Bảo Tồn Văn-Hoá Cổ Truyền

BẢO TỒN VĂN HÓA CỔ TRUYỀN
Bảo tồn văn hóa là một nhiệm vụ cần thiết và khẩn trương, nhưng hãy còn là một lời kêu gọi, một khẩu hiệu nhắc đi nhắc lại. Chưa có một công trình nghiên cứu sâu rộng để tìm thấy nguyên nhân những bệnh hoạn chúng ta đã mắc phải, như Bệnh Chia Rẽ, Bệnh Lãnh Tụ, Bệnh Vị Kỷ,… , tất cả 10 bệnh hiểm nghèo, đã phá hoại nền văn hoái cổ truyền của dân tộc, đã và hiện đang gây trở ngại cho công cuộc giải phóng đất nước. Nhiều người đã nói đến những chứng bệnh ấy, nhưng án bệnh (diagnosis), tức là nhận thấy bệnh, gọi đúng tên, mới là bước đầu. Cốt yếu là phải tìm phương cứu chữa (therapy), mà muốn chữa bệnh, phải nghiên cứu bệnh lý (pathology) để tìm thấy căn bệnh (etiology). Không hiểu rõ căn bệnh, không tài nào chữa nổi. Thí dụ: Thấy cộng-đồng thiếu đoàn kết, mà cứ hô hào: “Đoàn kết lại!” thì chẳng khác bác sĩ thấy bệnh nhân ho, cứ bảo “Đừng ho nữa!” mà không cho thuốc thang gì cả. Chữa bệnh Văn-hóa còn khó khăn gấp trăm lần chữa bệnh của cơ thể. Chúng tôi sẽ thảo luận về vấn đề ấy vào một dịp khác. Ở đây, hãy xin góp ý kiến về công cuộc Bảo tồn Văn-hóa Cổ truyền Việtnam.

Khẩu hiệu ấy có 4 danh từ: “Bảo tồn”, “Văn-hóa”, “Cổ -truyền”, “Việtnam” – mỗi danh từ nêu lên nhiều câu hỏi cần phải giải đáp :

1. Bảo tồn Văn-hóa Cổ-truyền Việt Nam
Đành rằng chúng ta chỉ lo bảo tồn văn-hóa của chúng ta, không có nhiệm vụ bảo tồn văn hóa của người khác. Nhưng chúng ta có cần bảo tồn những Giá-trị Trí-tuệ (Intellectual values) và Giá-trị Đạo-đức (moral values) chúng ta đã hấp thụ của Ấn Độ, Trung quốc, và của Tây phương hay không?

Xin thưa rằng Văn-hóa là sản-phẩm chung của nhân loại, dân tộc này học hỏi, vay mượn của dân tộc kia.

Chưa chắc những cái hay chúng ta học được của Tàu đã do chính Hán tộc phát huy, không vay mượn của người khác. Lịch trình truyền bá Phật giáo từ Ấn Độ sang Tàu, rồi từ Tàu sang Ta là một thí dụ cụ thể. Thực sự, Tàu còn vay mượn ngoại bang nhiều hơn Ta.

Vì hoàn cảnh địa-lý chính trị, (geopolitis), mỗi dân tộc đúc kết được một số đức tính thường gọi là “Văn-hóa Cổ-truyền”. Nếu cộng cả những cái dở, hoặc cái không hay mấy, thì gọi là “Dân tộc tính”. Những đức tính phát xuất từ nơi khác nhưng đã nhập vào văn-hóa của ta, đã trở thành truyền thống tốt đẹp thì, mặc dầu ngoại lai, chúng ta vẫn phải coi như của dân tộc và lo bảo tồn, vì tiền nhân đã phải trải qua nhiều gian lao, trong nhiều thế kỷ mới hấp thụ được. Tinh thần bài ngoại là tinh thần hẹp hòi, thoái hóa.

