Chương 9

Thấy nhà lầu, lại không vô đặng,

Vào trại lá mà phải ở đây.

Tại đầu cầu Nha Mân người ta ở đông nhưng trưa nắng kẻ mắc nghỉ ngơi, người mắc làm sau vườn, nên không có ai ở ngoài cửa. Có ba bốn đứa con nít đương giỡn chơi dưới gốc xoài dựa lộ thấy có một cái xe hơi tốt ngừng tại đầu cầu thì chúng nó áp chạy lại mà coi. Chừng chúng nó thấy mẹ con Thu Vân leo xuống, mặt mày sáng láng mà y phục lam lụ thì chúng nó lấy làm lạ nên chong mắt mà ngó, chẳng hiểu vì cớ nào người bận áo quần như vậy mà được đi xe tốt như vậy. Có lẽ Thu Vân cũng hiểu tình ý mấy đứa nhỏ nầy, song nàng không bợ ngợ chi hết.

Xe chạy rồi nàng liền bước lại hỏi đứa nhỏ đứng gần:

– Em biết nhà ông Hội đồng Ðạt ở chỗ nào không em?

Ðứa nhỏ ấy chỉ tay mà đáp rằng:

– Kia kìa! Qua cầu rồi tới khúc quẹo thấy có nhà lầu đó là nhà ổng.

– Ổng có lò gạch phải không em?

– Ờ, mà lò gạch ở trên một đỗi nữa.

– Cám ơn em.

Thu Vân với Thu Cúc qua cầu. Trời nắng gắt, ván cầu nóng như lửa đốt. Mẹ con Thu Vân nóng chơn quá chịu không nổi nên chạy riết đặng qua khỏi cho mau.

Sắp con nít thấy vậy thì cười rộ.

Qua khỏi cầu rồi, nhờ có cây hai bên che mát, nên mẹ con Thu Vân thủng thẳng núp bóng mà đi. Ði tới khúc đường quanh, bỗng thấy có một cái nhà lầu lớn và xinh đẹp ở dựa bên đường phía bên tay trái. Mẹ con Thu Vân đứng ngay cửa ngỏ nhìn vào thấy trong nhà mấy cánh cửa đều mở hết, nhưng ngoài ngỏ thì đóng chặt.

Thu Vân đứng nhìn hoài, có ý chờ coi trong nhà có ai ra thì hỏi thăm lại cho chắc rồi sẽ vô. Nàng coi kỹ thì thấy ngôi nhà nguy nga thật; phía ngoài đường có xây hàng rào sắt, cửa ngỏ cũng bằng sắt. Trong sân trồng hoa quả, kiểng vật đủ thứ. Một bên trồng sa-bô-chê[1] với măng cục. Còn một bên trồng ổi bồ đào với quít đường. Chánh giữa có đúc một cái hồ bằng xi măng, trên cái hồ có xây một hòn non bộ. Dài theo đường vô cửa cái thì để hai hàng chậu, nào là kim quít[2], nào là bùm sụm[3], nào là bạch mai, nào là cần thăng[4], cây nào gốc cũng bằng bắp tay, mà nhánh lại uốn như lân như phụng. Nhà lớn để ghế bàn hực hỡ, nhưng không thấy ai nằm ngồi, nhà bếp cất ở phía sau, nên khuất nhà lầu không thấy rõ được..

Thu Vân đương đứng ngóng bỗng có một người đàn ông đi ngang qua. Nàng hỏi thăm thì thiệt quả là nhà của ông Hội đồng Ðạt.

Thu Cúc nghe nói nhà ông Hội đồng Ðạt thì kéo áo mẹ và nói rằng:

– Kêu cửa đi má.

Thu Vân phủi tay con rồi lần bước mà đi.

Thu Cúc chạy theo hỏi nhỏ rằng:

– Phải nhà ông nội rồi. Má kêu thì trẻ nhỏ ra mở cửa chớ gì.

– Ê! Ðừng có nói bậy. Má đã dặn phải giấu mà cứ nói hoài. Ông nội, ông nội gì? Con muốn ông đánh đuổi đặng mang xấu hay sao?

– Bây giờ ông nội thương mình rồi má.

