vốn là tay ăn mạnh, nay biết rõ trong huyệt mộ đây không có lương thực gì để cho người chết. Chỉ tại mình sống, nên mới càng cảm thấy mình đói kinh khủng. Chàng nhẩm tính thời gian từ lúc trời chưa sáng bị khiêng vào đây, giờ chắc cũng đã quá trưa rồi, càng thất vọng, Sở Canh càng mệt nhọc, chẳng mấy chốc Sở Canh đành chịu số phận hôn mê bất tỉnh.

Cũng chẳng biết thời gian trôi đi trong bao lâu, nhưng Sở Canh đã từ từ hồi tỉnh lại. Bổng chàng phát hiện một việc lạ, toàn thân đã ngẫu nhiên có thể cử động, chân tay cử động dễ dàng, Sở Canh mừng quá, reo to lên một tiếng nhảy bổng người lên. Chàng nghĩ, có lẽ nàng Liễu Văn khi điểm huyệt mình đã nương tay, nên cách một thời gian sau, huyệt đạo tự giải, và chàng đã khôi phục tự do cử động. Bản tính của chàng Sở Canh vốn là người chất phác ngay thẳng, sau khi được cử động tự do, ý niệm thứ nhất hiện trong bộ óc chàng là đào tẩu ngay. Sở Canh bắt đầu tìm kiếm lối thoát, đương nhiên là chỗ nào cũng kín mít, tấm cửa đá lớn đã đậy kín, Sở Canh đẩy thử và dùng quả đấm thôi sơn của mình đấm ịch ịch và gào tướng lên, mong sao người bên ngoài có thể nghe mà mở cửa cho. Nhưng tất cả những động tác gì chàng đang làm đều vô hiệu, không những cánh cửa đá của huyệt mộ quá dày và nặng, đồng thời ngôi huyệt mộ đây lại được xây cất vào một vị trí hoang vắng âm u của Thanh Thông Cốc, những kẻ lo canh gác nghĩa địa, ít khi bén mảng tới đây làm gì, nhất là họ lại châm đầy dầu trước khi chôn sống mình trong huyệt mộ này. Trong thời gian ngắn này, làm gì có ai lại.

Một nơi hoang vắng buồn tẻ ở bãi tha ma của Thanh Thông Cốc như thế, nào có người dẫn xác đến làm gì, mặc cho Sở Canh gào khản cổ, đấm sưng tay, cũng chẳng gây được thành tích ích lợi gì. Phích lịch nhị lang Sở Canh bắt đầu ngừng tay, chàng đã bắt đầu cảm thấy khủng hoảng trong tinh thần, và chàng cũng cảm nhận rõ: đào tẩu không còn hy vọng gì với chàng nữa. Lúc này chàng đang cảm thấy đói và khát đang hành hạ thể xác mình, tìm khắp ngôi huyệt mộ, chẳng có một thứ gì lót dạ tạm, bỗng mắt chàng sáng lên, hai đĩa hoa quả tươi rói cúng trước linh cữu của Thanh Thông phu nhân, chàng bốc lẹ và đưa ngay lên miệng đớp nhưng chàng phải nhổ phì ngay ra, thì ra những trái quả tươi ấy đều được chế làm bằng sáp cả. Sở Canh bực tức rủa ngầm: Thanh Thông Bang lớn như thế mà cũng keo kiệt, đến đồ cúng vái người chết mà cũng bằng thứ giả. Vừa đói vừa khát Sở Canh không biết tính sao ước lượng thời gian bị nhốt trong này cũng hơn một ngày có dư. Một ngôi huyệt mộ không sao thấy ánh mặt trời, càng không phân rõ ngày hay đêm, không một kẽ hở, Sở Canh lại hôn mê dần trong cơn đói khát khủng hoảng.

Sở Canh đã mất hết nhuệ khí đi tìm thức ăn cũng như đi tìm lối thoát, bởi vì trong bộ óc đơn giản của chàng cũng biết rằng: Những hành động đó chỉ tổ khiến cho chàng mệt thêm xác và hao tinh thần, sẽ đưa nhanh chàng đến chỗ tử vong. Dần dà, sự im lặng và bơ phờ lại đưa hồn chàng vào trong làn mộng. Cũng chẳng ai rõ là thời gian bao lâu đã trôi qua, Sở Canh lại tỉnh giấc mộng của mình, vì có gì là lạ…

Chàng mở mắt lắng tai nghe, bất giác rợn tóc gáy và nổi da gà, chàng cảm thấy như từng lỗ chân lông của mình co rúm lại! Eo ôi! Âm thanh ấy được phát ra tự trong hòm đen xì của Thượng Quan Linh, tiếng ấy chính là tiếng cào cấu của người nằm trong quan tài, những tiếng sồn sột càng lúc càng hung dữ! Tam hồn thất phách (ba hồn bảy vía) của Sở Canh gần như muốn thoát luôn khỏi xác, chàng chỉ còn nước ngầm kêu than xui xẻo khổ cực đến thế thì thôi! Đã sắp bị chết đói chết khát đến nơi mà còn chưa yên thân, nay lại còn khéo éo le gây thêm cảnh oan hồn của Thượng Quan công tử hiển linh, có khổ thân không trời…

Sở Canh nghĩ vậy hoảng hồn vội nấp ngay vào một xó tối, không dám lộ diện, chỉ nghe bùng một tiếng vang lớn, nắp hòm đen ngòm của Thượng Quan Linh đã bị bật thủng ngay một lỗ tròn, và một bàn tay màu sắc cổ quái thò ngay ra, trông rõ ràng và rùng rợn kinh người. Sở Canh lúc này mồ hôi lạnh toát cùng mình, không dám thở mạnh, chàng đã đưa tay bịt mặt không dám xem tiếp cảnh hãi hùng, nhưng ở đời, càng những chuyện gì đáng sợ, người ta lại càng háo hức muốn xem, và lẽ đương nhiên chàng Sở Canh đây cũng không thoát khỏi tính háo kỳ tự nhiên của mình, từ những kẽ tay của hai bàn tay đang che mặt ấy, Sở Canh vẫn chăm chú theo dõi tình hình đang diễn tiến tại chiếc hòm đen ngòm. Bỗng lại một tiếng Bùng vang lên dữ dội, chiếc quan tài đen thui của Thượng Quan Linh vỡ tung ra làm nhiều mảnh vụn nát, cũng trong tiếng ván hòm rớt xuống đất tua tủa ấy, chỉ thấy Thượng Quan Linh nghiễm nhiên từ trong quan tài ngồi nhổm dậy với sắc phục thọ y thọ mão của mình (người chết khi liệm vào hòm, được mặc thứ áo mũ đặc biệt).

Sở Canh suýt bất tiếng kêu rú lên, chàng hết hồn co rút cổ lại. Chỉ thấy Thượng Quan Linh chệnh choạng ngồi dậy, lải nhải nói một mình rằng:

– Ở đây là đâu? Đây là đâu kìa?

Bỗng lại nghe một tiếng Bùng dữ dội vang lên, Sở Canh kinh hãi nhìn, thì ra Thượng Quan Linh vung quyền đấm vào một chiếc mặt bàn bằng đá, mặt bàn đá ấy lập tức thủng ngay một lỗ to tướng. Hai tay Thượng Quan Linh cử ngay chiếc bàn bằng đá ấy lên, hai tay bóp vo một hồi, chiếc bàn đá bị vụn ra tan tành từng mảnh nhỏ rớt lộp độp xuống đất. Nơi xó góc tối kia, Sở Canh càng hoảng hồn kinh hải, trống ngực đánh thình thịnh, thầm nghĩ sao Thượng Quan Linh sau khi biến thành ma còn hung dữ lợi hại đến thế kia? Nhưng thấy Thượng Quan Linh đang đưa hai tay dụi mắt, trông cử chỉ có vẻ cuống quít lắm! Hai chân xiêu vẹo bước thấp bước cao, rõ ràng chàng Thượng Quan Linh đang bị thong manh (mắt tuy mở nhưng không trông thấy). Sở Canh đương nhiên không thể nào tin được một người đã uống độc dược mãnh liệt của đại tiểu thư Liễu Văn, và nhất là đã chết đi hơn hai ngày mà nay lại còn sống lại được như thế, càng nghĩ, Sở Canh lại càng run lên cầm cập co mình đứng im một chỗ, không dám nhúc nhích.

