Chương 66: Bắc kiếm ẩn tung

Về sợi chỉ tơ đỏ trên cây Lãnh điện tỉ thủ của Tỉ Vương ấy, nay vẫn còn được giữ cẩn thận bên người Nam Bút tiên sinh, nghe đồn rằng dị bảo trong võ lâm Lãnh điện tỉ thủ này có quan hệ mật thiết với nhân vật thần bí là Tỉ Vương và nhân vật thần bí này đã quí trọng đến báu vật Lãnh điện tỉ thủ và thậm chí cả đến những sợi chỉ tơ đỏ, cho nên sau này đã nhờ đến Tứ Hung họ Đinh trên Vô ảnh Phong để cướp đoạt lại! Nên chỉ sự đoán xét của Độc chỉ Thôi Bác không sai lắm, sau khi những sợi tơ đỏ của Lãnh điện tỉ thủ bị đứt ấy, Tỉ Vương hình như đã vì luyến tiếc vật cũ này, rất có thể sẽ không thay thế bằng vật mới! Nhờ thế mà giải tơ đỏ nhỏ này sẽ là manh mối để tìm ra Tỉ Vương và Lãnh điện tỉ thủ ấy!

Thầy trò Nam Bút sau hồi thảo luận và kể cho nhau nghe từ khi chia tay, cuối cùng Thượng Quan Linh mới mặt đỏ lên nói với Nam Bút tiên sinh về chuyện đính hôn của mình với Liễu Mi ở Lãnh Hương Các và được Độc chỉ Thôi Bác đứng ra làm trung gian trong cuộc lễ đính hôn ấy.

Thượng Quan Linh tưởng đâu thầy mình sẽ mắng cho một trận nên thân, vì mối đại thù còn chưa trả, đã ngang nhiên dám tính đến chuyện tư tình trai gái thế! Cha mẹ đã mất, chuyện cưới gả này, đáng lý phải bẩm rõ với sư tôn, đâu có lý nào lại đi chuyên hành như thế? Tin chắc thế nào cũng bị quở trách. Nào hay Nam Bút nghe xong, chỉ mỉm cười gật gù, không những không quở trách, trái lại có ý thông cảm là khác, và đã cho Thượng Quan Linh hay, sau khi trả thù cho song thân, với danh nghĩa sư phụ, Nam Bút sẽ đứng ra làm chủ hôn lễ này cho chàng, và sẽ đưa chàng vào Thanh Thông Cốc để thành thân với nhà họ Liễu. Được vậy sau này hai người có hành hiệp song song trên giang hồ, cũng danh chính ngôn thuận, không bị mang tai tiếng gì trong võ lâm. Thượng Quan Linh bất giác cười thầm trong bụng, thì ra thầy mình cũng muốn mình mau mau lấy vợ như ông ta, để lập gia lập thất cho có căn cớ.

Vào trung tuần tháng mười một và sắp đến tháng chạp, Nam Bút tiên sinh bèn hợp cùng với Thượng Quan Linh, Liễu Mi, Sở Canh khởi trình lên miền Bắc, nghĩ đến chuyến đi này, tránh không khỏi cảnh binh hùng trận hiểm, Hạ Quyên không nên theo trong cuộc hành trình này thì càng hay, Đinh Tàn nay đã đi xa, chắc không còn trở lại làm gì, Nam Bút đành để vợ ở nhà.

Một cuộc hành trình bắt đầu ngược lên miền Bắc, bốn người ròng rã hơn một tháng mới tới miền Bắc. Hôm đó đã gần tới Khảo Thành, ở đây cách Thanh Thông Hội không xa lắm, Liễu Mi bỗng nhớ đến cha già, trong lòng nao nao không được vui.

Suốt dọc đường lên Bắc kỳ này, họ đã không ngừng thăm dò tin tức ngấm ngầm, và được biết gần miền biên khu sa mạc cực Bắc ấy, sắp sửa có chuyện quan trọng xảy ra, Nam Bút đoán phỏng, chắc lại một thịnh hội gì đây, lão bà bịt mặt thế nào chả có mặt tại đó, thế là mọi người hấp tấp tăng thêm tốc độ cuộc hành trình để mau đến kịp.

Tuy gần nhà mình, nhưng Liễu Mi không nỡ vì chuyện riêng của mình mà phá hỏng chuyện công, nhất là chuyện đó lại liên can đến người tình lang của mình, đành phải tự buồn riêng trong đáy lòng. Lúc này đã vào hẳn tiết mùa Đông, trời đất âm u buồn tẻ, vừa lạnh vừa thê lương, qua khỏi Khảo Thành, đến ngay sông Hoàng Hà, giờ đây chỉ thấy mặt sông đóng thành băng tuyết, cứng lạnh hơn sắt, đoàn người ngựa tám mạng lướt qua mặt sông băng tuyết, dẫn đầu là Nam Bút tiên sinh, tiếp theo là Liễu Mi, Thượng Quan Linh, Sở Canh…

Phục trang của bốn người lúc này dày cộm hẳn nhưng không vì thế mà mất hẳn những sắc thái đặc biệt của mỗi người, lưng Nam Bút đeo cây cổ cầm Bát long ngân, Thượng Quan Linh đeo theo bên người cây kiếm Lệ thủy tinh, Liễu Mi sẵn có sắc đẹp đảo quốc khuynh thành, Sở Canh trời phú cho thân hình hộ pháp xuất chúng, và những thứ đặc sắc ấy gồm chung lại trong đoàn người lữ hành này rất dễ gợi nên tính háo kỳ của người đi đường. Liễu Mi vì nhớ đến cha già, lúc này nàng đang trầm tư, không hề để ý gì đến mọi chuyện xung quanh mình, Nam Bút và Thượng Quan Linh đều để ý đến phía dưới chân. Chỉ riêng Phích lịch nhị lang Sở Canh chẳng biết sự nguy hiểm là gì, nay đang đi trên mặt sông, trong lòng chỉ biết có một cảm giác là lạ, hết nhìn bên trái lại nhìn bên phải, thỉnh thoảng mỉm cười, vì thú vị và hay hay của cuộc hành trình này. Bỗng Sở Canh cảm thấy trong đám người qua mặt sông đây, như có một đôi mắt đang theo dõi mình, đến khi chàng để ý bỗng lại không thấy.

Sở Canh tuy lỗ mãng, nhưng cũng có lắm khi chàng tỏ ra nhanh trí vô cùng, lúc này Sở Canh vờ như không để ý đến, chàng vẫn lo cúi đầu đi, chờ đến khi đôi mắt bí mật nọ ngó đến, thình lình chàng ngửng đầu lên! Đối phương hấp tấp thu ngay tia nhìn lại, nhưng trong cơn chớp mắt ấy, Sở Canh đã nhận ngay ra đối phương, thình lình chàng quát tháo:

– À! Ra là mày đó à! Thằng chết bầm!…

Dứt lời tung giò đuổi theo chí mạng!

Thì ra tên này là bộ hạ của Bắc Kiếm trong nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt tên gọi Tiêu Ngũ, xưa kia trong cuộc tranh chấp của Phổ Côn với Thanh Thông Bang tại Thanh Thông Cốc, Sở Canh đã từng đụng độ, sau lại gặp nhau tại Nhữ Nam một lần nữa, nên nay Sở Canh vẫn còn nhận ra y. Sau tiếng quát của Sở Canh, Liễu Mi cũng nhanh trí buột miệng:

– Là tên Tiêu Ngũ!

