Chương 8

Sân bay Nội Bài Hà Nội – 5 năm trước (2000)

Vừa từ Frankfurt đáp xuống sân bay Nội Bài Hà nội , đang còn đứng loay hoay định viết tên bé Hòa con của Hạnh bạn gái tôi bên này, ra giấy để hai bên dễ nhận ra nhau, vì tôi và Hòa chưa gặp nhau bao giờ, chỉ nhìn thấy nhau trong ảnh do mẹ của bé Hòa ở bên Đức cho tôi xem mà thôi. Thì bỗng bé Hòa và chồng trờ tới, nụ cười con bé rực rỡ, tôi mừng quá vì nếu không có Hòa ở thành phố này chắc tôi lúng túng lắm, Hà Nội đối với tôi còn xa lạ lắm. Miền Bắc thân yêu của đất nước tôi đây rồi. Hòa trao cho tôi một bó hoa thật xinh. “Gớm con bé sao chu đáo thế”. Tôi nghĩ thầm. Chui vào xe du lịch do vợ chồng Hòa thuê sẵn để đón tôi, tôi thấy con bé còn rất trẻ, xa mẹ mà khéo léo ra phết, con xa mẹ nên trưởng thành sớm có khác. Quan sát cảnh vật trên đường vào Hà Nội, đâu đâu tôi thấy cũng điêu tàn, không được tươi mát như trong miền Nam, ngay cái sân bay Nội Bài khiêm tốn cũng làm cho tôi xúc động.Vì đi đến đâu tôi cũng so sánh với quê hương mình, so với các phi trường quốc tế như Charles de Gaulle hay Frankfurt, Dubai…Hôm nay nhìn tận mắt tôi mới thấy nước mình nghèo như thế. Tôi thở dài một mình. Trong khi bé Hòa cứ ôm lấy tay tôi, miệng cứ líu lo:
– Cô ạ, Mẹ cháu biên thư bảo cháu phải tiếp cô cho tử tế vì Cô rất thân với mẹ cháu ở bên í. Cô ơi, cuộc sống của mẹ cháu thì thế nào hở Cô? Khi xưa mẹ cháu đi theo diện xuất khẩu lao động rồi sau đó chạy sang Tây Đức xin ở lại tỵ lạn luôn, lúc í cháu mơi có 8 tuổi cô ạ. Cháu thèm mẹ lắm đấy cô ạ, Đã 14 năm nay, cháu chưa được gặp Mẹ cháu, các cô các chú về chơi phép như thế này không hiểu đến bao giờ thì mẹ con cháu mí sum hợp???
Nó nói một hơi , tôi nín thở nghe nó nói, bé Hòa đưa mắt nhìn mông lung ra cửa kính xe, tôi tưởng nếu nó khóc, chắc tôi sẽ khóc theo nó, nhưng không con bé không mau nước mắt như tôi tưởng. Trẻ con xa mẹ sớm nên rất có nghị lực. Tôi cứ nghĩ về Hòa. Hai bên đường cây trái èo uột, hình như miền Bắc đang đi vào mùa Đông, trời hơi rét. Tôi kể sơ cho Hòa và chồng Hòa nghe mối liên hệ giữa tôi và Hạnh, mẹ bé Hòa, cả hai vợ chồng lắng nghe một cách chăm chú. Chồng Hòa ngồi phía trước với bác tài xế, Hòa ôm con trên đùi mình, đứa bé ngoan độ hai tuổi, cùng với tôi ngồi băng sau:
_ Cháu ạ, Mẹ cháu cùng với đợt người sang sau tại Tây Đức không được may mắn như các người đến trước. Họ bị hăm he đuổi về hàng ngày, khổ tâm lắm, may mà mẹ cháu có được ông Tây, ông làm hôn thú với mẹ, nhưng sau khoảng vài năm ông qua đời. Hiện nay mẹ của cháu đang chung sống với một ông Tây khác, hai người mở một cái quán Imbiss cũng được lắm. Cô cũng mửng cho mẹ của cháu!
-Cô ạ, mẹ của cháu có ý định định đón cháu sang bên í, Cô nghĩ sao hở Cô??