Chỉ thấy Thượng Quan Linh đi loạng choạng đúng như một kẻ đui mù, hai tay đưa lên dụi mắt, hễ gặp vật gì vướng chân vướng tay là chàng dồn hết cơn tức của mình hất đá lung tung, chỉ trong nháy mắt, tất cả những vật dụng lọt vào tay Thượng Quan Linh, không có một vật dụng nào thoát khỏi cảnh vụn nát tan tành trong sức mạnh kinh người của chàng, lúc này Thượng Quan Linh không khác nào như một Quỉ nhập tràng hung dữ, chàng ngang nhiên tung hoành phá phách dọc ngang khắp ngôi huyệt mộ, chỉ thấy chàng đụng tới đâu, mọi vật thi nhau đổ vỡ đến đó. Sở Canh hồn bay phách lạc, lúc này chàng mới nhắm mắt không dám ngó cảnh tượng trước mắt! Bỗng như nghe tiếng thở mạnh của Thượng Quan Linh, Sở Canh lại hé mắt ra nhìn, bất giác chàng lại nổi lên một tia hy vọng trong cảnh quẫn bách trước mắt, thì ra chàng Thượng Quan Linh mà Sở Canh đã cho rằng Quỉ nhập tràng kinh khủng ấy mò trúng ngay hai vòng khoen cửa vĩ đại của ngôi huyệt mộ và đang cố ra sức kéo! Sở Canh khấn vái cầu trời rối rít trong bụng mình: Xin thẩn linh giúp tên Quỉ nhập tràng này!

Bỗng cheng một tiếng, hình như tiếng ổ khóa bên ngoài đã bị bứt. Phích lịch nhị lang Sở Canh vừa kinh hoảng vừa mừng rỡ, con người chất phác ngay thẳng như Sở Canh cũng chẳng thèm tính lo thêm chuyện gì, nghĩa là chàng chỉ đợi cửa phá ra là co giò chạy nhanh ngay khỏi nơi kinh hãi tột đỉnh này? Quả nhiên đã ứng nghiệm với lời khấn vái của Sở Canh, thần lực tuyệt luân của Quỉ nhập tràng đui mắt Thượng Quan Linh, lúc này đã từ từ kéo ngay cánh cửa huyệt mộ nặng nề sang một phía! Ánh nắng đã chiếu vào, Sở Canh bất kể mắt mình thình lình bị chói hoa về ánh nắng, cố dồn ngay sức nhảy tung mình lên khỏi cửa huyệt, co giò chạy chối mạng. Thượng Quan Linh tuy bị thong manh, mắt không thấy, nhưng thính giác lại nhạy cảm vô cùng, nghe tiếng động cũng tung mình lên đuổi theo sau, đồng thời lớn tiếng hỏi rằng:

– Ai đang chạy đằng trước? Ai đó?…

– Ôi! Mẹ ơi!…

Sở Canh chỉ buột miệng kêu nhỏ đến người mà chàng cho rằng đã thương yêu mến mình nhất đời! Chàng cầu khấn vong linh của mẹ phù hộ sao cho chàng chạy thoát khỏi cảnh rùng rợn Quỉ nhập tràng đang đuổi! Lúc này, hồn vía Sở Canh đã gần như muốn bay khỏi xác, đâu dám quay đầu lại, chàng đã đinh ninh và chắc chắn là Thượng Quan Linh đã biến thành loại Quỉ nhập tràng thần trùng (thứ quỉ hung dữ nhất). Vô phúc chuyến này bị thộp cổ, ít nào chả bị tan xác vụn xương như những đồ vật mà Thượng Quan Linh đã phá phách trong ngôi huyệt mộ nhà họ Liễu; càng nghĩ, Sở Canh càng chạy thục mạng bất kể là hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, hễ thấy đường là chạy! May được trời phú thần lực bất phàm, tuy nhốt sống trong huyệt mộ mà chịu đói khát hai ngày hai đêm, nhưng thể xác mạnh như trâu vẫn có thể cố gượng nổi, nhất là trong lúc cầu sao giữ được toàn mạng sống, chàng đang cố dồn hết toàn sức của mình ra để lo thoát thân.

Mặc dầu chàng đang chạy, nhưng vẫn nghe tiếng đuổi huỳnh huỵch phía sau, và dần dà đã đuổi sát nút. Sở Canh bỗng chợt nghĩ ra, hễ loại Quỉ nhập tràng thì không giỏi về lối chạy vòng quanh, nghĩ vậy, Sở Canh bèn cố ý chạy xiên chạy xéo, chàng muốn bỏ xa Thượng Quan Linh về lối chạy quanh co này. Nhưng lạ thay vị Quỉ nhập tràng Thượng Quan Linh này tuy đôi mắt bị thong manh nhưng với thính giác bén nhọn linh động của chàng vẫn có thể theo bén gót Sở Canh, hễ mỗi lần Sở Canh quanh nhanh đâu, Thượng Quan Linh bén gót ngay đó, và lắm lúc còn nhanh nhẹ hơn cả Sở Canh là khác!

Hình như cước lực và khinh công của Thượng Quan Linh có mòi còn hơn hẳn Sở Canh. Đáng lý Thượng Quan Linh đã bắt kịp Sở Canh từ lâu, nhưng vì chàng bị thong manh, không thấy những chướng ngại vật dưới đất, luôn bị vấp ngã, khi đứng dậy được, Sở Canh lại cách xa đi một quãng. Dần dà Sở Canh cũng biết rõ ngay đến khuyết điểm của Quỉ nhập tràng, chàng nhằm ngay những đường đầy chướng ngại vật cây cối chạy, vượt rãnh, vượt hào nhỏ chạy thẳng ra khỏi phạm vi của Thanh Thông Hội, đằng sau Thượng Quan Linh té lên té xuống đuổi không ngớt!

Mấy lần, Thượng Quan Linh ngã lăn lông lốc xuống các rãnh suối, Sở Canh yên trí là Quỉ nhập tràng chắc phải nằm luôn không sao dậy nổi, chàng quay đầu nhìn lại, ôi chao ôi! Quỉ nhập tràng vẫn lồm cồm bò ngay dậy và rượt theo chí mạng. Sở Canh lại hoảng vía hú hồn cắm đầu cắm cổ chạy! Nếu là người thường, những cái té ngã như trời giáng như thế, không chết cũng bị thương nặng, nhưng đằng này, Thượng Quan Linh vẫn ung dung như không hề có chuyện gì xảy ra, như thế càng chứng tỏ rõ Thượng Quan Linh là một cỗ xác Quỉ nhập tràng chính cống!