Nam Bút, Thượng Quan Linh cũng vội hấp tấp theo sau. Nhưng chỉ thấy đám Tiêu Ngũ có đến trên mười người, lo theo phía sau một chiếc xe, mà không chen chung vào một đám người, cả đoàn đang lo tiến sang đối ngạn, Sở Canh vẫn lẽo đẽo theo sau nheo nheo gọi la:

– Thằng chết bằm… Đừng có chạy chứ!

Tiêu Ngũ và một người râu dài, thình lình quay người lại, thấy Sở Canh đến sát gần, cả hai đồng thời ra tay, chỉ thấy hai làn ánh quang sáng chói của hai ngọn chỉa lớn bắn vọt ra?

Nam Bút tiên sinh thốt lên tiếng:

– Nguy mất? – Vội tung mình vọt ngay lên.

Sở Canh đâu biết lợi hại gì, chỉ thấy hai cây chĩa thép nặng này lại không đánh sang hẳn phía mình, mà lại rớt ngay xuống trước mặt mình, và cũng ngay lúc đó, mặt băng bị trống hổng hai lỗ lớn tướng. Sở Canh cả kinh, tính ngừng ngay thế đuổi của mình lại, nhưng vì đà chạy của mình quá mau, không sao hãm lại kịp, toàn thân bị ngã thụp ngay xuống hố băng tuyết, và chìm dần xuống với tảng băng… Cơn nguy kịch đang diễn, đám Tiêu Ngũ cất tiếng cười ha hả, thình lình có một bóng xanh lao nhanh tới, túm kịp ngay thân Sở Canh kéo ngay khỏi cơn nguy.

Lúc này, tảng băng đá nứt bể thành một diện tích khá lớn, đám người qua sông đang rối rít la hoảng để tránh nguy, ai nấy thấy bóng xanh cứu được Sở Canh, thế nào cũng không khỏi bị nhào xuống hố băng tuyết. Nhưng trong các đôi mắt đang hồi hộp theo dõi, chỉ thấy bóng xanh hai chân khẽ khom, thình lình bung mình vọt bay bổng hẳn nơi hiểm địa, tay quắp theo chàng Sở Canh ướt sũng vọt ngang qua. Tiêu Ngũ và người râu dài nọ cười gằn lạnh lùng, lúc này hai người bốn tay, ai nấy cầm đầy ám khí, sẵn sàng vung ra. Thình lình hai tên này cảm thấy trước mắt hoa lên ánh bạch quang nhoáng nhoáng, một ngọn trường kiếm đã áp gần ngay trước mặt Tiêu Ngũ và quát ngay:

– Này Tiêu Ngũ! Có muốn sống không?

Đồng thời lại có tiếng lanh lảnh như con gái:

– Kìa! Bộ râu của ông còn chưa bị dê gặm hết sao mà nay lại dài đến thế?

Tiếp theo tiếng nói, cánh tay ngọc nhoáng nhanh qua phía cằm của người râu dài, khiến cho người này kêu đau thét lên.

Tà áo xanh của Nam Bút đang phùn phụt bay tới với thân hình ướt mèm của Sở Canh, đồng thời lên tiếng:

– Linh và Liễu cô nương hãy khoan đã!… – Quay nhanh sang phía Tiêu Ngũ:

– Tiêu Ngũ! Chủ nhân các ngươi đâu?

Tiêu Ngũ bị cây kiếm Lệ thủy tinh của Thượng Quan Linh quét nhanh một đường, đôi lông mày rụng xuống tua tủa, mặt cảm thấy rất lạnh, Liễu Mi càng hung dữ hơn Thượng Quan Linh, cánh tay ngọc giơ ra, cả một chòm râu của Tư Đồ Cống lại bị bứt trụi trơn. Hai người vừa tức vừa giận, nhưng vì khiếp oai của Nam Bút tiên sinh, nên không dám giở hỗn, vội cung thần bẩm ngay rằng:

– Chủ nhân hiện đang tại kinh đô, nay bọn tiểu nhân đang lo áp giải mớ hàng qua sông!

Nam Bút vốn là kẻ quân tử, nghe xong không nghi ngờ gì, nhưng Thượng Quan Linh nghĩ thầm ngay, đám bộ hạ của Bắc kiếm Phổ Côn, nay xuất hiện như thế này, không phải là chuyện ngẫu nhiên, chắc có liên quan đến chuyện đồn đãi gì với cuộc thịnh hội với Mạc Bắc? Nay tình cờ gặp chúng tại đây, thế là đã có người đưa đường chỉ lối cho bọn mình khỏi tốn thì giờ!

Nghĩ vậy bèn nói nhỏ với Nam Bút, bốn người lo theo dõi ngay mười người của đám Tiêu Ngũ và Tư Đồ Cống. Sau khi qua khỏi mặt sông Hoàng Hà, đám Tiêu Ngũ lo lên ngựa, ra roi cho sải về hướng Bắc. Quả đúng sự dự đoán của Thượng Quan Linh, bốn người lo theo ngay phía sau. Liễu Mi đi sau thấy hai cỗ xe này có vẻ kỳ lạ chỉ thấy mui xe cao ngồng, nàng lập tức nghĩ ra được vài phần, cười nói ngay với Nam Bút tiên sinh rằng:

– Thưa Nam thúc thúc, nếu ngài ngồi trong cỗ xe, chắc không bị đụng đầu nhỉ?

Nam Bút sực hiểu ngay, hai người ngầm trao với nhau một nụ cười thông cảm, lập tức cho ngựa sái nhanh tới phía xe, thình lình chia nhanh sang hai bên tả hữu của xe, nhanh như chớp mở bung ngay cửa xe. Nhìn vào trong, chỉ thấy một người ngồi uy nghi bên trong…

Nam Bút lên tiếng ngay:

– Đại sư huynh!

Phổ Côn Bắc Kiếm ngượng ngạo, cười không hẳn cười chậm chạp nói:

– Ừ! Lão tứ, đi đâu vậy?

Nam Bút trả đòn ngay rằng:

– Tiểu đệ đâu có thể quên được mối tình thủ túc của sư huynh đệ, nên ngược mạn Bắc cũng chỉ cốt thăm xem tin tức của Nhị sư huynh và Tam sư huynh ra sao…

Phổ Côn lạnh lùng rằng:

– Lão Nhị và lão Tam chỉ khéo bày trò rối rắm, đừng nói là hiện nay hai người không có mặt tại miền Bắc, dù cho có đi nữa, với sức của lão Tứ ngươi cũng không sao cứu nổi họ…

Câu nói này vô tình đã vạch áo cho người xem lưng, khác nào như đang nói Tây Đạo và Đông Tăng đang gặp nạn tại miền Bắc.

Nam Bút máu nóng sôi lên rằng:

– Vì hai sư huynh, dẫu cho tiểu đệ có phải đạp trên lửa bỏng đi nữa, cũng không thể nào từ nan cho được?…

Phổ Côn thấy Nam Bút đã kiên quyết như thế, không biết nói gì hơn, Nam Bút lại nói tiếp thêm:

– Nay dám phiền đại sư huynh cho biết, hiện nay Nhị sư huynh và Tam sư huynh ở đâu?