– Nói vậy chớ ai mà dám tin. Mình giấu hoài, để dọ tình ý coi như ông nội thương thiệt, rồi sẽ nói. Con đừng có chôn rộn, để cho má lo liệu. Má biểu làm sao con sẽ làm vậy, con đừng có cãi hư việc hết, nghe không.

Thu Vân bước lại gốc xây xoài lớn ở dựa cửa ngỏ mà ngồi. Thu Cúc cũng lại ngồi một bên mẹ. Nó suy nghĩ một hồi rồi nói với mẹ rằng:

– Rương đồ bị ăn trộm lấy thiệt là hại quá. Tiền bạc áo quần mất không sao, ngặt khai sanh của con với hôn thú của ba má mất, bây giờ biết làm sao?

– Nếu cần dùng thì mình gởi thơ cho thầy ba Thiện mượn sao lục cái khác, khó gì.

– Ðược hả má!

– Ừ.

– Còn khai sanh của chị Thu Ba má làm sao?

– Xin lục tại Xã Tây Chợ Lớn. Giấy tờ mất không hại gì, má buồn có một điều là mất mấy bức thơ của ba con, bây giờ không còn dấu tích chi hết…

Thu Vân nói tới đó thì tủi lòng nên bệu bạo muốn khóc.

Thu Cúc cũng nhớ cha nên ngồi buồn hiu. Mẹ con khoanh tay ngồi dưới gốc cây xoài, bộ như người đi đường ngồi nghỉ chưn.

Cách chẳng bao lâu có một cái xe hơi phía Sa Ðéc chạy xuống. Thu Cúc đứng dậy mà nhìn, thấy quả cái xe đưa mình hồi nãy, chuyến nầy sốp-phơ mắc lo bóp kèn đặng qua khúc quanh nên không thấy nó.

Xe hơi chạy qua khỏi rồi bỗng nghe có tiếng người mở cửa ngõ lộp cộp. Thu Vân lật đật đứng dậy, men men đi lại. Có một người đàn ông, tuổi chừng 40, mặc quần đen áo vải đen, miệng rộng ngậm trầu bô bô, đầu tóc rối chôm bôm, lại có bịt cái khăn xéo trắng, xô cửa ngỏ rồi bước ra. Thu Vân lần lại hỏi rằng:

– Phải nhà ông Hội đồng đây không chú?

Người ấy lõ mắt ngó Thu Vân từ trên đầu xuống dưới cẳng rồi mới chịu đáp:

– Phải. Hỏi chi vậy?

– Mẹ con tôi nghèo khổ không có chỗ làm ăn, nghe nói ông Hội đồng giàu có mà lại nhơn đức, nên đến đây xin làm công việc cho ông mà nhờ hột cơm dư. Không biết có ông Hội đồng ở nhà hôn chú?

– Có. Mà không được đâu. Ổng nhơn đức thì nhơn đức, mà có phải ổng nuôi hết thảy thiên hạ được đâu. Nếu ổng nuôi hết người nghèo như chị vậy thì ông phải cất mấy muôn cái nhà mới đủ cho người ta ở. Không được đâu. Chị đâu mà lại đây?

– Tôi ở dưới Vĩnh Long.

– Xa dữ hôn! Ở dưới không ai thèm mướn hay sao mà đi lên tới trên nầy lận.

– Cũng có, nhưng tôi nghe nói ông Hội đồng trên nầy nhơn đức, lại ông thiếu người nấu ăn, nên tôi mới lên đây.

– Ai nói thiếu người nấu ăn. Vậy chớ vợ tôi đó chi. Nó chết rồi hay sao? Cha chả? Chị nầy chỉ rủa vợ tôi chớ.

– Ai mà rủa. Tôi nghe họ nói như vậy chớ.

– Chị nghe lầm. Trong nhà thiếu gì người làm công việc. Vợ tôi nấu ăn, tôi làm vườn, thằng Hiếu quét nhà, lau bàn lau ghế, còn thiếu người làm việc gì nữa mà mướn. Chị không hiểu, tôi ở với ông tôi 20 năm rồi, ông tôi thương tôi như con ruột. Người lạ ông tôi không bao giờ chịu mướn đâu mà mong.

– Chú làm ơn cho tôi vô, tôi lạy ông, tôi ở ông bắt làm việc chi cũng được miễn là mẹ con tôi có cơm ăn một ngày hai bữa thì thôi.