Sở Canh sau khi suy đoán rõ lý do như vậy, chàng càng co giò chạy bán sống bán chết! Thế là kẻ trước người sau, rượt đuổi tưng bừng, Thượng Quan Linh bị Sở Canh dắt chạy thẳng ra ngoài Thanh Thông Cốc. Với chức vụ tuần tra hương chủ của Sở Canh, lẽ đương nhiên là chàng thuộc làu hết các đường lối trong toàn khu của Thanh Thông Cốc. Trong cuộc chạy đuổi này, riêng đối Sở Canh và Thượng Quan Linh thì đã trở thành những vấn đề hiển nhiên của nó, nghĩa là không có gì lạ! Nhưng vô tình đã làm náo động hết các thủ hạ canh gác suốt dọc đường mà hai người đã chạy băng ngang, và đám thủ hạ đã cấp bách phi báo cho Thanh Thông lão bang chủ hay tin và xin lệnh định đoạt!

Sau khi được tin báo, Thanh Thông lão bang chủ Liễu Khải cấp tốc ra lệnh cho thủ hạ khắp trong Thanh Thông Cốc, thế nào cũng phải bắt sống cho được hai người về, cấm mọi người chểnh mảng trong nhiệm vụ. Các ám hiệu thi nhau vang lên báo động. Sở Canh biết ngay đó là những hiệu lệnh truy nã gắt gao, trong lòng cuống lên, cặp giò càng chạy như bay không ngừng. Vừa chạy chàng vừa để ý địa hình, thấy đã ra khỏi cửa cốc, bỗng chàng sực nghĩ ra một kế.

Gần nơi Thanh Thông Cốc, có một thung lũng khá sâu, bên dưới thung lũng là một ngọn suối nước chảy siết và mạnh, Sở Canh lúc này đã quá quýnh, bị dồn vào thế bí, chàng chỉ còn nước chạy thẳng lên đường tuyệt của thung lũng mà chàng vừa sực nhớ ra, khi đến ngay vực bờ của thung lũng sâu thăm thẳm ấy, Sở Canh hồi hộp nhoáng nhanh thân nép ngay về một bên nín thở, quả nhiên Quỉ nhập tràng Thượng Quan Linh cũng vừa đuổi sát đến. Sở Canh thình lình phát ra một chưởng đánh ngay vào phía sau lưng Quỉ nhập tràng, chỉ nghe tiếng Thượng Quan Linh hét lên một tiếng thê thảm, toàn thân bị lăn nhào ngay xuống vực sâu thăm thẳm của thung lũng, và sau khi chìm nổi nhấp nhô dưới ngọn nước trắng xóa, toàn thân to bằng hột đậu của Thượng Quan Linh đã bị nước suối cuốn lôi luôn?…

Sở Canh lúc này mới hoàn hồn tỉnh vía của mình lại chàng lảm nhảm khấn vái rằng:

– Thượng Quan huynh ơi! Thượng Quan huynh! Không phải tiểu đệ nhẫn tâm tàn ác thế đâu, thực ra huynh đã biến hóa thành Quỉ nhập tràng khủng khiếp quá! Tiểu đệ không còn cách nào hơn là chấm dứt bằng cách ngoài ý muốn này, mong vong linh của huynh cố chứng giám cho nỗi lòng thành của tiểu đệ… càng mong huynh tha thứ cho…

Lúc này đám thủ hạ của Thanh Thông đã đuổi đến bờ vực của thung lũng, nhưng Sở Canh đã kịp thời trốn vào một nơi bụi kín, chỉ thấy đám người cúi nhìn xuống vực thẳm của thung lũng, hình như họ đều cho rằng cả hai đã ngã hết xuống vực thầm và trôi theo dòng nước xiết cuồn cuộn ấy, thế là toàn đám lo về báo lệnh cho Liễu bang chủ. Sở Canh chờ cho mọi người kéo nhau đi hết, mới cố gắng mò ra khỏi phạm vi của Thanh Thông Cốc, sau khi ăn uống lấy sức, vội hấp tấp khởi trình đi ngay Mặc Phụ Sơn để gặp Nhị tiểu thư Liễu Mi.

Bút giả xin quay về Thượng Quan Linh mà Sở Canh vẫn nghĩ là Quỉ nhập tràng và đã đang tay phạt ra một chưởng quất bay ngay Thượng Quan Linh xuống dưới vực thẳm của một thung lũng.

Sau khi bị sóng nước cuồn cuộn kéo trôi đi liên miên và được tấp vào một bờ, Thượng Quan Linh đã bất tỉnh ngay sau khi ngã từ trên cao xuống. Khi tấp vào bờ, xui xẻo sao, đầu lại va vào một tảng đá, lại càng bất tỉnh nhân sự luôn. Cũng chẳng biết bao được bao lâu nữa, bỗng có hai người đang bước lại phía bờ suối Đó là một đôi nam nữ, người đàn ông thân hình cao lớn, đầu đội tăng mão, thân mặc áo cà sa, và đều thêu dây kim tuyến sáng óng ánh, tay xách ngược đầu một cây thiền trượng, một khuôn mặt dài như mặt ngựa và đen láng, trông vừa ác vừa tợn, còn người đàn bà thì lại trái ngược hẳn, toàn thân một màu đỏ, từ mặt mũi đến thân hình đều tuyệt đẹp, nhưng đôi mắt có vẻ lẳng lơ và nảy lửa, chứng tỏ nàng không phải là loại đàn bà đứng đắn gì. Quí vị độc giả chắc đang nóng lòng biết ngay hai nhân vật này là ai, dạ xin thưa nhanh ngay, đó là Thiên Trúc cao tăng Tả Pháp Thụ tôn giả, và người đàn bà lẳng lơ ấy chính là trưởng nữ của Thanh Thông bang chủ – Liễu Văn!

Thì ra Thượng Quan Linh sau khi ăn nhầm Tuyết bi tiên hoa trong thạch thất của Đại Ngũ Trì, mất hẳn công lực, và được Đại Hắc của Độc chỉ Thôi Bác cứu thoát nạn; Tả Pháp Thụ sau khi đuổi không kịp Đại Hắc và Thượng Quan Linh, trong lòng tức giận vô cùng, nguyền thế nào cũng bắt cho kỳ được Thượng Quan Linh để nuốt sống mới hả dạ. Từ đó vị tăng nhân của miền Thiên Trúc này bắt đầu phiêu bạt lang thang giang hồ miền Trung Thổ để tìm kiến tung tích Thượng Quan Linh. Trời xui quỉ khiến khéo sao lại đưa ngay vị tăng nhân mặt đen như cột nhà cháy đến miền Lạc Thủy của tỉnh Hà Nam, lảng vảng gần nơi Thanh Thông Cốc để gặp ngay nàng Liễu Văn thất tình đang bỏ nhà ra đi. Khi hai bên gặp nhau đều giật mình kinh ngạc, Tả Pháp Thụ kinh hãi về sắc đẹp tuyệt mỹ của Liễu Văn, và Liễu Văn với bộ óc thông minh bén nhạy, đã đoán ngay ra người này mới là thứ tăng nhân miền Thiên Trúc chính cống, và nàng cũng từng được Thượng Quan Linh kể sơ về chuyện ở Đại Ngũ Trì, nay nhìn vị tăng nhân vừa xấu vừa hung tợn này, biết ngay là vị tăng nhân miền Thiên Trúc Tả Pháp Thụ.