Phổ Côn Bắc Kiếm đâm ra do dự, Liễu Mi lên tiếng khích ngay:

– Thưa Nam thúc thúc, người ta là Bắc kiếm Phổ Côn dù sao cũng là một tôn sư của danh phái, nếu biết, thế nào chả nói rõ ra, nhưng e cho ngài có ẩn tình bí mật bên trong nên cảm thấy không tiện thố lộ cũng nên…

Phổ Côn Bắc Kiếm nhìn ngay Liễu Mi, nở một nụ cười miễn cưỡng và hình như đang công nhận lời nói của Liễu Mi là đúng. Nam Bút tiên sinh và Liễu Mi bất giác giật mình, nếu vậy thì Tây Đạo và Đông Tăng chẳng đã bị người giam cầm rồi sao! Nhân vật này khiến cả đến Bắc Kiếm cũng phải ngần ngại không dám nói thẳng ra!

Nhưng Nam Bút vẫn nhớ hai sư huynh của mình nên không ngần ngại theo sát xe hỏi rõ nguyên do. Phổ Côn Bắc Kiếm đành lạnh lùng rằng:

– Này Lão Tứ, đời người ta, ai cũng có lần chết, nhưng nếu biết mình có thể sống thêm được vài ngày nữa, ta tin chắc không ai dại gì đi tìm ngay cái chết cho mau đâu! Này, theo ta được biết, Tây Đạo, Đông Tăng tuy chưa bị chết, nhưng sự gần cái thết đã hiển nhiên, nếu hai chúng ta không đi tìm họ thì thôi, còn không, thế nào cũng chết chung một lúc với họ! Thử hỏi, như thế có ích gì! Chắc ngươi tưởng rằng ta không niệm tình thủ túc chứ gì? Nhưng có lẽ ngươi chưa nghĩ đến, ta đâu phải kẻ vô tâm, mà chẳng qua là không đủ sức… ta… hiện nay… hiện nay…

Giọng nói Phổ Côn hạ thấp và liếc nhìn xung quanh, hình như Bắc Kiếm sợ có người nghe rõ ý nói của mình vậy. Lúc này xung quanh xe, ngoài trừ Nam Bút, Thượng Quan Linh, Liễu Mi và Sở Canh ra, thì toàn là những thủ hạ tâm phúc của Bắc Kiếm đương nhiên là không sợ có kẻ lạ nghe lóm! Mà nhất là tiếng nói của Phổ Côn lại nhẹ thấp, thậm chí cả đến Thượng Quan Linh và Sở Canh cũng không thể nào nghe rõ, kẻ nghe rõ được chỉ có Nam Bút và Liễu Mi, người trước nghe được nhờ công lực, nhưng Liễu Mi chỉ nhờ nhanh trí của mình.

– Hà… – Tiếng thở dài chán nản, nhưng cũng được Nam Bút và Phổ Côn phát ra một lúc…

Liễu Mi giật mình, trong thời gian chớp nháy này, nàng hiểu ngay, vị Bắc Kiếm tuy là từng gây tai ác đa đoan trong giang hồ, nhưng nay xem ra hình như lão cũng còn nghĩ đến chút tình hương hỏa chi giao (kết nghĩa đèn nhang).

Nhưng nhân vật nào mà lại có thể giam hãm nổi Tây Đạo, Đông Tăng như vậy kìa? Khiến nỗi cả Bắc Kiếm cũng không dám ra tay để cứu? Nghĩ vậy Liễu Mi càng lắng tai theo dõi tiếng nói trong xe…

– Ta còn muốn sống thêm vài ngày…

Liễu Mi suýt kêu rú lên, Phổ Côn không dám đi cứu hai sư đệ, cũng không muốn Nam Bút đi mạo hiểm, như vậy đối phương phải là một tay lợi hại. Tây Đạo, Đông Tăng chỉ còn nước chờ chết, dù cho đi cứu cũng không cứu vãn nổi tình thế. Vậy nhân vật ghê gớm này là ai kia?

Với trí thông minh, và kinh nghiệm hiểu biết của vị thứ nữ Thanh Thông Bang, Liễu Mi quả không thể nào tìm ra được một người đệ nhất nào trong làng Hắc Đạo giang hồ cả? Những kẻ hơi có chút tiếng tăm, chỉ có Độc Ma Vô Phong ảnh, lão bà bịt mặt bí mật, nhưng với nhóm này, Thượng Quan Linh và Liễu Mi cũng dám ngang nhiên ra mặt chống đối với họ, lẽ đương nhiên không phải là hai người này!

Liễu Mi nghĩ ngay đến Tỉ Vương! Hành tung thần xuất quỉ nhập như thế, không lý chính người này sao? Liễu Mi cứ lo nghĩ quanh quẩn mãi đến vấn đề này. Đoàn người vẫn đang tiếp tục đi về hướng Bắc. Nam Bút đã bỏ ngựa vào ngồi chung trong xe với sư huynh Bắc Kiếm. Liễu Mi càng để ý nghe lóm cuộc nói chuyện của hai người. Từ lúc Nam Bút vào ngồi trong xe, tiếng nói đâm nhỏ hẳn, Liễu Mi không làm sao nghe được, nàng bèn đem những thắc mắc của mình nói với Thượng Quan Linh. Nhưng vốn là người ngay thắng, chàng chỉ ước mong trong chuyến đi này, làm sao mà tìm cách để thay đổi được tác phong khó tính của vị sư bá, khiến cho ông ta có thể hợp tác chặt chẽ với thầy mình để lo tìm kế cứu nạn cho Nhị sư bá và Tam sư bá. Với danh lừng lẫy Càn Khôn Ngũ Tuyệt xưa kia, ai mà không biết họ thuộc vào trung kiên phần tử trong nhóm người nghĩa hiệp, chỉ vì sau này, bỗng Bắc kiếm Phổ Côn sư bá biến chứng thay đổi tính nết, ba hồi ác ba hồi thiện, thanh danh bị lan truyền ra, khiến cho Càn Khôn Ngũ Tuyệt bị ảnh hưởng lớn. Nếu ngày nay Đại sư bá có thể thay đổi lại tính nết xưa kia quả là một sự mong ước và lý tưởng nhất của mọi người, Thượng Quan Linh với danh nghĩa là người nối nghiệp của Càn Khôn Ngũ Tuyệt, chàng đang cố cầu nguyện cho sự suy nghĩ của mình thành sự thực!

Thỉnh thoảng có tiếng đàn của Bát long ngân từ trong vọng ra, những âm thanh thánh thót này như đang kể lại những mối tình kết nghĩa của sư huynh đệ nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt… suốt dọc đường, đám bộ hạ của Phổ Côn Bắc Kiếm trầm lặng, Thượng Quan Linh và Liễu Mi cũng đang mãi lo suy nghĩ theo tư tưởng rối rắm của mình, nên cũng mặc họ, chỉ riêng có Sở Canh, thỉnh thoảng lo kiếm chuyện gây gổ. Nhưng Tiêu Ngũ và Tư Đồ Cống cố nhịn, Liễu Mi cũng phải lên tiếng can khuyên Sở Canh. Đoàn người vẫn kéo thẳng về hướng Bắc, trung tuần tháng chạp, họ đã gần đến Cư Dung quan khẩu của Trường Thành, chỉ thấy thiên hạ ở đây ai nấy đang lo sửa soạn để đuổi năm cũ để nghênh đón một cái Tết sắp tới thế mà đoàn người lữ hành của mười mấy mạng bộ hạ của Phổ Côn, cộng thêm với bốn người phía Nam Bút, ngựa, xe, vẫn tiếp tục vượt quan khẩu để lên ngược mạn Bắc hoang lạnh.