Tiện đây xin nêu lên một sai lầm khá phổ biến: Nhiều người bài xích học thuyết Mácxít, vì nó ngoại lai. Lầm! Chúng ta không chấp nhận học thuyết của ông Mác chẳng phải vì ông ấy là người Đức, mà chỉ vì học thuyết của ông ấy phi nhân, phản khoa học, và phản thiên nhiện. Nếu ngoại lai mà tốt đẹp thì chúng ta vẫn chấp nhận, như Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo, Tinh thần Khoa học, và Tư tưởng Dân chủ của Tây phương.

Nếu bài trừ bất cứ cái gì ngoại lai thì lại tái phạm điều sai lầm của Minh Mạng, Thiệu Trị, cứ bịt tai bịt mắt, không chịu học những cái mới, cái hay của thế giới bên ngoài. Mất nước với Pháp là vì vậy.

Ngược lại, cũng có phong tục người Hán mang sang mà lâu ngày chúng ta yên trí là truyền thống dân tộc. Chúng tôi muốn nói thói tục “Trọng Nam Khinh Nữ”. Câu hỏi cần được nêu lên là: “Có thực thói tục ấy là của dân tộc ta không?” Hỏi một cách khác: Từ ngàn xưa, khi chưa bị Hán tộc đô hộ, tổ tiên chúng ta có Trọng Nam Khinh Nữ không? Nếu có, thì tại sao khi người Hán sang cai trị lại có mấy Bà phất cờ khởi nghĩa, chỉ huy quân đội đàn ông đánh đuổi giặc Tàu?

Hồi mới cắp sách tới trường, học Sử-ký thấy chuyện Bà Trưng, Bà Triệu, chúng tôi thắc mắc, và tự đặt câu hỏi: Khách mày râu lẩn đi đâu, mà gái má hồng phải xông ra giết giặc?

Sau khi nghiên cứu sự biến chuyển từ mẫu quyền sang phụ quyền, chúng tôi mới tìm thấy lý do: Trọng Nam Khinh Nữ là truyền thống của dân du mục, theo phụ quyền, như rợ Arya và rợ Chu, xuất phát từ các thảo mạc ở Đông Âu và Mông Cổ. Thế kỷ 12 trước TL, nhờ có khí giới bằng đồng và ngựa kéo chiến xa – hồi ấy họ chưa biết cưỡi ngựa – những rợ hùng mạnh nhưng kém văn-hóa ấy tràn vào Ấn độ và lưu vực Hoàng Hà, mang theo chế độ Phụ quyền và thói tục “Trọng Nam Khinh Nữ”.

Thời ấy dân Vănlang đã có văn-hóa nông nghiệp. Ruộng nương do các bà khai phá và trồng tỉa, nên dân nông nghiệp bao giờ cũng theo Chế độ Mẫu quyền. Hiện nay ở những nơi không bị người Arya, hoặc Hán tộc cai trị như Tây tạng, Miến điện, Ai Lao, dân chúng vẫn theo chế độ mẫu quyền. Ở những nơi ấy con trai muốn có vợ phải nộp trâu bò cho nhà gái làm sính lễ. Ở Thượng Lào lấy vợ phải ở gửi rể, lao động không công cho nhà vợ, ngồi đầu nồi tiếp xôi (người Lào không ăn cơm) cho bố mẹ vợ, và tội nghiệp, nếu sau 2 năm mà vợ không thai nghén thì bị thải hồi nguyên quán.