Ngay sau khi đó, Liễu Văn cảm thấy con người của Tả Pháp Thụ cũng ngồ ngộ, bởi nàng nghe công lực của người này siêu tuyệt, tự thành một phái riêng biệt, nếu được sự chân truyền này, lo gì mà không xưng bá tại Trung Thổ này. Nhưng khi thấy bộ mặt ngựa đen thui ấy, nàng Liễu Văn đâm do dự phân vân, phần Tả Pháp Thụ chẳng nghĩ vu vơ lôi thôi gì, vì từ khi rời khỏi xứ Thiên Trúc cùng với sư đệ Hữu Duy Na đến miền Trung thổ, và kể từ khi chia tay với sư đệ tại Đại Ngũ Trì, Tả Pháp Thụ đã ngang nhiên phá giới phạm dâm. Và đã không biết bao nhiêu phụ nữ đã chết về sắc dục quá độ của vị thiền tăng phá giới này, hễ gặp gái đẹp, không làm sao cầm lòng nổi, và mỗi lần mây mưa đều khiến cho kẻ bị nạn chết ngay sau cơn giày vò Tả Pháp Thụ từng gặp nhiều người đẹp, nhưng chưa có lần nào gã bị xao động như lần này. Chỉ thấy Liễu Văn toàn thân một màu đỏ chói rực rỡ, đôi mắt lại đưa tình lẳng lơ khiêu gợi. Tả Pháp Thụ đã nổi ngay lửa dục của mình, kéo ngay Liễu Văn phăng phăng đi!

Liễu Văn tuy là người tà dâm và lại còn sành về lối phát động này, nhưng xưa đều do nàng chủ động khiêu chiến với các trai tráng khỏe và đẹp, chưa bao giờ bị ai dùng cường lực áp bức mình, nay tên phiên tăng này không biết vị đại tiểu thư của Thanh Thông Cốc, cả gan ra tay bạo ngược như thế, trong lòng Liễu Văn cảm thấy tức cười thầm. Nàng quyết ý ra tay để thử xem công lực của người này ra sao? Bèn vờ vẫn gắt gỏng và khua ngay Liễu quyền hoa cước đánh sang Tả Pháp Thụ, nhưng vị tăng nhân cột nhà cháy chỉ cất tiếng cười hà hà… Sau ba đòn, vị phiên tăng phát giác ngay thiếu nữ quả nhiên cũng có vài miếng, Tả Pháp Thụ càng cảm thấy phấn khởi, bèn giơ ngay bản lĩnh của mình ra đối chọi. Liễu Văn đương nhiên đâu phải đối thủ của vị cao tăng này, không đầy năm đòn, đã bị người ta điểm trúng huyệt, toàn thân bủn rủn và bị ngay phiên tăng bồng chạy bay đi luôn. Sau cơn vùi hoa dập liễu, Tả Pháp Thụ tưởng đâu thiếu nữ này thế nào cũng chết, nhưng lạ thay, sau cơn mưa gió ấy Liễu Văn lại tươi cười niềm nở… Giờ đây nàng đã hết chê bai sự xấu xí của vị dị tăng, và trái lại nàng đã bắt đầu yêu vị phiên tăng ác quỉ này! Vì nàng đã tìm được tất cả những gì mới mẻ của đời nơi vị phiên tăng hung tợn ngang tàng này! Hai người thề non hẹn biển, ước sống đến răng long bạc đầu thề thỏa chí yêu nhau! Và sau khi đôi bên tâm sự, Tả Pháp Thụ kinh ngạc về chuyện Thượng Quan Linh. Tính ra, Thượng Quan Linh phải mất bốn mươi chín ngày, tiên hoa mới phát sinh hiệu lực hoàn toàn của nó trong cơ thể của Thượng Quan Linh, trước ngày chưa tới kỳ mãn hạn, phải nên mau mau về ngay ngôi huyệt mộ để mổ ngay bụng Thượng Quan Linh lấy tim gan nuốt tươi như thế cũng như chính mình đã ăn được Tuyết bi tiên hoa vậy!

Liễu Vãn lúc này chẳng còn chút luyến tiếc gì với thượng Quan Linh nữa, trái lại nàng đã mê vị tăng nhân Tả Pháp Thụ, càng muốn cho công lực của người yêu trở nên cử thế vô song, nên sau khi nghe Tả Pháp thụ nói vậy, nàng bằng lòng cùng đi với người yêu về thanh Thông Cốc để lo vấn đề ăn tiên hoa bằng cách nổ bụng Thượng Quan Linh, ăn tim gan trước khi tiên loa chưa phát sinh nội lực. Thế là hai người lo hấp tấp về hướng Thanh Thông Cốc, khi gần đến cửa cốc, Liễu văn không muốn làm kinh động đến mọi thủ hạ, nàng bèn dắt Tả Pháp Thụ đi lối tắt, nào ngờ đi qua bờ suối đây lại phát hiện Thượng Quan Linh nằm hôn mê bất tỉnh như thế! Tính lại thời gian, đã quá hạn bốn mươi chín ngày, hai người cho rằng, sau khi Thượng Quan Linh được ăn Tuyết bi tiên hoa, trong người chàng đã khác hẳn người phàm thường, nên độc tửu của Liễu Văn không thể nào khiến chàng chết đi thực sự, khi mãn hạn bốn mươi chín ngày, chàng đã phá quan tài thoát ra!

Nhưng họ vẫn không hiểu tại sao lại bị nước cuốn trôi đến đây như vậy. Mà đây cách Thanh Thông Hội không xa, Liễu Văn không muốn để người trong cốc phát giác mình, vì nay nàng đã quyết đi theo vị tăng phá giới này, nhưng nàng lại không muốn cha già phải khổ lòng vì chuyện này, nên hối thúc Tả Pháp Thụ đi ngay. Tả Pháp Thụ bèn quyết định đem ngay Thượng Quan Linh bất tỉnh này cùng đi chung luôn, hai người hấp tấp thuê ngay một cỗ xe lừa, hóa trang cho Thượng Quan Linh thành một kẻ bệnh nhân khiêng lên xe đi luôn, dọc đường sợ chàng tỉnh dậy, luôn luôn dùng vật nặng khện mạnh vào đầu để khiến cho Thượng Quan Linh tiếp tục cuộc bất tỉnh nhân sự.

Liễu Văn lúc này bèn thương lượng với Tả Pháp Thụ, lúc này Tuyết bi tiên hoa đã phát huy hiệu lực trong người của Thượng Quan Linh, chỉ riêng có tửu độc đã khiến cho chàng bị thong manh, đầu óc luôn luôn bị đập mạnh khiến cho bất tỉnh, nếu cứ tiếp tục thêm vài ngày nữa, sức lực của tiên hoa chưa chừng có thể xua đuổi hết các chất độc ở trong ra, chừng đó Thượng Quan Linh không những khôi phục công lực, mà còn có thể nhờ sức tiên hoa ấy mà trở thành một thân hình kim cương bất hoại, đến khi đó, không ai có thể đả thương hay giết nổi y là khác. Nay vì vạn toàn, duy chỉ còn cách mau ra tay hạ trước cho xong. Tả Pháp Thụ đã ghét cay ghét đắng Thượng Quan Linh, nay sẵn dịp may ngàn năm một thuở này giết tươi ngay Thượng Quan Linh để uống máu huyết của chàng khiến công hiệu Tuyết bi tiên hoa có thể di chuyển sang ngay thân thể của mình. Trong tâm hồn của ác tăng xứ Thiên Trúc này, chẳng biết sợ pháp luật nhà vua là gì, càng không ngán trời đất sẽ dung tha tội lỗi hay không, ngay khi quyết định giết người, hắn lập tức xách đao chui vào xe lừa để hành hung với ác ý dã man của mình, đưa ngay đến cuống họng Thượng Quan Linh thọc huyết. Nào hay sau khi đâm mạnh xuống cuống họng, mũi đao như dí phải đám bông gòn mềm nhũn, không hề gây nên một thương tích mảy may gì.