Thượng Quan Linh mãi nghĩ đến cách phục thù, trong lòng băn khoăn rối loạn; Liễu Mi lại nghĩ đến gia đình, vì hễ mỗi lần hết năm Tết đến, trong Thanh Thông Cốc vui nhộn hơn đâu hết, nhất là hai cô gái Thanh Thông Cốc, dù bận gì cũng lo về nhà đoàn tụ với cha già để ăn Tết. Nhưng năm nay khác lệ hẳn, Liễu Mi không biết chị Liễu Văn theo vị phiên tăng Thiên Trúc ấy đi về phương trời nào? Chắc họ không về Thanh Thông Cốc rồi, năm nay vắng bóng cả hai cô gái trong nhà, lẽ đương nhiên cha già buồn lắm. Càng nghĩ, nàng càng buồn, nhưng vì chồng chưa cưới của mình đang bận chuyện thù oán bên người, mà lúc này mình không thể nào bỏ rơi được, nàng cố miễn cưỡng đè nén nỗi lòng nhớ nhà của mình để cùng chịu lo chia xẻ mối nguy nan với người yêu trong lúc vất vả này!

Hôm đó đoàn người ngựa của họ đã đến Cư Dung quan khẩu những người từ quan ngoại về khá đông, nhưng lúc này kẻ ra đi tuyệt không hề thấy ai, thành ra đám quân canh cổng quan nhìn họ với những đôi mắt ngạc nhiên. Ra khỏi quan khẩu, dãy Trường Thành từ từ biến dạng sau lưng họ, cuộc hành trình vẫn tiếp tục âm thầm tiến về miền hoang vu lạnh lẽo của mạn Bắc. Nam Bút bỗng chui ra khỏi xe để đi ngựa, đồng thời ra tay vẫy Thượng Quan Linh, Liễu Mi và Sở Canh lại.

Thượng Quan Linh vội lên tiếng hỏi ngay rằng:

– Thưa thầy! Chúng ta phải theo Đại sư bá đi mới biết đường lối chứ?

Nam Bút tiên sinh chưa trả lời, Liễu Mi đã phì cười ngay rằng:

– Nam thúc thúc đời nào chịu ra tay không. Lẽ đương nhiên là thúc thúc đã biết đường biết lối rồi, anh hỏi gì cho thêm lôi thôi vậy?

Nam Bút có vẻ trịnh trọng nói:

– Đại sư bá của con nói với ta, nay Nhị sư bá và Tam sư bá của con đều bị giam hảm tại Bách Linh Miếu của Đại Thành ở Mạc Bắc, và chính nơi đó sắp sửa có một thịnh hội, lão bà bịt mặt thế nào cũng sẽ tham dự cuộc thịnh hội này…

Thượng Quan Linh nghe vậy mừng rỡ, càng tăng mau thêm tốc độ để mong sao chóng đến nơi, lúc này mọi người đã tách rời đoàn của Bắc kiếm Phổ Côn.

Trong cuộc hành trình lạnh lẽo này, Nam Bút kể cho ba người nghe chuyện của Bắc Kiếm! Quả nhiên sư huynh mình đã có nỗi lòng thầm bí mà không thể nào thố lộ ra được, trên giang hồ chỉ biết Bắc kiếm Phổ Côn là một nhân vật khét tiếng lừng danh, vì nổi tiếng nên khó phân biệt thiện ác, nên chẳng ai là người không ngán nể đôi chút, nào có ai hay cho trong mấy năm gần đây sư huynh đang phải sống trong cảnh đau khổ. Bởi Bắc Kiếm nay mất hẳn tự do, bị người ta kềm hãm, biến thành con cờ cho người ta lợi dụng sai khiến, nói ra lẽ đương nhiên không ai có thể tin được, nhưng chính đó là sự thật. Bắc kiếm Phổ Côn xưa kia tính tình vốn kiêu căng, và hay chống đối với ý kiến của ba vị sư đệ, tự ý làm theo ý thích của mình, và đã gây nên một việc ác thứ nhất, và nhờ thế mà bị một tên Ma đầu mua chuộc ngay?!

Về sau, tiếng tăm trên giang hồ bị sa sút hẳn, nhờ được ba vị sư đệ thương tình cố nâng đỡ, trong lòng Bắc Kiếm đã ăn năn hối hận, tính thay đổi lại nếp sống, nhưng vì Bắc Kiếm hình như đã bị sa lầy mỗi ngày mỗi sâu thêm, phần biết sức mình không phải đối thủ, thế nào cũng bị người ta hạ độc thủ, phần lại tham lam lợi lộc nên không bao giờ cải tiến nổi bản tính của mình, từ đó không dám cải tà để qui chánh. Và chính Bắc Kiếm và bộ hạ đều phải phục vụ hết mình cho tên Ma đầu không biết danh ấy, chẳng những thế, mà cả đến tên Độc Ma trên Vô Ảnh Phong, và kẻ mới nổi danh là lão bà bịt mặt, cùng với phái Điểm Thương ở Vân Nam, và cùng với vô số nhân vật đã nổi danh của Hắc Bạch hai đạo, hình như đã hoàn toàn, hoặc trực tiếp hay gián tiếp, đều đã bị tên ác ma vô danh này thao túng ngấm ngầm hết.

Độc Ma tự hào với thiên hạ là trong võ lâm giang hồ chưa ai được thấy bộ mặt thật của y ra sao, nhưng đem so sánh với tên quái nhân ma đầu kia, thì càng thua người ta quá xa, vì tên này có thể hóa thân cả muôn ngàn bộ mặt khác nhau, thần xuất quỉ nhập, và chính đến những kẻ bị y kềm hãm và thao túng trong tay cũng đều không biết con người thật của y ra sao! Và lẽ đương nhiên không ai có thể biết tung tích đích xác của y ở đâu! Và quái nhân này chỉ trông cậy vào tín vật của y để truyền ban mệnh lệnh, và ai nấy phải lo thi hành cho đúng, nếu vô phúc cho ai có vẻ nghi ngờ hay chểnh mảng, ắt khó mà giữ nổi tính mạng, thủ đoạn lẽ đương nhiên là dã man tàn nhẫn, nên khiến cho những người lo phục vụ cho y đều phải nơm nớp lo sợ, và ai nấy cảm thấy mất hẳn tự do, tuy có lòng hướng thiện, nhưng lại không có sức để phản đối lại, nên liên miên ăn năn đau khổ trong những tội lỗi của mình gây ra.

Và chính trong sự an bài này của tên Ma đầu vô danh ghê gớm ấy, hạ lệnh cho Phổ Côn nhử ngay Thiên Si Tây Đạo ra quan ải, và bắt giam, tiếp sau là Đông tăng Túy Đầu Đà tìm đến cũng chung luôn số phận. Mục đích của tên Ma đầu là gì? Theo Bắc kiếm Phổ Côn nói, quái nhân này đã tính cả đến mưu kế để bắt Đông Phương Tướng, nhưng vì Đông Phương Tướng đã mất, nếu xét ra, hình như đang lo đối phó với Độc chỉ Thôi Bác, và dùng ngay Tây Đạo để làm vật ép buộc Thôi Bác phải ra mặt, và rất có thể vụ này có liên quan đến kho tàng vô giá của Hoàng Đảo! Gần đây, Phổ Côn lại được lệnh đi ngay về Bách Linh Miếu Mạc Bắc làm chuyện gì vẫn còn chưa rõ, nhưng có điều biết là có nhiều người tới đó lắm, hình như sẽ có một thịnh hội được cử hành tại đó thì phải! Nên khi Phổ Côn gặp sư đệ Nam Bút tại mặt sông băng giá của con sông Hoàng Hà, tâm tình buồn nản không muốn gặp mặt làm gì, nên cứ ngồi trong xe, sau bị phát giác, Nam Bút vào ngồi chung với đại sư huynh, và cuối cùng bị cảm tình của sư đệ khiến cho mủi lòng nên đã thố lộ bí mật.