“Nam Trọng Nữ Khinh” rõ ràng là thói tục của người Hán, vì 4 chữ Nam, Trọng, Nữ, Khinh là chữ Hán. Rõ ràng hơn nữa: Chúng ta có thành ngữ “Lệnh Ông không bằng Cồng Bà”. Tại sao Bà mang Cồng ra đánh, khiến mọi người tăm tắp vâng lời, mà Lệnh Ông thì coi như đồ bo? Và tại sao ngày nay Ông lại thiếu quyền hơn Bà? Xin trả lời:

Sau khi chiếm nước Ta, Hán triều cử quan lại Tàu sang cai trị. Vì họ theo phụ quyền nên họ chỉ dạy con trai bản xứ học chữ Hán, và học sinh nào xuất sắc được bổ làm thuộc-quan dưới quyền điều khiển của họ, chẳng khác mấy ông phủ, huyện dưới thời Pháp thuộc. Theo Sử Việt thì trong số những người may mắn đó có ông Thi Sách, nhưng ông chẳng có thực quyền vì ông là quan lại ngạch bản xứ (cadre indigène). Hơn nữa, với tinh thần chống xâm lăng còn đang mạnh, nhân dân không phục những người “cộng tác” với thực dân, và thứ ba: ông là Nam trong một xã hội mẫu quyền mà mọi người “Khinh Nam Trọng Nữ”.

Cũng theo Sử Việt thì Thái thú Tô Định bảo ông ra lệnh cho dân, bắt phải làm một việc gì đó, dân không làm. Tô Định nổi khùng, và chặt đầu ông để ra oai. Vợ ông là Bà Trưng Trắc mang cồng ra đánh, tập hợp quân sĩ, đánh đuổi thực dân Hán về Tàu.

Thêm một chứng cớ: Nếu hồi ấy đã có chế độ phụ quyền thì người ta gọi bà là Bà Thi Sách, không gọi là Bà Trưng Trắc, vì lẽ dưới chế độ phụ quyền, đàn bà bao giờ cũng lấy Họ, và có khi cản tên của chồng.

Mã Viện mang đại đội binh mã sang dẹp cuộc khởi nghĩa của Hai Bà, nhưng đồng thời cũng nhận thấy ngày nào các Bà Giao Chỉ còn to quyền, thì ngày ấy Tàu chưa cai trị được nước Văn Lang qua tay đàn-ông bản xứ được. Mã Viện bèn ban hành 10 dạo luật, tước quyền của nữ giới, để đổi chế độ từ mẫu quyền sang phụ quyền, nhưng luật pháp không thể nhất đán thay đổi một truyền thống lâu đời. Chứng cớ: Hai thế kỷ sau Mã Viện, chế độ mẫu quyền vẫn còn y nguyên, vì một anh thư khác là Bà Triệu lại cầm quân đánh Tàu, và phải chờ 5 trăn năm sau nữa mới có một anh hùng là Lý Bôn lãnh đạo kháng chiến.

Nhưng người Hán cứ tiếp tục dạy con trai Giao Chỉ học chữ Hán, bổ dụng vào ngạch “quan lại bản xứ” nên dần dà, họ cũng tạo nên một “giai cấp mới “, có Hán học, và sẵn sàng hợp tác với họ. Giai cấp mới này trở thành giai cấp cao nhất trong xã hội. Bắt đầu từ giai cấp ấy, chế độ mãu quyền biến dần thành chế độ phụ quyền. Việtnam cũng bắt đầu bị “Hán hóa ” từ ngày ấy, và từ đó có giới sĩ phu có Hán học.

Tóm lại, Trọng Nam Khinh Nữ là thói tục của dân du mục mang vào Ấn độ và Trung quốc từ thế kỷ 12 trước TL, rồi Hán tộc mang vào Việt Nam. Cho tới gần đây, thói tục ấy chỉ phổ thông trong giới thượng lưu, không phổ biến xuống đại chúng lao động. Mấy anh dân cấy trong thôn xóm không dễ gì bắt nạt vợ, vì vợ cũng lao động cày cấy, sức vóc không kém. Nhìn chung trong xã hội Việt Nam, hình như số người sợ vợ còn nhiều hơn số người bắt nạt vợ.

Chúng tôi trình bầy như trên để chứng tỏ thói tục: Trọng Nam Khinh Nữ chẳng phải là truyền thống dân tộc, mà có là truyền thống chăng nữa cũng nên loại bỏ, vì bất công và lỗi thời.