Tả Pháp Thụ và Liễu Văn cả kinh hồn, thử thêm một hơi mấy nhát đao nữa, và toàn nhắm những nơi trọng yếu chí mạng của Thượng Quan Linh hạ thủ, nhưng sau khi đâm chém đủ trò, cả hai phát hiện Thượng Quan Linh tuy bị mê man bất tỉnh, như chàng hình như đã có khí công tuyệt đỉnh bao phủ khắp toàn thân, đao kiếm không làm gì nổi chàng, chỉ thấy chém vào đâu thì đó lập tức nổi lên một vết lằn trăng trắng, chỉ nháy mắt vết lằn ấy lại tan ngay. Lúc này cả hai người cùng kinh ngạc, biết ngay là công lực hiệu nghiệm ghê gớm của Tuyết bi tiên hoa, đầu óc hai người quay cuồng vì: kinh giận, ghét, ức và ghen…

Tả Pháp Thụ ghét nhất Thượng Quan Linh, hắn vẫn không chịu bó tay, đem ngay chàng về động thất của Đại Ngũ Trì rồi tính sau.

Một cuộc hành trình liên miên của cặp dã uyên ương, và chở theo kẻ bất tỉnh nhân sự đi về hướng Ngạc Bắc để đến Đại Ngũ Trì. Họ tưởng đâu hành tung quỉ quyệt của mình không có ai hay biết, nhưng hoàn cảnh của họ, đang nằm trong phạm vi thế lực của Thanh Thông bang chủ. Từ ngày trưởng nữ bỏ nhà ra đi, lão bang chủ Liễu Khải đã ngấm ngầm ra lệnh cho các thủ hạ chú ý dò la cẩn thận tin tức của Đại cô nương, và lúc này một xe ba người và cả đến tên phu xe xúi quẩy ấy cũng đã tránh không khỏi tai mắt theo dõi của thủ hạ Thanh Thông, nhưng vì chúng biết Đại cô nương lợi hại không dám hiện thân ra để yết kiến, một mặt theo dõi hành trình, mặt khác lo phi báo gấp về Liêu bang chủ để xin lệnh định đoạt. Trong Thanh Thông Cốc, Liễu Khải sau khi được tin lòng buồn phiền vô cùng, lập tức ra lệnh theo sát, xem chỗ ở của Đại cô nương và vị phiên tăng Thiên Trúc tại đâu và về báo tin gấp ngay.

Nói về Tả Pháp Thụ tôn giả, khi đến địa phận Phòng Sơn của Ngạc Tây, và ngay dưới chân núi, giết quách ngay tên phu xe, vừa khỏi tốn tiền lại vừa giữ kín hành tung! Quắp ngay Thượng Quan Linh vào động thất dưới đáy của Đại Ngũ Trì. Tên phiên tăng này cũng biết lo chu đáo sắp đặt, hắn đã sắp đầy đủ các đồ dùng cũng như lương thực để sống chung với người đẹp trong động thất một thời gian thoải mái, và vứt Thượng Quan Linh nằm lăn lóc dưới bụng con quái vật khổng lồ Tích long phía bên ngoài, hai người vào ngay ngôi thạch thất mà xưa kia Hữu Duy Na đã ở, thu xếp trang hoàng không khác gì một động phòng của vợ chồng mới cưới nhau. Sau khi sửa soạn tươm tất, dọn ngay rượu thịt thức ăn ra, say sưa tận hưởng no nê, sau khi no thân ấm cật đôi dã uyên ương lẽ dĩ nhiên lại đi tìm thú vui khác trong y phi chi lạc.

Từ ngày hôm sau trở đi, hai người bắt đầu tìm cách để chỉnh trị Thượng Quan Linh, vẫn muốn tìm cách sao để giết chàng rồi uống máu, nhưng lạ thay Thượng Quan Linh lúc này đã hoàn toàn biến đổi hẳn, khắp thân mềm nhũn như bông, không một chỗ nào có thể cho họ ra tay ám hại được. Tả Pháp Thụ và Liễu Văn đã dùng đủ mọi phương pháp: nào đao kiếm, nào lửa đốt, trấn nước kim châm và tất cả những cách họ đã nghĩ ra, nhưng đều vô hiệu, đành bỏ cuộc. Lúc này Thượng Quan Linh đã trở thành con người quái đản dị nhân, lúc này chàng vẫn mê man bất tỉnh nhân sự, thỉnh thoảng hơi nhích động, không ăn không uống, Tả Pháp Thụ và Liễu Văn cho rằng thế nào chàng cũng chết, nhưng lạ thay chàng vẫn sống.

Trong động thất, Tả Pháp Thụ và Liễu Văn tha hồ truy hoan tác lạc, họ sống và cố tận hưởng những gì mà họ thích, nhưng hễ mỗi cuộc vui được tạm ngưng lại họ lại không khỏi buồn bực đến chuyện quái nhân Thượng Quan Linh, một kẻ đại thù mà giết không làm sao chết ấy, thật không biết đối phó ra làm sao. Và chuyện họ lo nơm nớp nhất, nếu hôm nào đó quái nhân Thượng Quan Linh khôi phục được sức mạnh, ngày ấy sẽ nghiễm nhiên trở thành kẻ công lực cái thế vô song, và cả hai người hợp sức lại, chưa hẳn là đối thủ của chàng! Hai người đã thấy vấn đề có vẻ bất an với họ…

Một hôm, Liễu Văn đi thăm chừng xem quái nhân Thượng Quan Linh ra sao, bỗng nàng giật nảy mình chỉ thấy Thượng Quan Linh đang ngồi xếp chân bàn tròn dưới phía bụng của con Tích long khổng lồ, trông chàng như đang ngồi vận công vậy, tuy Liễu Văn đã đi hết sức nhẹ nhàng, nhưng nàng vẫn không làm tránh khỏi thính giác vô cùng bén nhạy của Thượng Quan Linh, chàng thình lình ngửng đầu lên quát hỏi:

– Ai?

Liễu Văn giật bắn người! Đâu dám lên tiếng, chăm mắt theo dõi những hành động của đối phương, chỉ thấy quái nhân Thượng Quan Linh từ từ đứng dậy, hai tay đưa ra quờ quạng, hình như chàng ta vẫn chưa khôi phục nhãn lực của mình? Liễu Văn hoảng hốt chạy bung vào động thất bên trong báo ngay cho Tả pháp Thụ hay, vị tăng nhân xứ Thiên Trúc lật đật ra xem, chỉ thấy Thượng Quan Linh đưa tay sờ soạng vào xác khổng lồ của con Tích long. Hình như chàng ta đã nhận ra đây là chỗ nào, chỉ nghe chàng lẩm bẩm một mình:

– Tích long ơi! Tích long! Không ngờ Thượng Quan Linh ta nay lại nghiễm nhiên về đến dưới bụng ngươi thế này. Hà!… Tuy đã nuốt được Tuyết bi tiên hoa, công lực đã trở thành cái thế vô song nhưng khốn thay nay mắt lại bị thong manh, sống trên đời này còn sung sướng vào đâu? Làm được ích gì cho thiên hạ nhờ? Chẳng thà ta chết quách dưới bụng ngươi cho yên.

Dứt lời, Thượng Quan Linh hất bung ngay đầu của chàng vào bụng con Tích long.

Rầm một tiếng dữ dội vang inh lên, sau khi Thượng Quan Linh húc đầu vào tự tử, xác con quái vật khổng lồ Tích long đã đổ lăn kềnh ra! Tả Pháp Thụ và Liễu Văn kinh hãi tuyệt độ, con Tích long nặng cũng gần cả ngàn cân, toàn thân cứng rắn như thép, thế mà Thượng Quan Linh đã ngang nhiên hất ngã nổi kinh khủng như thế, nếu không phải chính mình thấy rõ tận mắt, quả thật không làm sao tin cho được. Càng kỳ lạ hơn nữa là sau khi Thượng Quan Linh húc bừa như thế chàng đã làm thủng ngay bụng con vật Tích long và bị kẹt luôn chiếc đầu của mình trong đó, toàn thân bị dính theo xác con vật, chỉ thấy chàng quay tay khua chân lung tung, trong lúc lúng túng không làm sao rút đầu ra được.