– Không có được. Hễ tôi nói không được là không được. Chị đừng có cãi mà. Ông ễ mình hổm nay, cho chị vô lộn xộn rồi ông rầy tôi sao? Ði kiếm chỗ khác mà ở. Thôi, hai mẹ con dắt lên lò gạch ở mà làm gạch không được hay sao, khéo làm rộn.

Người ấy khép cửa ngỏ lại rồi đi xuống dưới đầu cầu. Thu Cúc muốn xô cửa vô đại, Thu Vân cản không cho, biểu để chờ nguời bận đồ đen ấy trở về. Thu Vân đón tại cửa ngỏ mà năn nỉ nữa:

– Chú làm phước cho mẹ con tôi vô ở dưới nhà bếp, chừng nào tôi giáp mặt ông tôi bẩm, nếu ông không chịu mướn thì tôi sẽ đi.

Người ấy trợn mắt đáp:

– Chị nầy nói nhây dữ kìa? Tôi nói không được mà cứ theo nói hoài, cho chị vô lộn xộn rồi ông rầy người ta làm sao.

– Ông đau sao đó vậy chú?

– Hỏi chi vậy? Chị làm thầy thuốc, chị hốt thuốc cho mạnh được hay sao mà chị hỏi?

– Không mà, tôi hỏi cho biết vậy thôi.

– Chị nầy thiệt là nhiều chuyện. Ði đi, đừng có ở đàng trước đây nữa.

Người ấy khóa cửa ngỏ lại rồi cầm chìa khóa đi vô. Mẹ con Thu Vân nhìn nhau ứa nước mắt. Tuy vậy mà Thu Vân không chịu đi, cứ đứng ngoài rào dòm vô, có ý muốn coi có ông Hội đồng đi qua đi lại trong nhà hay không.

Nàng chờ hơn một giờ đồng hồ mà không thấy tăm dạng chi hết, cùng thế rồi nàng dắt con đi lên kiếm lò gạch. Thu Cúc đi theo mẹ mà mặt nó bùng thụng lầm bầm nói rằng:

– Nhà của ông nội tôi mà họ không cho tôi vô, thiệt tức quá.

Thu Vân đi chừng 5 khoảng dây thép[5] thì thấy phía bên tay mặt có một cái lò gạch thiệt lớn, hỏi thăm họ nói lò gạch ấy của ông Hội đồng. Ðầu đàng nầy có ba cái lò đương hầm gạch nên khói lên ngun ngút. Ðầu đàng kia củi chất đống nào đống nấy ngùn ngụt. Phía trong có hai tòa nhà dài, gạch ngói chất dẫy đầy.

Thu Vân coi bên đó rồi day ngó bên tay trái. Trên một miếng đất rộng lớn chừng hai, ba mẫu nằm từ đường lộ chạy vô ráp mé sông, đàn ông đàn bà con nít đương lao nhao lố nhố, chỗ thì xúm nhau đào đất chỗ thì gánh đất mà đi, chỗ thì xe gạch ngói in rồi đem qua lò mà hầm, chỗ thì nhồi đất đổ vô khuôn mà in đặng phơi khô cho sẵn.

Dựa bên đường có hơn l0 cái chòi lá nho nhỏ cất rải rác để cho người làm gạch đụt nắng đụt mưa. Ở chánh giữa miếng đất lại có một cái trại lớn để chứa gạch ngói in rồi, hoặc để lúc nào trời mưa thì nhơn công vào đó nhồi đất mà in cho khỏi ướt.

Thu Vân đứng ngoài lộ ngó một hồi rồi dắt con đi vô miếng đất trống ấy. Nàng thấy có một đám con nít chừng 10 đứa với hai bà già đương lụi hụi in gạch, nàng men men đi lại đó mà coi. Con nít từ 10 đến 15 tuổi ôm đất mình mẩy tèm lem, bà già răng đã rụng, tóc đã bạc, mà in gạch coi lẹ làng lắm.

Trong đám con nít có một đứa con gái, trạc chừng 13, 14 tuổi, mặt mày sáng láng mà đầu tóc rối nùi, bận một cái quần vải đen sau đít vá ba bốn miếng, hai ống vo lên trên đầu gối, với một cái áo cụt tay cũng bằng vải, hồi trước thì là màu trắng, mà bây giờ màu ấy đã phai rồi coi như là màu xám.