Hòa ơi , tôi kêu thầm, nếu cho phép cô nói thật những gì cô nghĩ thì cô nhận thấy nhân phẩm của phụ nữ Việt nam mình nay bị coi quá rẻ, khi sang muốn được giấy tờ để được ở lại , một là phải đi cày trả nợ cho ông nào đấy 30.000 Đức Mã, hai là phải chung sống với họ như hai vợ chồng, còn tình yêu hạnh phúc hiện nay chỉ là những thứ xa xí phẩm họ không có quyền chọn lựa. Nếu Hòa nhất định chọn con đường đi thì thì con của Hòa, chồng của Hòa , anh ngồi phía trước kia anh có đang hay cái hạnh phúc anh đang có chỉ còn là thứ hạnh phúc vay mượn mong manh hay không, rồi thì Hòa cũng làm y như mẹ của Hòa, bỏ con ở lại, đứa bé này sẽ thèm mẹ giống y như Hòa đang thèm mẹ .

Ở bên Đức tôi và Hạnh bạn gái tôi cứ hay gọi nó là bé Hòa , mặc dù nó đã trưởng thành có chồng và có con. Mới gặp nhau nhưng tôi và Hòa có một cái gì quyến luyến lạ lùng, khi chia tay vợ chồng Hòa để lên đường vào MiềnTrung
, từ giã Hà Nội với phong cảnh thật đẹp , thiên nhiên hùng vĩ thêm vào đó những chụp giựt lọc lừa, tranh nhau giành du khách của dân mình khi kiếm ăn. Bỏ lại Hà Nội với Hồ Tây với hình bóng của những em bé đánh giày ốm yếu xanh xao , Hà nội 36 phố phường ngày nao còn in sâu trong ký ức trong những bài Việt văn học trong trường khi còn bé. Nay tôi chỉ thấy những cờ xí đỏ thẩm tung bay khắp nơi, khó khăn lắm tôi mới kiếm được cho mình chút Nắng Vô Tư khi ngồi thong thả để ngắm Văn Miếu, Chùa Hương, những di tích cổ truyền còn sót lại, một cách thật gần gũi. Tôi đi tới đi lui, chụp hình chỗ này chụp hình chỗ kia, thì người ta bảo với tôi: chỉ cần nhìn cách chị ăn mặc thôi, cách chị đi thôi, người ta cũng biết ngay là chị ở bên kia về! Thảng thốt tôi tự hỏi: Thế à? chúng tôi khác các bạn đến thế cơ à? Còn lối suy nghĩ của chúng ta thì sao? Chắc chúng ta cũng khác nhau lối suy nghĩ chứ? Vậy chúng ta giống nhau ở điểm nào bây giờ? Tôi cũng là người Việt nam mà. A, tôi reo lên trong tư tưởng. May quá chúng ta còn có chung nhau một thư Ngôn ngữ Việt. Nhưng bất hạnh cho tôi là tôi không thể nào nói hết với các bạn những gì tôi muốn nói. Đi xa để thấy quá nhiều ở xứ người để giờ đây nhìn thấy sức chịu đựng của dân mình mà tội. Từ khi nườc Đức thống nhất, Tây Đức phải đổ rất nhiều sang xây dựng một Đông Đức đổ nát, ngẫm nước mình cần một số tiền to và quan trọng nhất là cần những người lo cho dân cho nước thật sự thì họa may nước mình mới tiến bộ được bằng người