Tả Pháp Thụ và Liễu Văn chỉ cầu sao Thượng Quan Linh chết luôn trong bụng con vật cho được việc, nhưng thấy chàng sau khi vùng vẫy một hồi, Thượng Quan Lính đã rút được đầu của mình ra khỏi bụng con Tích long, nghiễm nhiên lồm cồm đứng dậy, oai nghi đứng sừng giữa ngôi thạch thất.

Cặp dã uyên ương Tả Pháp Thụ và Liễu Văn thấy kinh hãi vậy, ai nấy bất giác càng nản lòng âu sầu và nổi lên lòng ghen ghét công lực vô biên của Thượng Quan Linh. Họ chỉ thấy Thượng Quan Linh đưa hai tay lên xoa sờ đầu lẩm bẩm:

– Quái lạ! Quái lạ!…

Hình như chàng cũng kinh ngạc mình húc đầu tự tử như thế sao mà không bể đầu nát óc mà chết, chàng đưa tay rờ hết đầu mình, lại cúi xuống sờ soạng bụng con Tích long, hình như chàng cũng đang bực mình, miệng lại lẩm bẩm:

– Tức quá! Tức quá!… Chết mà cũng khó!…

Thượng Quan Linh đưa tay dựng ngay xác con vật khổng lồ đứng lại. Con Tích long khổng lồ nặng ngàn cân ấy, dưới thần lực của Thượng Quan Linh, nó lại đứng lại với thế đứng như xưa kia của nó, nhưng bụng nó đã bị toác hẳn một lỗ hổng trông không được đẹp lắm; lúc này Thượng Quan Linh có vẻ phiền bực, thấy chàng lại ngồi phía dưới bụng của con Tích long, hai chân xếp bàn tròn, trông chàng vừa như đang sám hối và đang khấn vái cầu nguyện gì vậy. Xem xong, Tả Pháp Thụ và Liễu Văn kinh hồn bay vía, hấp tấp lui ngay vào trong động thất!

Ánh đèn nhoáng lên cùng hòa với ánh lân tinh trên vách của thạch động, nghiễm nhiên một bóng thiếu nữ sừng sững trước mặt.

Một mật thất như đây, tại sao lại có người xuất hiện thình lình như vậy? Hai người thất kinh, đứng khựng ngay lại chăm chú nhìn, quả đúng một nàng thiếu nữ mặc toàn đồ trắng như áo tang đứng ngay trước mặt hai người.

Tả Pháp Thụ lớn tiếng hỏi ngay:

– Ngươi là ai? – Nhưng tay đã rờ vào binh khí sẵn sàng ra tay.

Bỗng nghe khích một tiếng cười vang lên, toàn thân Bạch y thiếu nữ lướt thướt bước ra. Chỉ thấy rõ ung dung khoan thai, uyển chuyển bước đi của một tuyệt thế giai nhân, và lạ hơn nữa khuôn mặt của Bạch y thiếu nữ đây lại giống hệt nàng Liễu Văn?

Tả Pháp Thụ tưởng mình hoa mắt, vội quay đầu nhìn lại, người yêu vẫn đứng sau mình. Quái lạ! Sao lại có người giống hệt nhau đến thế! Hai khuôn mặt không khác nào như hai giọt nước! Từ thân hình đến diện mạo, in như hai bức tượng được đúc trong một khuôn ra vậy, trong lúc này Tả Pháp Thụ chỉ có mỗi cách phân biệt bằng màu sắc quần áo của hai nàng. Kẻ đến mặc toàn đồ tang và người yêu mình mặc toàn màu đỏ. Tả Pháp Thụ hết nhìn người này lại quay ngắm người kia, một sự ngớ ngẩn và thích thú đã hiện trên khuôn mặt hình ngựa đen như cột nhà cháy của hắn!

Trong lúc Bạch y thiếu nữ đang khoan dung bước lại Liễu Văn bỗng lên tiếng hỏi ngay:

– Phải em Mi đó chăng?

Bạch y thiếu nữ khẽ hừ một tiếng bằng giọng mũi rồi lên tiếng:

– Chính Liễu Mi đã đến đây!

Sau hai câu đối thoại ngắn ngủi và lạnh lùng này, Tả Pháp Thụ mới rõ lẽ đây là hai chị em sinh đôi.

Chỉ thấy Liễu Mi chóng nhanh một cái, từ trong mình rút ra một vật, rồi nói:

– Cha già được tin báo của thủ hạ, biết chị đang quen với một phiên tăng miền Thiên Trúc, nên đã sai em mang ngay chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ đến để nhờ giải thích những văn tự trên đó. – Nói xong giao ngay cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ cho Liễu Văn.

Trưởng nữ của Thanh Thông Hội sau khi nghe em nói, tất cả bí mật của mình đã bị cha già biết rõ, nhất là vụ bỏ nhà đi theo vị phiên tăng Thiên Trúc này, tuy trong lòng không được vui, nhưng tình nghĩa cha con quyến luyến, phần lão phụ lại khổ não nghiên cứu về mười tám chữ kỳ lạ của chiếc cờ, nay cha già lại nhờ vả mình như thế, lẽ nào từ chối cho đành!

Tả Pháp Thụ xem qua, bỗng lộ vẻ ngạc nhiên rằng:

– Ồ! Lạ thật! Đây là lối văn cổ điển Phạn tự bên xứ Thiên Trúc chúng tôi!…

Tiếp theo, Tả Pháp Thụ cất tiếng lẩm nhẩm đọc những văn tự lạ lùng trên chiếc cờ, hiển nhiên nhà sư phá giới này biết rõ loại văn tự khó khăn này. Liễu Mi chỉ lạnh lùng đứng xem, không biểu lộ một ý kiến gì, nhưng nàng Liễu Văn đã không thể chờ đợi thêm, cất tiếng hỏi ngay:

– Kìa Pháp Thụ! Ý nghĩa của mười tám chữ ấy nói gì vậy?

Tả Pháp Thụ mắt nhìn hai hàng chữ nhỏ trên cờ lắc đầu rằng:

– Chính tôi cũng chẳng hiểu nghĩa gì, mặc dù tôi có thể đọc hết âm vận của chúng! Nhưng ý nghĩa nói gì thì chịu tịt luôn!…

Liễu Mi lúc này bèn nói ngay:

– Vậy mười tám chữ ấy, dịch thành Hán văn là những chữ gì?

Tả Pháp Thụ bèn sửa ngay lại giọng dịch âm Hán rằng:

– Vô cư, Động thủy, Tịnh nhược kính, Phát thiên quân, Hữu ý bất tâm, Hữu chỉ bất chi… (Không nơi ở, nước động, tình như mặt gương, tóc ngàn sợi, cố ý vô tâm, có chỉ mà không với tới được…)

Liễu Mi bèn nhớ kỹ ngay mười tám chữ Phạn tự đã dịch thành Hán tự.

Chỉ trong nháy mắt, ba người đều trầm tư mặc tưởng như suy nghĩ, sức học hiểu biết của ba người, đâu phải loại xoàng gì, nhưng họ đành phải bó tay với những ý nghĩa thâm sâu của mười tám chữ, và kẻ bỏ cuộc trước tiên là Tả Pháp Thụ, vì gã đương say ngây ngất vì sắc đẹp của dì nó, nay lại dì nó đứng suy tư, bèn nhân ngay cơ hội trao chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ để hầu giở trò bốc hốt ấm ớ với dì nó. Liễu Mi đã chuẩn bị trước, đưa tay ra nắm ngay tay Tả Pháp Thụ trước, tên dâm tăng tưởng đâu dì nó có tình ý lẳng ngầm với mình, trong lòng khoái điên lên, chợt nghe Liễu Văn đứng cạnh lạnh lùng lên tiếng nhắc khéo:

– Hãy coi chừng!