Và sợ bị tên quái nhân phát giác, nên sau khi ra khỏi Cư Dung quan khẩu, Phổ Côn và Nam Bút đành chia tay nhau.

Chuyến đi cứu người và trả thù lão bà bịt mặt, cùng với sự tìm rõ manh mối xem ai là Tỉ Vương trong cuộc đi Bách Linh Miếu Mạc Bắc này, đương nhiên là một chuyến đi vô cùng nguy hiểm, chỉ e ngại với sức lực quá nhỏ của bốn người khó mà thành công cho được. Phổ Côn tuy rất muốn giúp đỡ, nhưng đã tỏ ý rõ là không dám mạo hiểm, vậy thì hy vọng càng trở nên mỏng manh. Lúc này, nếu có Độc chỉ Thôi Bác, thần ưng Đại Hắc và Chu Hoàng công tử đến, với sức hùng hậu như vậy, thế nào cũng có thể mở cuộc giao tranh với đám tà ma một trận kịch liệt, nhưng khốn nỗi Thôi Bác lại ở tít miền Ngọc Thụ của Thanh Hải, kẻ Nam người Bắc cả muôn ngàn dặm xa xăm như thế!

Thầy trò Nam Bút luôn luôn chỉ vì nghĩa quên sinh, thậm chí việc đó luôn nguy hiểm hay không, hai thầy trò chẳng cần nghĩ đến. Sở Canh vốn là con người cương trực chất phác, thấy hai thầy trò họ không hề tỏ ý chùn bước trước cảnh uy hiếp lớn lao như thế, máu anh hùng của Sở Canh lại càng sôi động hơn ai, chỉ thấy chàng hiên ngang lẫm liệt tiến đi như sắp sửa đối phó với đại kình địch đâu đây! Chỉ riêng nàng Liễu Mi, nàng tuy không phải là người sợ chết, mà vì nàng là người đắn đo kỹ lưỡng, nay chuyến Bách Linh Miếu thịnh hội này, rất có thể là vì quái nhân Đại Ma đầu vô danh đã triệu tập hết dư đảng, để mưu đồ chuyện gì đây, với thực lực tập trung đông đủ của họ như thế, bốn người phía mình quyết không thể nào là địch thủ của họ được. Nàng nghĩ chuyến đi này của bốn người, nếu bốn người không bị chết, ắt cũng không sao tránh khỏi số phận của Tây Đạo, Đông Tăng bị bắt trọn ổ hết!

Thêm vào đó, Mạc Bắc là một nơi hoang vắng lạnh lẽo xa xăm hẳn Trung Thổ, tin tức khó lưu thông, làm sao có ai đến để cứu? Dẫu cho Thôi Bác ra tay? Chỉ sợ thế lực bị cô đơn yếu ớt, cũng chưa chắc gì là đối thủ của chúng! Liễu Mi thậm chí nghĩ ngay cả đến vị quái nhân bí mật ấy rất có thể đã có một tâm chí lớn lao, muốn làm vua tất cả các phái trong giang hồ, chỉ xem cách hắn chi phối các thế lực và lợi dụng đám tà ma trong Hắc Đạo, nay ngang nhiên đã quản lãnh nổi một thế lực to lớn như thế thì đủ biết! Giờ đây, trong nhóm nghĩa hiệp chánh phái, kẻ công lực tuyệt cao và có thể ra mặt để lãnh đạo quần hào, đương nhiên chỉ có Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác, nhưng Liễu Mi biết rõ hơn ai hết, nếu Độc chỉ Thôi Bác không có người giúp sức, cũng khó lòng mà thành công nổi. Vậy thì cuộc hành trình của bốn người cần phải đắn đo kỹ lại mới được!

Tiếp tục mạo hiểm một chuyến? Hay quay về Trung Nguyên, báo tin ngay cho Thôi Bác, kết hợp các tay hiệp nghĩa, rồi mới cử cuộc đại càn quét đám tà ma này. Liễu Mi cũng hoài nghi luôn cả về lòng thành thật của Phổ Côn Bắc Kiếm, nàng chỉ ngại chuyến đi của bốn người đây đã nằm hết trong chương trình dự tính của đối phương, bốn người có bị bắt cũng còn là chuyện nhỏ, nhưng quan hệ lớn nhất là phe bên chánh phái sẽ mất đi một lực lượng đáng kể, rất có thể vì thế mà gây nên hậu quả nghiêm trọng, khiến cho những âm mưu của kẻ dã tâm thành công, và trên giang hồ, chánh nghĩa sẽ bị tiêu trầm, tà ma hoành hành, và gây nên cảnh khủng khiếp của thảm kịch gió máu mưa tanh từ đây trong võ lâm.

Liễu Mi càng nghĩ càng cảm thấy kinh sợ! Nàng cảm thấy bốn người càng lúc càng tiến gần về cảnh ác mộng của tử thần. Nàng không sao nín nổi, bèn nói ngay ra những ý nghĩ của mình để mọi người suy nghĩ kỹ lại xem! Sau khi nàng Liễu Mi cố trình bày hết ý nghĩ lợi và hại của mình, Sở Canh không có ý kiến gì, xưa nay đều như là thiên lôi nghe sai đâu là đả đó, lúc này nghe nàng nói chỉ gật gù cho là nàng bàn đúng lắm!

Nhưng thầy trò Nam Bút chủ trương là cứ mạo hiểm thử xem, vì Nam Bút tin rằng Bắc Kiếm sư huynh không nói láo với mình, và lẽ đương nhiên cũng không tiết lộ tung tích của bốn người trong chuyến đi này! Liễu Mi đành chịu và theo ý hai người. Hôm ấy họ đến gần Mã Quần Sơn một sa mạc lớn là Khố Ngộ Đại Khắc, lúc này mọi người phải đổi ngựa để đi bằng lạc đà, đem theo những lều vải, lương thực và nước uống chuẩn bị cho một cuộc vượt sa mạc. Tối đến, họ căng ngay lều vải lên đi nghỉ, Thượng Quan Linh và Sở Canh lo đi kiếm đá để đè lên vải. Nhưng trong bãi sa mạc, đừng nói là không có cây cối, mà cả đến đá cũng khó thấy, hai người thất vọng, đang tính quay về. Sở Canh bỗng kêu lên:

– Thượng Quan Linh! Có đây rồi!

Thượng Quan Linh nhìn theo chỗ Sở Canh đang chỉ, quả nhiên cách đó không xa, có một mỏm đá nhô hắn ra mặt cát. Nhưng hòn đá này quá lớn, rõ ràng là không thể nào dùng được, Thượng Quan Linh đã không tính đi bê làm gì, nhưng Sở Canh bỗng nổi hứng, đòi thử sức với Thượng Quan Linh. Thượng Quan Linh cũng nổi hứng nhận lời ngay! Hai người đưa nhau lại tảng đá nhô trên mặt cát ấy, chỉ thấy đá này bị cát vùi lấp già nửa phía dưới, ước lượng cũng nặng đến sáu bảy trăm cân. Sở Canh ra tay trước, hai tay ôm vòng, cố sức rút, nhưng tảng đá lớn không hề nhúc nhích, bèn quay sang gọi:

– Thượng Quan Linh! Giờ đến phiên huynh lại thử xem sao!