Nó ở đàng xa ôm đất đi lại, vừa ngó thấy mẹ con Thu Vân thì nó ngó Thu Cúc trân trân, rồi nhăn răng cười và hỏi rằng:

– Ði đâu đây? Muốn làm chơi với mấy đứa tôi hôn?

Thu Cúc nghe con ấy hỏi như vậy thì cũng chúm chím cười, song nó liếc mắt ngó mẹ nó, rồi day qua coi mấy bà già in gạch, chớ nó không trả lời.

Con nhỏ ấy bỏ ôm đất gần một bên đó, rồi trở đi ôm nữa. Thu Vân coi một hồi rồi ôm gói đồ ngồi dựa bên bà già và hỏi:

– Tôi muốn làm gạch quá, không biết họ mướn không bà há?

Bà già ấy day lại ngó nàng rồi đáp:

– Mướn, chớ sao lại không mướn.

– Không biết họ mướn một ngày bao nhiêu hở bà?

– Thuở nay có lò gạch nào mướn làm ngày bao giờ. Mình làm trăm làm thiên rồi tính tiền chớ.

– Làm một trăm là bao nhiêu?

– Một trăm gạch là một cắc, đại tiểu gì cũng vậy. Còn ngói một trăm thì tính một cắc hai.

– Một ngày bà làm được mấy trăm?

– Không có chừng, ôm đất, nhồi đất thì lâu, chớ in mà bao lâu. Nếu trời nắng, một ngày làm tới hai, ba trăm.

– Không biết mấy người làm đây họ ăn ngủ ở đâu bà há?

– Ai có nhà nấy chớ.

– Còn mấy người ở xa, không có nhà tại đây họ làm sao?

– Kia kìa, có mấy cái chòi đó, vô đó mà ở.

Thu Vân đứng dậy ngó mấy cái chòi, thấy cái nào cũng cất vuông vức mỗi bề chừng 3 thước tây, trên lợp lá chầm đóp[6], ba phía thì dừng lá sơ sài, còn một phía thì chừa trống để làm cửa ra vô. Nàng đứng ngẫm nghĩ nếu bây giờ mình không ở đây thì biết đi đâu, mà đi rồi làm sao cho con Thu Cúc hiệp với ông nội nó được.

Nàng đương bàng hoàng, thình lình bà già hỏi nàng rằng:

– Cháu ở đâu mà muốn làm gạch?

– Tôi ở dưới Vĩnh Long. Chồng tôi mất, bỏ mẹ con tôi bơ vơ, không phương thế làm ăn, nên trôi nổi lên đây kiếm công việc làm.

– Chồng cháu hồi trước làm giống gì?

– Chồng tôi cũng làm nhiều nghề lắm. Nó làm… Hồi trước nó làm… lính mã tà… rồi sau nó lại làm sốp-phơ.

– Chết hồi nào?

– Mới chết đây.

– Nếu không có việc làm ăn, thôi ở đây mà làm gạch. Làm gạch không khá gì mấy song cũng đủ cơm ăn.

– Tôi muốn lắm, ngặt vì thuở nay tôi chưa làm, không biết có làm được hay không?

– Có khó gì đâu! Coi nguời ta làm sao, thì mình làm theo như vậy chớ gì. Thôi, ở phụ làm với tôi, làm chung với nhau, chừng tính tiền tôi sẽ chia cho.

– Bà có lòng thương tôi, bà dạy như vậy thì tôi cảm ơn quá. Nhà bà ở đâu? Bà làm phước cho mẹ con tôi ở đậu đặng làm với bà được không?

Bà già buông đất, đứng dậy, lấy cánh tay quẹt mồ hôi trên trán rồi chỉ một cái chòi nhỏ gần đó và nói:

– Tôi có nhà cửa chi đâu. Tôi ở cái chòi của chủ cất kia. Cháu muốn ở thì ở với tôi.

Thu Vân thấy bà già hảo tâm thì nàng mừng nên nói rằng:

– Bà làm ơn cho tôi ở với. Thôi, bà làm đi. Ðể tôi coi bà làm gạch làm sao, tôi học lần, đặng sáng mai làm với bà.

Hai mẹ con ngồi cà rà một bên bà già. Thu Cúc bộ vui lắm, nó coi bà già làm một hồi rồi nói:

– Làm gạch coi thế không khó. Bà làm dễ như chơi. Ðể mai cháu làm với bà, nghe hôn bà.

