Văn Hóa Quyết Định Vận Mệnh Các Dân Tộc 

VĂN-HÓA QUYẾT-ĐỊNH VẬN-MỆNH CÁC DÂN TỘC
Ôn lại toàn bộ Lịch-sử Nhân loại, chúng ta có thể nhận thấy một điều, có giá trị một định luật: Văn-hóa ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh các quốc gia dân tộc. Nghĩa là:

– Từ Cổ chí Kim, từ Đông sang Tây, các dân tộc đều đạt tới mức toàn-thịnh trong những thời đại có một nền văn-hóa lành mạnh, phong phú.

– Ngược lại, hễ văn-hóa bị lệch lạc là dân tộc xuống dốc. Đây chính là trường hợp của nước Ta trong cận-đại lịch-sử.

– Nhiều dân tộc đã có một nền văn minh huy hoàng, như dân tộc Cổ Ai Cập, Khmer, và Inca, đã bị diệt vong sau khi văn-hóa của họ đi vào ngõ cụt. Các vị Thân-Vương mang hết tài nguyên và sức lực của nhân dân, xài vào công việc xây dựng đền đài, lăng tẩm nguy nga. Dân bị diệt vong vì đuối sức và thiếu ăn, không chống nổi bệnh tật.

– Đây cũng chính là thảm trạng của Việt Nam hiện nay: Văn- hóa Mác-xít đã đi vào ngõ cụt. Chẳng khác các Thân-Vương thuở xưa, Đảng đang làm dân kiệt sức. Vì vậy nên chúng tôi nói: Hiện nay dân tộc chúng ta đang tiến dần đến thảm họa diệt vong.

Xin kể thêm 10 trường hợp khác chứng tỏ văn hóa quyết định sự thăng trầm của các dân tộc, mà Lịch-sử đã ghi chép rõ ràng:

1. Thế kỷ 7 và 6 trước Tây Lịch, Lục phái Trí-Tuệ tức là 6 học phái triết học đồng thời xuất hiện ở Ấn Độ. Sáu học phái ấy gồm có Định- Mệnh, Hoài-Nghi, Hoài-Nghi Tuyệt-Đối, Duy-Vật, Nguyên-Tử, và Thiên-Nhiên. Mục đích của tất cả 6 học phái là đả phá những mê-tín dị-đoan của Bà-La-Môn giáo. Họ mở đường cho Phật giáo và sau đấy, A Dục Đế (Asoka) dùng Phật giáo thống nhất Ấn Độ một cách ôn hòa. Ấn Độ bắt đầu thời đại vàng son.

2. La Mã là một đô thị nhỏ, mà bành trướng thế lực ra khắp Âu Châu, Cận Đông, và Bắc Phi, vì đã phát huy được nền văn hóa sáng ngời.

3. Cuối Thế kỷ thứ 4 sau Tây Lịch, La Mã suy yếu vì mấy lý do:

a)- Thanh niên bỏ học, chỉ mải mê đi xem kiếm sĩ (gladiators) đấu gươm và không chịu đi lính. La Mã thiếu người biết chữ đến nỗi phải thuê người Hy Lạp, Ả Rập, và Do Thái làm thư ký. La Mã phải tuyển mộ những “rợ” (barbarians) vào quân đội. Vừa là lính đánh thuê, vừa bị trả lương bằng muối*, họ chẳng có tinh thần chiến đấu.

b)- Luân thường đạo lý suy đồi. Các bà trong giới quyền quý chuyên ngoại tình, nhưng vì pháp luật xử tội ngoại tình rất nặng, nên các bà bí-mật đăng-ký với công-an là các bà làm nghề mãi dâm, để nhỡ bị bắt quả-tang, các bà có thể biện bạch rằng chẳng phải là ngoại tình, mà các bà chỉ hành nghề mãi dâm, đã đăng ký và đóng thuế.

c)- Các nghị sĩ tham nhũng chiếm đất công và mua nô lệ khai khẩn.

4. Mấy thế kỷ gần đây, Tây phương làm bá-chủ thế-giới vì Tây phương phát triển khoa học, kỹ thuật,sau phong trào Cách Mạng Dân Chủ, con đẻ của phong trào Phục-Hưng Văn-Hóa (Renaissance).