Thượng Quan Linh hớn hở bước ngay lại, đứng vững ngay tấn, giang hai tay ra ôm chắc ngay vào tảng đá lớn, chàng hét lớn lên một tiếng:

– Lên!

Quả nhiên sức công hiệu của Tuyết bi tiên hoa như công tái tạo, nay Thượng Quan Linh đã nghiễm nhiên trở thành tay thần lực cái thế, tảng đá chôn sâu nơi mặt cát, đã bị chàng nhấc bổng hẳn lên! Sở Canh vỗ tay hoan hô.

Thình lình phía dưới tảng đá bay vọt lên một vật… Cả hai kinh ngạc nhìn theo, trong ánh chập choạng của buổi tối vật ấy là đà hạ ngay trên bãi cát ngay trước mặt Sở Canh và Thượng Quan Linh. Hai người nhìn kỹ lại, bất giác tròn xoe mắt và hả miệng ngẩn người, ai nấy trong bụng nghĩ thầm: Quái lạ! Sao lại có thể kỳ lạ như thế kìa!?

Thì ra đó là một người. Đúng là một người! Đứng cạnh họ xa lối hai thước! Càng kỳ lạ hơn nữa là người này lại ăn mặc theo sắc phục của miền Trung Thổ, toàn thân nho phục huyền đen, trông nhã mắt vô cùng. Tuổi lối ngoài ba mươi, da mặt trắng, đôi mắt long lanh đang nhìn vào mặt Thượng Quan Linh, trong cái nhìn vừa đượm vẻ kinh ngạc và vừa như hờn giận… Lúc này cả hai bên đều ngẩn ra, Sở Canh nóng tánh chịu không nổi, chàng cũng không muốn cho người kia nhìn trừng mãi Thượng Quan Linh như thế, lên tiếng ngay rằng:

– Ê này! ông bạn nhìn gì mà có vẻ hung tợn đến thế Có biết nhìn như vậy là mất lịch sự lắm không?…

Người nọ không trả lời, chỉ hừ một tiếng bằng giọng mủi!

Sở Canh đã muốn nổi ngay cơn tam bành, Thượng Quan Linh vội ngăn ngay lại. Hình như chàng hiểu ngay dưới phiến đá to lớn này, chắc có một huyệt động nhỏ, và huyệt động nhỏ này chính là một nơi ngủ tránh gió tránh lạnh lý tưởng của miền sa mạc mênh mông này, nay mình vô tình ôm nhổ hòn đá này lên, khác nào như đi rỡ ngôi nhà che mưa mưa nắng của người, hỏi ai mà không giận cho được! Nghĩ vậy chàng vội niềm nở thi lễ rằng:

– Tại hạ Thượng Quan Linh, vô ý nên đã đắc tội với các hạ, vậy mong cắc hạ thứ lỗi đột ngột cho…

Vừa nôi vừa khom lưng thi lễ, nhưng người kia ngang nhiên không thèm trã lời chỉ nghe hắn lại lạnh lùng hừ lèn một tiếng bằng giọng mũi.

Sờ Canh nắm ngay tay lại tính bước lên động võ, Thượng Quan Linh vội ngăn ngay lại và vẫn niềm nỡ hỏi:

– Dám hỏi các hạ tôn danh đại tính?

Người nọ bị sự khiêm tốn ôn tồn của Thượng Quan Linh, hình như cũng cảm thấy ngượng nghịu lạnh lùng rằng:

– Ta là Bắc Ưng Lãnh Lạc…

Bắc Ưng Lãnh Lạc! Thượng Quan Linh quen lắm, vốn là một vị đại hiệp của miền quan ngoại Cư Dung Quan đây, nay không ngờ lại được gặp đây, Thượng Quan Linh ngạc nhiên ồ lên một tiếng, vội rằng:

– Hóa ra là Lãnh tiền bối! Vãn bối Thượng Quan Linh, và người này là Sở Canh huynh của vãn bối…

Bắc Ưng Lãnh Lạc quả đúng với tên họ Lãnh! Lúc này lên tiếng lạnh lùng:

– Biết rồi! Nhưng ngươi là môn hạ của ai?

Đối với những vị tiền bối hiệp nghĩa, Thượng Quan Linh cung kính thưa:

– Vãn bối là môn hạ của Càn Khôn Ngũ Tuyệt, gia sư là Nam Bút tiên sinh Gia Cát Dật, còn Sở huynh đây là Hương chủ của Thanh Thông Bang…

Bắc Ưng Lãnh Lạc, khẽ ừ một tiếng, đầu gật gù, sắc mặt có vẻ hòa nhã hơn trước… Sở Canh cũng từng nghe danh của Bắc Ưng Lãnh Lạc, chàng biết rằng trên giang hồ có một người khét tiếng lừng danh như thế, nhưng bảy tám năm về trước, người này bỗng nhiên ẩn tích hẳn miền sa mạc, không còn thấy xuất hiện tung tích miền Trung Thổ nữa, và thiên hạ ai nấy đã tưởng người này qua đời! Lúc này Sở Canh cũng tỏ vẻ kính trọng nói:

– Thưa Lãnh tiền bối, đáng lẽ bọn cháu không nên kinh động đến giấc nghỉ của ngài mới phải… Nhưng vì chuyện vô tình, vậy tiện thể xin mời ngài qua lều bọn cháu nghỉ cho vui!

Bắc Ưng Lãnh Lạc đang phân vân, Thượng Quan Linh lại càng cảm thấy áy náy về hành động phá ổ của mình để khiến cho người ta mất nơi nghỉ lý tưởng, vội nói rõ thêm bên lều có gia sư Nam Bút và có thứ nữ Thanh Thông Bang cùng đi trong chuyến này, và họ đang dựng lều để nghỉ ngơi, mời ngay vị Lãnh Lạc tiền bối rời bước sang cho vui.

Bắc Ưng Lãnh Lạc mặt lộ vẻ vui rằng:

– Thôi cũng được. Nay hai cậu đã phá mất nóc nhà của ta rồi, đêm nay cũng chả biết phải dung thân vào đâu chẳng thà sang chen chung với hai cậu cho ấm cũng hay!

Thượng Quan Linh lo đi chung với vị tiền bối họ Lãnh, Sở Canh lo chạy về trước để thông báo. Nam Bút tiên sinh và Liễu Mi vội bước ra khỏi lều để nghênh đón, và vị Bắc Ưng Lãnh Lạc này đã vì lâu không ở miền Trung Thổ, nên đối với nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt chưa hề quen mặt nhau, chẳng qua đôi bên chỉ được nghe tiếng nhau mà thôi, nay được gặp trong lều, Liễu Mi dọn thức ăn và rượu ra, rồi mọi người vào tiệc vui vẻ. Trong bữa ăn, ai nấy trò chuyện vui vẻ. Bỗng Bắc Ưng Lãnh Lạc hỏi mọi người chuyến đi này có mục đích gì, thấy là người đồng đạo hiệp nghĩa trong giang hồ, Nam Bút cũng tình thật bày tỏ tự sự, nhất là đi tìm hai vị sư huynh và đi gặp lão bà bịt mặt.