Bà già gặc đầu. Nó lại day qua nói với mẹ nó:

– Nè má, để mai con ôm đất nhồi như bầy trẻ đó còn má coi theo bà đó mà in, nghe hôn má. Hễ má mệt má nghỉ thì con in chớ ôm đất lấm áo lấm quần hết.

Bà già thấy Thu Cúc còn nhỏ mà biết thương mẹ, biết lo mẹ mệt, biết sợ mẹ lấm áo, thì bà đem lòng thương, nên tay thì làm mà miệng thì nói chuyện với nó hoài.

Mặt trời gần lặn, bà già đi xuống vũng nước gần đó rửa tay rửa mặt rồi dắt mẹ con Thu Vân về chòi. Ðứa con gái hỏi Thu Cúc hồi nó mới vô đó, thấy mẹ con Thu Vân đi với bà già, bèn chạy theo níu tay Thu Cúc hỏi rằng:

– Về nhà bà Sáu ở đặng làm gạch phải hôn?

Thu Cúc day lại cười và đáp rằng:

– Ừ, tôi ở đây đặng làm gạch.

– Ðược a, ở làm chơi. Tôi dạy giùm cho. Mình ôm đất vô nhồi rồi in chớ có khó gì. Chị em mình chơi với nhau nghe hôn?

– Nhà chị ở đâu?

– Ở trên kia.

Con nhỏ ấy nói có mấy lời rồi tẻ đường đi lên lộ. Về tới chòi, Thu Vân phải cúi đầu khum lưng, chun vô mới được.

Nàng dòm coi trong chòi trống trơn; phía tay mặt thấy có một cái chõng[7] mà cái chõng lại khác hơn cái chõng của người ta: sáu cây nạng đóng xuống đất làm chơn, trên gác ba cây ngang rồi phủ vạt tre thưa thưa. Có một chiếc đệm cuốn bỏ trên chõng chớ không thấy mền mùng chi hết. Phía trong có dụm ba cục gạch làm ông táo. Gần đó có để một cái nồi, hai cái ơ, với vài cái chén, vài cái dĩa đá. Tài vật trong chòi chỉ có bao nhiêu đó mà thôi.

Thu Vân thấy quang cảnh như vậy thì nàng đau đớn trong lòng, song nàng chúm chím cười. Vì nàng nghe con nhỏ hồi nãy kêu bà già ấy là “Bà Sáu” nên nàng bắt chước kêu mà nói rằng:

– Cha chả, chòi nhỏ quá như vầy mẹ con tôi ở đây thì cực cho bà lắm, bà Sáu há?

Bà Sáu day lại cười mà đáp rằng:

– Cực giống gì, ăn nhiều chớ ở mà hết bao nhiêu.

– Tối chỗ đâu mà ngủ?

– Có một cái chõng đó chi! Lo dữ hôn.

– Cái chõng nhỏ quá ngủ sao đủ?

– Hại gì. Như có chật thì tôi để cho hai mẹ con ngủ đó tôi ngủ dưới đất cũng được mà.

– Ai mà nỡ để cho bà ngủ dưới đất.

– Hai mẹ con ăn cơm rồi chưa? Như chưa ăn thì nói tôi nấu thêm, chớ tôi già cả ở một mình trưa tôi nấu một nồi rồi ăn phân nửa, còn phân nửa để dành chiều.

– Mẹ con tôi chưa ăn cơm, nhưng mà không sao đâu. Tôi còn bánh mì đây, tôi ăn thế làm cơm cũng được bà đừng nấu nữa thất công.

Bà Sáu lại bếp bưng nồi cơm đem để trên chông rồi bà lấy hết chén dĩa mà sắp ra đó nữa. Thu Vân cũng mở gói lấy gói bánh ra. Hai đàng đều tưởng đàng kia có đồ ăn nhiều, té ra chừng dọn xong rồi mới hay bà Sáu ăn cơm nguội với muối tiêu, còn mẹ con Thu Vân ăn bánh mì với đường cát. Tuy vậy mà nghèo gặp khổ nên không ai cười ai, đã vậy mà ai cũng đói bụng hết thảy nên ngồi ăn coi ngon lắm. Hai đàng lại mời lẫn nhau, bà Sáu ăn thử khúc bánh mì, bà nói nhai không nổi. Con Thu Cúc ăn lại thử một chén cơm nguội, bị muối tiêu cay nên nó hít hà hoài.