5. Trung quốc đạt tới mức văn minh, huy hoàng về đời Đường, vì người Tầu thời bấy giờ có đầu óc cởi mở, không bài ngoại. Sử gia Nhật Obata chép: “Thủ đô Tràng An là trung-tâm truyền-giáo của đủ các tôn-giáo trên thế giới, và cũng là nơi tụ hội nhiều chủng-tộc có tín-ngưỡng khác nhau như Siri, Thát Đát, Ả Rập, An Nam, Cao Ly, và Nhật Bản.” Sở dĩ hồi ấy người Tầu không kỳ thị chủng tộc, không bài ngoại, là nhờ có chế độ Tam- Giáo. Học sinh phải học cả ba triết học khác nhau (Khổng, Lão, Phật), có dịp so sánh và tổng hợp cả ba thành một ý-thức-hệ lành mạnh, phong phú. Nhờ vậy Trung quốc phát triển kinh-tế, kỹ-thuật, thương-mại, hàng-hải, và thơ phú tới mức “vô tiền khoáng hậu”.

6. Nhưng đột nhiên, năm 845, dưới áp lực của nhóm Nho Sĩ, đứng đầu là Hàn Dũ, Vua Đường Vũ-Tông ra lệnh Bài-trừ Ngoại-Đạo, đưa Khổng giáo lên địa-vị độc tôn, gọi là Quốc Giáo , phá hủy đền thờ của tất cả mọi tôn giáo ngoại lai, đuổi hết người ngoại quốc ra khỏi nước và phá hết thuyền đi bể để người trong nước hết phương tiện xuất ngoại, như Thầy Pháp-Hiền và Nghĩa-Tĩnh đã sang Ấn Độ va chở kinh Phật về bằng đường biển. Phật giáo bị bài trừ tận gốc rễ: 25.000 ngôi chùa bị san bằng, tượng Phật bằng vàng bạc, đúc thành thỏi, chuông chùa đúc thành tiền đồng nộp ngân khố, 250.000 tăng lữ bị đưa đi “khu kinh tế mới” khẩn hoang, sản xuất nông nghiệp, và nộp thuế cho triều đình. Từ ngày ấy Trung quốc xuống dốc, mà cho đến ngày nay vẫn chưa bò lên được. Vẫn còn là “Sư Tử ngủ “.

7.Sau cuộc khủng bố “long Trời, lở Đất” cỡ ấy, tất nhiên phải có hàng ngàn tăng lữ Phật giáo chạy sang nước ta tị nạn, và đây có lẽ là lý do tại sao Phật giáo bột phát ở Việt Nam ngay sau cuộc đàn áp tôn giáo của Đường Vũ Tông bên Tầu. Từ đấy, có thêm Phật giáo, Tiền nhân có đủ bộ ba Tam giáo, kiện toàn được văn-hóa. Một thế kỷ sau, khôi phục nền độc lập, và mấy thế kỷ sau nữa, đại thắng Mông Cổ.

8. Nhưng chẳng bao lâu vua Trần lại bắt chước Tầu, bãi bỏ chế độ Tam-giáo, mượn Tống Nho mang về làm Quốc-giáo. Hậu quả đến một cách rõ ràng và nhanh chóng. Chỉ 65 năm sau cuộc đại thắng Mông Cổ, Việt Nam bị Chiêm Thành đánh cho đại bại. “Chế Bồng Nga cưỡi ngựa đi giữa thủ đô Thăng Long như chỗ không có người.”

9. Năm 1945, Nhật Bản bị bại trận, bị bom nguyên tử tàn phá, kinh tế hoàn toàn kiệt quệ, mà chỉ 20 năm sau đã nghiễm nhiên trở thành siêu cường. Lý do: Trong thế giới đang ngả nghiêng vì văn-hóa suy đồi, Nhật bản vẫn bảo tồn được văn-hóa lành mạnh.

10. Năm 1947 người Do Thái trở về đất tổ sau hai ngàn năm lưu lạc, vì họ bảo tồn được văn-hoá dân tộc.

Còn rất nhiều chứng minh khác trong lịch sử nhân loại, nhưng chúng tôi thiết nghĩ bấy nhiêu trường hợp kể trên cũng đủ chứng tỏ định luật ấy, chúng ta – những người di tản ra khắp bốn phương – sẽ nhận thấy mấy điều cần thiết và khẩn trương:

1. Bảo-tồn nền văn-hóa lành mạnh của tổ tiên đời Lý Trần.
2. Cố gắng học những cái hay, cái đẹp của dân tộc khác.
3. Nhưng quan trọng nhất là: “Đừng tiêm nhiễm những cái dở của họ.” Chẳng khác La Mã về cuối Thế kỷ 4, hiện nay các nước Tư bản Tây phương đang bước vào con đường sa đọa.