Chiếc Tàu Thống Nhất

Tôi rời Hà nội trong cơn gió mùa Xuân se lạnh, tôi chọn con tàu Thống Nhất để đi ngược về Huế. Từ lâu tôi vẫn mơ ước được đi chuyến Tàu xuyên Việt,nay mới thực hiện được, lòng tôi nôn nao cầm cái vé có GHẾ MỀM trong tay( ghế đệm ), nhưng khi lên xe xong tôi hơi chới với vì sự thiếu vệ sinh trên xe, các chị công nhân tay quét không ngừng, nét mặt các chị kém vui có lẽ vì mệt. Trên xe mấy con gián bò ngang bò dọc bất kể ngày đêm,khiến thức ăn mang ra tôi ăn không ngon miệng được nữa. Cầu xí thì lúc còn nước, lúc không. Trong thâm tâm tôi thấy xấu hổ cho dân tộc mình với mấy hành khách ngoại quốc đi cùng trên Tàu. Thỉnh thoảng vài ông công an đi ngang qua, họ thấy tôi, chắc họ cũng biết ngay là tôi từ bên kia về, nhưng họ chẳng hỏi han gì, làm khó dễ gì , bây giờ tôi có thể lên tiếng kể là tôi đi vượt biên năm nào, mà không cần phải dấu giếm, vì ai trong nước họ cũng muốn đi kia mà. Thế mới thấy cái giá trị tuyệt vời của cái thông hành Đức mà tôi đang cất trong bóp. Những người nghèo khổ họ thèm thuồng những thứ tôi đang có , những thiếu thốn của họ tôi có thể xẻ chia, nhưng cái ray rức của kẻ xa quê hương, chắc gì họ thông cảm được.
Tàu chạy chậm lắm, và mỗi khi xe dừng lại bến thì bao nhiêu người tranh nhau rao bán, người họ xanh xao, gầy đét, trông nét mặt các em lơ láo, lo lắng, dáo dát vừa hoang mang cái gì đó…Người lành lặn có, tàn tật có, mỗi người tranh để bán được hàng của mình. Mỗi khi nhìn thấy tôi đang quan sát họ, một là họ bẻn lẽn nhìn đi nơi khác, hai là mắt của họ sáng lên tiến đến phía tôi. Họ hy vọng gì nơi tôi? Tôi thầm nghĩ, một mình tôi đâu thể MUA hết cái nghèo nàn của các bạn đang có, tặng chút đỉnh tiền cũng không phải là biện pháp giải quyết những cái nghèo mà bạn đang có. Chúng tôi ở hải ngoại có thể giúp gì cho các bạn bây giờ? Tôi tự đặt cho mình một dấu hỏi to tướng. Dân Trí. Đúng rồi. Nhân dân chúng ta cần phải nêu cao dân trí , có dân trí có trình độ thì mới thoát ra khỏi cái lạc hậu, rách rưới, cái áp lực của ngoại bang. Suốt chặng đường dọc theo miền Trung Việt dài như thế mà không có nổi một cái nhà máy kỷ nghệ, nghe phong phanh nhà nước sẽ bán đất cho người ngoại quốc vào đây xây khu du lịch. Mà du lịch thường đưa đến đĩ điếm, sa đọa, bệnh hoạn . Tôi đưa mắt nhìn ra bãi Biển thật đẹp của nước mình mà buồn vì nhà nước mình bất lực và vô tình thật sự trước gia tài quý giá của dân tộc. Mặt nước xanh thật dài vô tận ngoài kia, một thoáng lo âu tự nhiên mọc lên đâu đó trong đầu tôi.

Về đến Huế
Mưa rơi phố Huế chợt nhớ nhà
Đường cũ tiêu điều ít kẻ qua
Nay về thăm lại Thành Nội cũ
Chiếc Nón bài Thơ lấm tấm hoa

Tôi thương xứ Huế lắm mặc dù tôi là người miền Nam, có lẽ đất nơi đây xuất phát nhiều anh linh hào kiệt của dân tộc Việt, ngoài ra trong cái không gian bao trùm xứ Huế nó có vẻ ảm đạm, loáng thoáng qua lớp Mưa ở Huế nó cũng buồn, mơ màng pha rất nhiều chất lãng mạn, vì thế người dân xứ này đã đem cảnh ấy vào Thơ văn chăng? Năm 1973 tôi đã có dịp ra đây, đến nay trông xứ Huế lại càng xót xa sau những trận lũ lụt vừa qua. Một Cố Đô yêu dấu, nơi qua bao nhiêu đời Vua gìn giữ non sông gấm vóc, nay con đường dắt đến các Lăng Tẩm là một con đường đất lầy chật chội, không có đèn điện thành phố dắt tới, cây cối nhà cửa xây ngỗn ngang vô trật tự.Tôi thấy buồn. Xúc động khi tôi cùng người người thả nến xuống dòng sông Hương, tôi cầu nguyện cho đất nước thái bình, người dân có cơm no áo ấm, hết mọi thiên tai.

Thả Nến Trên Sông Hương

Thả nến trôi dòng nước Sông Hương
Dân nghèo Sông có thấy vấn vương
Tiếng Chuông năm tháng Chùa Thiên Mụ
Vẫn đá trơ cùng với gió sương
Mộ Vua, Lăng Tẩm hờn hiu hắt
Thẹn với lòng ta giấc mộng thường

Tôi lại suy nghĩ và so sánh với xứ người, tôi vẫn kỳ vọng đến lòng yêu nước thương dân thực sự của người mình. Đi đến đâu cũng làm cho nỗi buồn trong tôi nặng nề thêm. Ngậm ngùi tôi lên đường tiếp tục vào Nam, chiếc Tàu Thống Nhất rú còi trong đêm vắng , hình như tôi vẫn còn nghe tiếng Mưa rơi.