Ăn cơm rồi bà Sáu xách tĩn[8] nước mưa ra lấy chén rót mà uống với nhau.

Trời đã tối; bữa ấy nhằm 12 âm lịch trăng đã mọc cao mú, nên dọi vô chòi sáng sáng.

Bà Sáu nói:

– Lúc nầy có trăng nên tôi không mua dầu, bất nhơn quá, bây giờ dầu đâu mà đốt.

Thu Vân trả lời:

– Thôi, đốt đèn làm chi. Nói chuyện thầm mà chơi một lát rồi ngủ, khách khứa gì hay sao mà bà lo đèn đuốc.

Bà Sáu quét chõng trải đệm rồi khuyên mẹ con Thu Vân lên nằm đó mà nghỉ. Thu Vân nhường lại cho bà và xin bà cho mượn nuột chiếc chiếu để trải dưới đất đặng mẹ con nằm.

Bà Sáu suy nghĩ một hồi rồi nói rằng:

– Có chiếu líp gì đâu… Ờ, thôi hai mẹ con ở nhà chơi để tôi chạy lại đàng nầy mượn một chiếc chiếu đem về cho mà nằm đỡ.

Bà nói dứt lời rồi đi liền. Cách một hồi bà ôm về một chiếc chiếu rồi trải ngay cửa chòi. Bà lên nằm thử rồi nói:

– Ðược rồi. Ðể tôi ngủ đây cho, hai mẹ con lên chõng ngủ cho rộng.

Thu Vân thấy vậy mới chịu lên chõng nằm. Nàng vừa đặt đầu xuống gối thì gối bay mùi hôi quá nên nàng phải lấy cái khăn mà bao lại rồi nằm mới được. Bà Sáu nói chuyện láp dáp một hồi rồi bà ngủ khò. Thu Cúc bị đi nắng gió một ngày nên mệt mỏi, vừa nằm xuống thì nó cũng ngủ liền.

Có một mình Thu Vân bị vạt tre cấn lưng đau mình, phần thì trong trí óc lo tính buồn rầu nên nàng nằm thao thức hoài. Vách có lỗ, ánh trăng dọi vô mặt nàng. Nàng nhắm mắt lim dim, trong trí nhớ nỗi chồng, xét phận mình, thương thân con lăng xăng.

Hồi nào lên xe xuống ngựa, chơn vớ chơn giày, nằm gường sắt nệm gòn, ăn cá tươi thịt tốt, bây giờ tấm thân lao khổ, chồng mất con khờ, không có ai nương dựa. Cha chồng giàu có, nhà lớn cửa cao ở một bên đây còn mẹ con mình đã về tới rồi mà phải núp lén trong một cái chòi trống như vầy, mình không được nhìn cha, con mình không được nhìn ông nội!

Ðã biết khi trước vợ chồng mình lỡ quấy làm nhục tổ tiên. Mà cái lỗi ấy trong mười mấy năm nay vợ chồng buồn rầu lo sợ hết sức, dường ấy há chưa đủ chuộc cái tội xưa hay sao, mà trời đất nỡ đoạn dây cang thường, còn nỡ đày thân bồ liễu như thế? Thôi, Trời Phật không thương muốn phạt mình cho cực thân khổ trí đáo để thì mình phải cam chịu, vì mình có lỗi nên mình không phép than phiền.

Mình cứ vái Trời Phật xui khiến cho con mình được về ở chung với ông nội nó rồi mình chết theo chồng cho trọn niềm chung thủy.

Nàng nghĩ tới đó rồi ngủ quên.

[1] (sapotier): giống cây được nhập từ Java, trái chín ngọt đậm

[2] giống cây chanh, còn gọi là cam quất

[3] cây kiểng có lá độ bằng đầu ngón tay, trái ngọt.

[4] tương tự như bùm sụm nhưng có gai

[5] khoảng cách hai trụ dây điện

[6] lá dừa nước được kết (chầm) trên một cái khuông dùng làm mái nhà.

[7] giường, kiến trúc đơn giản

[8] hũ chứa, dung tích khoảng 3l