Tả Pháp Thụ giật mình, thấy Liễu Mi nắm ngay mạch huyệt của mình.

Vội tính vùng tay ra, nhưng đột nhiên cảm thấy Liễu Mi đã tăng ngầm thêm sức mạnh, tay mình không khác nào như bị một vòng sắt siết chặt cứng. Liễu Văn tức giận tính ra tay cứu người yêu, nhưng Liễu Mi cười nhạt, chỉ thấy nàng nhoáng tay, chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ đã dí sát ngay gần yết hầu Tả Pháp Thụ, khiến cho gã dâm tăng này không dám động mạnh. Liễu Văn cũng lập tức thu ngay thế lại, hấp tấp rằng:

– Kìa em! Hãy buông tay! Có gì thảo luận sau!

Tả Pháp Thụ không ngờ dì nó lại lợi hại đến thế, không dám lên tiếng, chỉ hối hận mình sơ ý nên bị vậy đồng thời lại cảm thấy cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ đang toát ra một nguồn lành lạnh áp hết vị trí yết hầu, khiến nỗi động đậy cũng cảm thấy nguy, đâu còn dám chống đối liều để toi mạng. Nếu nói về công lực, Liễu Mi tuyệt không thể nào là đối thủ của hai người này, nhưng nay nhờ sự nhanh trí của nàng nên đã chế ngự được đối phương, và lên tiếng quát hỏi:

– Thượng Quan Linh nay ở đâu? Mau nói!

Nhưng Tả Pháp Thụ không dám lên tiếng, vì cổ gã đang bị Tiểu Đoạt Hồn Kỳ uy hiếp, chỉ riêng tiếng Liễu Văn rằng:

– Thượng Quan Linh còn chưa chết, hắn đang ở ngoài động thất kia…

Liễu Mi vút đánh tiếng kêu tướng lên:

– Anh Thượng Quan Linh!… Anh Linh ơi!

Có tiếng hồi âm của bên ngoài động thất, và tiếng lẩm bẩm của Thượng Quan Linh tự hỏi:

– Ai đang gọi mình kìa! Ai? Sao nghe giọng có vẻ quen tai lắm?!

Rõ ràng tình lang của mình còn sống, Liễu Mi vừa mừng vừa tủi, không sao cầm lòng, hai hàng nước mắt đã sung sướng tràn ra! Nàng lại lớn tiếng:

– Anh Linh! Em đây! Em Liễu Mi của anh đây?

Tiếng Thượng Quan Linh vẫn lẩm bẩm:

– Thế sao? Đúng thế ư? Trời ơi!… có lẽ mình đang nằm mê chăng, hay là chị nàng lại đang lừa gạt ta… đời nào mình chịu mắc mưu nữa… Hừ! Hừ!…

Liễu Mi vừa đau khổ vừa cuống lên, nhưng phải lo canh gác tên giảo quyệt Tả Pháp Thụ và Liễu Văn, nàng không thể phi thân ngay vào để gặp người yêu, đành lớn tiếng rằng:

– Anh Linh, bộ anh quên một trò chơi câu đố, mà kết quả anh đã thua cho em hai đóa hoa rồi sao?

Đây chẳng qua là một chuyện nhỏ rất thú vị, khi mà cả hai thoát khỏi Phi Các ma cung, dọc đường họ đã tìm ra một trò chơi tao nhã nên thơ, và cả hai đều nhớ những kỷ niệm thú vị này; với thông minh sẵn có, Liễu Mi biết Thượng Quan Linh chỉ yêu có mình, thế nào chàng cũng nhớ những kỷ niệm êm đẹp đó! Nay đem ra thử chàng, quả nhiên thu hiệu lực, Thượng Quan Linh nghe xong, không còn nghi ngờ gì nữa chàng lớn tiếng rằng:

– Liễu Mi!… Em… Em đang ở đâu?

Vừa hỏi chàng vừa loạng choạng chạy thẳng ngay vào động thất bên trong!

Đã cách gần nhau như thế, mà chàng lại nhận không ra mình, trí thông minh đã báo ngầm ngay cho Liễu Mi, đôi mắt người yêu đã bị mù, nàng hét lên một tiếng thê lương buông tay vọt nhanh sang phía người yêu Thượng Quan Linh bất giác ôm chặt lấy Liễu Mi rằng:

– Em!… Em… Anh nhớ em quá!…

– Anh…

Liễu Mi trả lời bằng những động tác, nàng đưa tay người yêu lên má mình và nhẹ đặt nhiều cái hôn tíu tít. Thượng Quan Linh chỉ cảm thấy tay mình bị ướt biết nàng đang khóc vì tủi và mừng…

Cả hai thả hồn chìm trong cảnh tái ngộ bi ai này, họ quên khuấy những nguy hiểm đang rình rập xung quanh họ.

Liễu Văn sực nhớ cây cờ Tiểu Đoạt Hồn Kỳ còn trên tay em mình, nàng đưa tay đoạt ngay luôn! Liễu Mi sực tỉnh cơn mộng, nghĩ là phải rời khỏi ngay nơi đất thị phi này trước!

Thượng Quan Linh bèn thuật lại hết những tình hình xảy ra trong Thanh Thông Hội, khi Liễu Mi nghe đến chỗ chàng vì yêu mình mà cam chịu uống thuốc độc Liễu Mi vừa cảm động, vừa sung sướng, vừa thương tâm… Bù lại Liễu Mi cũng kể hết sự nhớ nhung của mình và các việc đã liên miên xảy ra trong thời gian mà nàng bị bặt tin của Thượng Quan Linh, và nàng chỉ nhờ có mỗi lòng tin mới duy trì đến ngày hôm nay và đoàn tụ trong trường hợp này. Liễu Mi cũng biết ngay trong lúc này không thể nào phí mất ngày giờ, phải tức tốc giải quyết hai câu chuyện trước mắt; một là chữa mắt cho Thượng Quan Linh, hai là tức tốc lo cứu viện cho phía Mặc Phụ Sơn.

Hai việc này, đương nhiên phải ra khỏi Đại Ngũ Trì mới có thể lo được. Liễu Mi bèn nói rõ ý cho Thượng Quan Linh hay, chàng lập tức đồng ý ngay, nhưng trước nhất là lo đi ngay về Mặc Phụ Sơn để cứu viện cho Hầu Hạo, dọc đường nếu may mắn gặp dược lương y chữa mắt thì càng hay. Hai người bèn sửa soạn lên đường.

Hỏi về Liễu Mi, thì ra nàng đến động thất của Ngũ Đại Trì bằng lối nhảy xuống nước. Thượng Quan Linh vốn là ngựa thuộc đường cũ, lúc này tuy mắt không thấy, nhưng vẫn có thể đưa Liễu Mi đi theo lối mà Đại Hắc đã đưa mình chạy thoát dạo nọ; mới hơn một tháng xa nhau, nay con thần ưng Đại Hắc đã trung thành chết chung với chủ, Thượng Quan Linh không khỏi mủi lòng thương tiếc, khi ra đến cửa động, cảm quan thứ sáu của chàng đã khiến chàng nhớ lại tất cả những cảnh vật đã đi… Vốn là người đa cảm đa sầu nay lệ anh hùng không khỏi tuôn rơi để truy điệu thần ưng Đại Hắc, Liễu Mi cố lòng an ủi…

Trong sự săn sóc chu đáo của người yêu, Thượng Quan Linh được đưa lên xe và nhắm thẳng hướng Nam tiến phát đến Mặc Phụ Sơn – Nơi mà sư huynh của Thượng Quan Linh – Hầu Hạo – đang trông ngóng sự cứu viện của mọi người.