Vị Bắc Ưng Lãnh Lạc tuy là thổ địa của miền sa mạc này, nhưng lại chẳng hay biết gì về những chuyện này, chỉ lên tiếng hứa là sẽ tận lực giúp sức trong việc thăm tin, lời ăn tiếng nói đều tô ra vẻ vô cùng thành khẩn, rồi câu chuyện dần dà chuyển hướng sang đến phía Thượng Quan Linh. Lãnh Lạc bất giác giơ ngón tay cái lên khen ngay vị cao túc của Nam Bút tiên sinh, quả là bực thần lực cái thế, chỉ trong chớp nháy, mà đã ngang nhiên cử nổi một khối đá nặng sáu bảy trăm cân! Thượng Quan Linh vội khiêm tốn cảm tạ, còn vị Nam Bút bề ngoài tuy khách sáo khiêm tốn, nhưng nghe ái đồ mình được khen trong lòng sung sướng vô cùng, sau những câu khen lẽ dĩ nhiên cũng nhiều câu hỏi thắc mắc về thần lực của Thượng Quan Linh do đâu mà được vậy. Sở Canh đang đứng cạnh nghe vậy, bèn khai toạc hết những sự kỳ ngộ của Thượng Quan Linh, nào được ăn Tuyết bi tiên hoa, nào không sợ đao kiếm phạm tới v.v… Khiến cho vị Bắc Ưng Lãnh Lạc ngưỡng mộ vô cùng. Nào ngờ câu chuyện của Sở Canh đã vô tình gây nên mầm họa cho Thượng Quan Linh sau này! Quả là một chuyện mà nào ai có thể lường trước được?

Trong khi mọi người đang ngon giấc nồng, đã có một người âm thầm len lén bò dậy, và mò dần đến phía Thượng Quan Linh chăm chú ngó chàng. Mắt thấy mọi người đang ngủ say, chỉ nghe tiếng người này lảm nhảm rằng:

– Nếu quả là kỳ dị như thế, để ta thử ra tay xem sao?

Một làn ánh quang nhoáng nhanh bả vai Thượng Quan Linh… Sáng hôm sau… khi Thượng Quan Linh tỉnh dậy, lúc mặc áo, Liễu Mi bỗng thất kinh rú lên. Nhảy vụt ngay sang xem bả vai bên trái của Thượng Quan Linh, chỉ thấy một vết đao thương dài lối năm tấc, tuy không sâu và rộng, cũng không thấy máu me, lại một vết sẹo hơi bầm.

Liễu Mi hỏi ngay phải chăng đó là vết thương bị đao chém? Thượng Quan Linh cho hay là chàng xưa nay đâu có bị thương bả vai vậy đâu, vết thương này có vẻ kỳ lạ, hình như mới có gần đây, chàng còn nhớ tối qua cởi áo đi ngủ, trên vai nào đâu có dấu vết gì đâu, sao lại có một đêm, mà lại xảy ra chuyện quái gở đến thế? Hai người bàn thì thầm với nhau, nhưng khi nhìn đến vết thương, rõ ràng là vết của đao kiếm gây nên, một nơi xa vắng hoang vu như sa mạc đây, có ai tới đây để ám sát Thượng Quan Linh kìa? Không lý ngoài cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ có thể gây thương tích cho Thượng Quan Linh ra, lại còn thêm một báu vật khác có thể hại nổi chàng nữa sao? Nhưng điều lạ hơn hết mọi người không ai hay biết đã đành, mà chính cả bản thân của Thượng Quan Linh cũng không hay biết gì mới lạ, nếu đó là hành động của người gây nên, vậy thì đủ biết thân pháp và thủ thuật của người ấy đáng sợ đến mực nào, đồng thời về thủ pháp và binh khí cũng quá sức tưởng tượng kỳ lạ của nó!

Nếu bảo là người ta có ý giết hại, sau khi đã được lợi thế như vậy, tại sao họ lại không đoạt luôn mạng chàng cho rồi? Thượng Quan Linh nghĩ mãi không vỡ lẽ. Chàng bèn cho rằng: đây không phải là vết thương bị đâm chém gì, mà có lẽ bị loại sâu bọ kỳ quái gì của miền sa mạc gần đây, vì miền sa mạc luôn luôn có những chuyện quái gở không thể nào giải thích nổi! Riêng phần Liễu Mi, nàng lo vô cùng, bất cứ chuyện gì của Thượng Quan Linh, nàng còn lo hơn là chuyện của bản thân mình, nàng nghĩ thầm, vụ này không những lạ lùng quái gở mà còn đáng sợ là khác! Liễu Mi có tưởng tượng đến một giả thuyết rùng rợn nhất cho rằng một người bí mật nào, nhân đêm khuya đã len vào lều vải, đã ngang nhiên che nổi tai mắt của các tay cao thủ để gây thương tích cho người yêu, đã thế mà không để lại máu tích, vết thương kỳ lạ, người này là ai? Binh khí này là loại binh khí gì?

Càng nghĩ Liễu Mi càng cảm thấy ái ngại lo lắng! Không dám sơ ý, nàng chỉ còn cách cẩn thận đề phòng. Cuộc khởi trình bắt đầu, Bắc Ưng Lãnh Lạc và Sở Canh cùng ngồi một lạc đà. Đoàn người rong ruổi trên bãi sa mạc. Xa xa một trang viện xuất hiện trước mặt mọi người. Trên lưng lạc đà, Bắc Ưng Lãnh Lạc lên tiếng:

– Thưa chư vị, đó là Lãnh Ưng Viện của Sa La Tinh, nay được tạt qua tiện xá, Bắc Ưng Lãnh Lạc tôi ít nhất cũng phải tận chút tình địa chủ để mời quí vị ghé vào nghỉ ngơi chút cho vui…

Mọi người đương nhiên không nỡ làm phật lòng địa chủ, lại nữa cuộc hành trình cũng đã khá lâu rồi, ai cũng cảm thấy mệt mỏi cần phải tạm nghỉ.

Khi đến trước Lãnh Ưng trang viện, chỉ nhìn tổng quát bên ngoài quả nên thơ thật, một miền sa mạc như đây thế mà cũng mọc cây cối xanh um và một con suối vây quanh trang viện khá đồ sộ. Ngôi Lãnh Ưng Trang xây cất ngay trong đám rừng cây, một đường con đưa thẳng vào trong, mặt đường lót bằng đá vụn, hai bên đường toàn cây lớn, tiếng gió vi vu, lá rụng từng đợt, tăng thêm vẻ trang nghiêm và nên thơ cho con đường vào trang viện.

Lạ cái trong trang viện không thấy có ai ra nghênh tiếp. Mọi người tiếp tục đi thẳng vào, khi đến cửa trang, thấy lối xây cất quá hùng vĩ, một tấm biển đen đã bạc màu với ba chữ mạ nhũ vàng Lãnh Ưng Viện, hình như vì lâu đời quá nên các chữ tích bên trên đã mờ hẳn. Lúc này chỉ thấy cổng viện đóng kín, ai nấy phân vân, không lý trong trang viện này không có người! Nghĩ vậy, nhưng không ai nói ra vội, càng không tiện đường đột hỏi Bắc Ưng Lãnh Lạc làm gì… Khi tới cửa viện, chợt Bắc Ưng Lãnh Lạc hú lên một tiếng sáo, hình như để thông báo với người bên trong! Chẳng mấy chốc, cánh cửa lớn của Lãnh Ưng Trang mở dần ra, Bắc Ưng Lãnh Lạc đưa ngay khách vào. Chỉ thấy toàn là nô bộc thị nữ, đứng xấp thành hàng ngay tắp, số người ước gần đến trăm, khi mọi người đi ngang, họ đều cúi mình kính cẩn thi lễ.

Bốn người phía Nam đều lấy làm lạ. Đám nô bộc tuy đông đảo như thế mà sao không hề có một tiếng nói nào để hoan hô đoàn khách. Chờ khi đám nô bộc này ngửng đầu nhìn lên, bốn người thất kinh suýt rú lên thành tiếng! Sắc mặt đám nô bộc này trắng nhợt như thây ma người chết, trông ngây dại và lạnh lùng. Thượng Quan Linh đang kinh ngạc, chàng lập tức cảm thấy tay Liễu Mi đang nắm mạnh vào bàn tay mình một cái, ý như Liễu Mi dặn phải thận trọng với lối cổ quái của trang viện Lãnh Ưng Viện này! Nam Bút cũng ngấm ngầm đề phòng mọi biến chuyển. Chủ nhân Bắc Ưng Lãnh Lạc lo chỉ huy đám nô bộc tiếp khách đi tắm gội thay quần áo, lo thức ăn!

Sau khi mọi người sửa soạn xong xuôi, trên sảnh đường của Lãnh Ưng Trang đã dọn sẵn bàn tiệc. Thượng Quan Linh, Liễu Mi, đều cảm thấy trong trang viện này tất cả cái gì cũng quái lạ, nhà cửa to lớn âm u, dụng cụ trong nhà đều màu đen, ánh nắng thì bị các cây um tùm bên ngoài che khuất, tất cả mọi nơi trong trang viện đều cảm thấy không khí âm người lạnh lẽo của nó, lúc này đang ban ngày, thế mà trong đây phải thắp đèn lạp.

Nhưng điều lạ nhất là đám nô bộc, suốt từ lúc vào đến giờ, Thượng Quan Linh chưa hề nghe họ phát ra một tiếng nói nào, và đám người này, bất kể là già, trẻ, lớn, bé, đàn ông, đàn bà, toàn thân họ đều mặc toàn một màu đen, họ âm thầm làm việc, chỉ có tiếng cọ sát của quần áo họ lúc di chuyển gây nên. Ngoài ra, động tác và lối hành động của họ đều tỏ ra vẻ chậm chạp và thận trọng. và tất cả những khuôn mặt của đám nô bộc này, hình như họ đeo mặt nạ cả, thần sắc trông quái dị… cả đến mí mắt cũng không hề thấy chớp động qua lần nào. Bốn người đều có một cảm giác, sau khi vào Lãnh Ưng Trang này, thật chẳng khác nào như đang vào một huyệt mộ của thế giới u minh vậy!

Nhưng chủ nhân đối với sự nghi ngại của khách không hề giải thích gì, trong bữa tiệc, Bắc Ưng Lãnh Lạc chỉ nói về các tập tục phong thổ nhân tình của miền trại ngoài sa mạc, tiếng cười hào phóng, và câu chuyện đã thu hút ngay sự chú ý của bốn vị tân khách. Khi Bắc Ưng Lãnh Lạc nói đến chuyện, cứ mỗi năm vào mồng mười Tết, lại có thịnh hội tại Bách Linh Miếu vô cùng náo nhiệt, có thể nói là một cuộc hội nhiều trò chơi tiêu khiển nhất, nào đua ngựa, nào các đám thần thánh, nào các cao tăng giảng kinh v.v… Nghe đâu năm nay, tổ chức còn có vẻ linh đình hơn các năm trước là khác, ngoài trừ các hoạt động trên ra còn mới xây cất thêm một ngôi Tự đường mới, để cho Hoạt Phật nhục thân thăng thiên (Phật sống về trời). Câu chuyện này được thoát ra từ cửa miệng của Bắc Ưng Lãnh Lạc, mọi người nghe xong đều kinh ngạc, vì chuyện này rõ ràng có liên quan đến cuộc thịnh hội trong võ lâm, nhưng không biết rằng tên đại ma đầu vô danh bí mật kia có chọn vào ngày này không!

Nam Bút không vội đả động đến vấn đề, quả nhiên Bắc Ưng Lãnh Lạc lại nói tiếp, là vào ngày mồng mười Tết ấy, có cả các tay võ lâm tập trung tại Bách Linh miếu, và chính Bắc Ưng Lãnh Lạc cũng chuẩn bị đi xem cho vui. Đã cuối tháng chạp, và chỉ còn hai ngày nữa là Tết đến, Bắc Ưng Lãnh Lạc cố mời mọi người ở nán lại Lãnh Ưng Trang để ăn Tết, sau ngày Tết sẽ thân hành cùng đi với mọi người để dự cuộc thịnh hội vào ngày mùng mười Tết tại Bánh Linh Miếu.

Sau khi Nam Bút biết rõ ngày hội của Bách Linh Miếu, trong lòng mừng thầm, đồng thời Nam Bút tiên sinh cũng tiếp nạp luôn ý lưu khách của chủ nhân, mọi người đều đồng ý ở lại. Một đêm vô sự trôi qua.

Sáng hôm sau, Thượng Quan Linh dậy, chàng cảm thấy ngôi trang viện Lãnh Ưng này vẫn có một vẻ gì là lạ bí mật. Màu tường đen, và tất cả các vật dụng trong nhà cũng đen, thậm chí cả đến mền gối cũng màu đen, toàn màu âm u tối lạnh, mặc dù là ban ngày nhưng vẫn khiến cho cám giác là đêm! Tất cả trang viện, mặc dù có gần trăm người làm việc, ấy thế mà vẫn im lặng như tờ, không một tiếng nói hay một tiếng động lớn. Thượng Quan Linh cảm thấy buồn bực khó chịu, chàng cố tìm cơ hội, chờ khi có hai thiếu nữ bước vào phòng, chàng cố hàn huyên để bắt chuyện, nào hay hai thiếu nữ không hề trả lời, dù cho Thượng Quan Linh hỏi gì đi nữa, họ chỉ gật và lắc đầu để đáp lại. Xem tuổi họ chỉ lối độ hai mươi, khuôn mặt cũng khá xinh, chỉ tội nước trắng nhợt và ngây dại mà thôi, đôi mắt không được linh động. Thượng Quan Linh càng cố gắng khám phá lại càng thất vọng! Vì hễ mỗi lần Thượng Quan Linh hỏi dồn tới, hai thiếu nữ nọ như cảm thấy rắn độc tấn công mình, cả hai vội mau mau rút ngay ra khỏi cửa phòng chàng. Thượng Quan Linh chỉ có một cảm giác như mình đang sống trong một thế giới u minh lạ lùng, đây không phải lối sống của người trần gian.

Thượng Quan Linh vội đi tìm ngay Liễu Mi, thấy nàng đang tựa người trên lan can nhìn cá bơi nhởn nhơ trong hồ nước. Đây tuy có chút ánh sáng, nhưng cũng yếu ớt lạ, trông chẳng khác nào như trời sắp đổ cơn giông tố xuống vậy Thượng Quan Linh thấy người yêu dang suy tư trước hồ cá, chàng nghĩ: chắc nàng cũng đang nghĩ như mình, làm cách gì để khám phá ra sự bí mật của màu đen trong Lãnh Ưng Trang này?