Hôm đó, hai người đến Nam Chương, một nơi mà xưa kia Thượng Quan Linh đã bị lão bà bịt mặt dùng Phủ Chưởng Hàn đánh trọng thương và suýt chết trong khi sắp hết hạn bảy ngày, nay tái gặp cảnh cũ như xưa nhưng trong lòng Thượng Quan Linh chỉ ước sao tại đây gặp lại được bà lão bịt mặt đã đánh mình suýt chết dạo nào. Tuy nay mắt mình không trông thấy gì trong lúc này, nhưng nhờ công lực của Tuyết bi tiên hoa, Thượng Quan Linh đã vững lòng tin, chàng không còn ái ngại gì về loại Phủ Chưởng Hàn ghê gớm của lão bà, một kẻ thù ghê gớm mà đã giết hết mười người thân của chàng, nếu chuyến này gặp được mụ ta, chàng quyết không bỏ lỡ dịp trả thù. Liễu Mi thấy Thượng Quan Linh nghiến răng mím miệng như sắp sửa lâm trận vậy, bất giác phì cười và khuyên chàng hãy bình tĩnh vì hiện nay mụ già bịt mặt bí mật ấy, không biết đã ẩn tích từ hồi nào rồi? Làm sao mà tìm cho ra, cũng nhờ câu chuyện này mà Liễu Mi sức nhớ đến vị Thần y trên giang hồ là Hoạt thương công Hoa Diệp Tử, không biết ngay nay ông ta còn ở gần đâu đây không? Nếu còn, mời ông ta lại chữa mắt cho Thượng Quan Linh, thế nào cũng hy vọng được chín phần mười khỏi bệnh!

Nghĩ xong, nàng bèn căn dặn Thượng Quan Linh nằm yên nghỉ ngơi trong quán trọ, chớ nên suy nghĩ bậy mà có hại cho sức khỏe, và nàng cấm đoán chàng không được lẻn đi ra ngoài một mình như kỳ trước!

Thượng Quan Linh tươi cười gật đầu lia lịa, phần Liễu Mi cũng cho rằng Thượng Quan Linh nay đã trở thành một quái nhân võ lâm rồi, trừ phi Liễu Văn có chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ và cộng thêm công lực tuyệt cao của Tả Pháp Thụ ra hơi đáng ngại, còn các tay giang hồ cao thủ không đáng quan tâm nữa, và chưa chắc gì Liễu Văn và Tả Pháp Thụ đuổi theo họ.

Sau khi cố căn dặn người yêu ba lần bảy lượt, nàng hấp tấp ra phố Nam Chương thăm hỏi vị giang hồ Thần y, nàng vui mừng quýnh khi nghe tin vị Hoạt Thương Công vẫn còn cư ngụ gần đây.

Thì ra vị Thái y này rất giỏi về khoa trị bệnh, tiếng tăm lừng lẫy khắp giang hồ lang thang khắp thiên hạ, không nhất định ở hẳn một nơi nào, nhưng ông ta cũng như bao nhiêu người phàm thường khác, có nỗi lòng bí mật thầm kín của mình, thì ra miền Nam Chương giữ chân được ông ở lại đây lâu nhất hơn mọi nơi, chỉ vì ông ta mê một ả làng chơi họ Lưu tại đây, thành thử khi có dịp ghé đây, ông ta đều ở lại dăm ba tháng trời. Liễu Mi biết chuyện bí mật này, liền hấp tấp tìm lại tận nơi, quả nhiên gặp lúc ông ta có nhà, Liễu Mi bèn nói rõ thân phận và ý đến của mình với vị Thần y Hoạt thương công Hoa Diệp Tử.

Chuyến này khiến cho vị thần y giật mình ngơ ngác, chỉ nội người đẹp như Liễu Mi đến cũng đã đủ khiến cho ông ta mờ tai hoa mắt rồi, sau khi nghe rõ câu chuyện của nàng, vị danh y há cả miệng ngẩn người như kẻ mắc kinh phong, thì ra nàng là thứ nữ lừng danh oai hách của Thanh Thông Hội, mà người bạn trai của nàng lại là vị thiếu niên trúng Phủ Chưởng Hàn dạo nọ. Không ngờ mình không có cách chữa trị, nay chẳng có thuốc mà người ta cũng khỏi, nhưng khỏi được bệnh kia nay lại vướng phải bệnh mù luôn hai mắt. Sau khi nghe xong, Hoa Diệp Tử vừa kinh vừa nghi, vội sửa soạn thuốc men và dụng cụ của mình, rồi cùng lên xe đi với Liễu Mi về quán trọ. Sau khi gặp Thượng Quan Linh, Hoa Diệp Tử mới biết rõ mọi chuyện, ông ta mừng cho Thượng Quan Linh gặp may mắn như thế.

Trong khi chẩn mạch cho Thượng Quan Linh, Hoa Diệp Tử cau mày nhíu mắt, trầm lặng không nói gì trông thần sắc có vẻ bối rối.

Liễu Mi hồi hộp hỏi:

– Thưa tiên sinh! Mắt của anh Linh có sao không ạ?

Hoa Diệp Tử lắc đầu:

– Không dám giấu gì hai vị, bệnh mắt của Thượng Quan công tử đây, vốn bị trúng độc trước khi tiên hoa chưa tan hết công lực vào trong cơ thể, và sau khi công tử uống độc tửu, sức tiên hoa đã chống đối kịch liệt và dồn hết chất độc ấy lên mắt nên đã khiến cho đôi mắt trở thành thong manh… – Với giọng vô hy vọng Thần y lại tiếp: – Nay Thượng Quan công tử mắt bị trúng chất độc quá mạnh, khiến cho đôi tròng bị thương quá nặng, tuy dưới vòm trời này không thiếu gì bậc lương y, nhưng e khó có phương pháp gì mà cứu nổi…

Nghe nói vậy, tâm hồn Thượng Quan Linh không khác nào như bị té trong trận vực thẳm ở thung lũng Thanh Thông Cốc kỳ trước, chàng chán nản tuyệt vọng, đau khổ, giơ đấm thụi mạnh vào mặt bàn, chiếc bàn dày gỗ quí thủng ngay một lỗ lớn! Liễu Mi cố nén lòng xúc động của mình khuyên nhủ người yêu.

Hoa Diệp Tử thấy hai người đau khổ bịn rịn, mủi lòng khuyên rằng:

– Xin Thượng Quan công tử chớ vội lo buồn chi vậy nay tuy công tử bị thong manh, nhưng tôi tin chắc hiệu lực kỳ diệu của tiên hoa, thể lực lúc này của công tử đã khác hẳn người thường, có lẽ khắp trong thiên hạ, không còn ai có thể giết hại được công tử nữa đâu, từ nay công tử sẽ là người công lực cái thế vô song! Sẽ trở thành một ngôi sao sáng chói trong vòm trời võ lâm! Còn có bao nhiêu sự nghiệp vĩ đại đang chờ đón công tử, vậy mong công tử nên vì đó mà tự hào, chớ có lấy làm chuyện bi thương làm gì!

Liễu Mi cũng hết lòng uyển chuyển khuyên can rằng:

– Anh Linh! Anh cũng nên nghĩ ở đời không có gì thập toàn thập mỹ cả, ngay công lực của anh đã siêu tuyệt vượt bực như thế, sau này thế nào cũng trở thành kẻ đệ nhất trong thiên hạ!