Ba điều ấy phải được thực hiện ngay, để Cộng đồng người Việt hải ngoại có đủ khả năng đóng góp vào công cuộc lật đổ bạo quyền Cộng sản, giải phóng dân tộc và xây dựng quốc gia. Về điểm này, Do Thái và Nhật Bản là hai cái gương sáng chúng ta nên noi theo. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta tán thành và chấp nhận mọi chính sách của chính phủ Nhật và Do Thái. Chúng ta cần phải học những Giá Trị Tinh Thần và Đạo Đức của họ, và đặc biệt hơn cả là Tinh Thần Đoàn Kết Dân tộc.

Xin kể một chuyện. Năm 1966, nhân dịp đi dự Hội-nghị Thế-giới Chống-Cộng ở Hán Thành (Seoul), chúng tôi ghé qua Tokyo và Jerusalem. Chúng tôi được bộ ngoại giao Nhật bản và Do thái tiếp đón và tham khảo ý kiến. Ở cả hai nơi, họ hỏi chúng tôi cùng một câu:

“Theo ý ông thì nước chúng tôi nên làm gì để giúp Việt Nam?”

Ở cả hai nơi, chúng tôi đưa ra cùng một câu trả lời:

“Các ông nên cấp nhiều học bổng cho thanh niên Việt Nam sang du học. ”

Họ hỏi lại: “Tại sao ông muốn thanh niên nước ông sang du học nước chúng tôi?”

Chúng tôi trả lời: “Tại vì, sang quý quốc mới có cơ hội học được Tinh-thần Đại-đoàn-kết Dân-tộc và kế-hoạch kiến-quốc của Quý ông.”

Tới đây, Ủy ban Ngoại giao Nhật nói: “Chúng tôi biếu rất nhiều học bổng, mà chỉ có một số rất nhỏ sinh viên sang học.”

Ủy ban Do Thái nói: “Chúng tôi cấp nhiều học bổng, nhưng tuyệt nhiên chẳng có một thanh niên Việt Nam nào sang cả.”

Chúng tôi ngậm miệng, không trả lời được. Nhưng chúng tôi hiểu: Những thanh niên được chính phủ cho phép xuất ngoại là “con-ông cháu-cha”. Họ chỉ thích đi Mỹ, đi Pháp, để vừa “du-học” vừa “du-hý”. Dại gì đi Nhật và Do Thái cho cực thân.

Có ba tai vạ cần phải tránh:

a. Đánh mất những đức tính cổ truyền của tổ tiên là một.
b. Không thèm học những cái hay của người khác là tai vạ thứ hai.
c. Tiêm nhiễm những cái xấu của người khác là tai vạ thứ ba.

Thế kỷ trước mất nước với Pháp vì triều đình lây Bệnh Giáo điều của Tầu. Gần đây giới thượng lưu mắc Bệnh Sa Đọa của Tây phương nên thua Cộng sản. Hiện giờ đồng bào tị nạn ở Hoa-kỳ đang gập phải một tai vạ rất lớn: Nhiều phần tử đang bắt chước những thói hư tật xấu của xã hội Mỹ, vào giữa lúc xã hội ấy đang sa-đọa. Đây là một điều rất khó tránh, vì như chúng tôi đã trình bầy: Cái dở bao giờ cũng dễ bắt chước hơn cái hay.”Gần mực thì đen”, mà hiện nay xã hội Mỹ đang đen ngòm.

Trong Thời kỳ Chiến tranh, xã hội Việt Nam cũng có nhiều hư hỏng, nhưng chưa đến nỗi. Có nạn giật ví, giật đồng hồ, nhưng không có tổ chức du đãng, dụ trẻ con nghiền ma-túy rồi sai chúng đi ăn cướp.

Thế kỷ trước, người Nhật sang Mỹ học được nhiều cái hay của Mỹ, mà không tiêm nhiễm một thói hư nào cả vì hồi ấy xã hội Mỹ còn đang lành mạnh. Chúng ta không may sang Mỹ vào giữa lúc xã hội Mỹ đang sa-đọa đến cực độ.

Nhưng chúng ta cũng nên tự hỏi: Tại sao hiện nay người Nhật và người Do Thái ở Mỹ rất đông mà không bị hư hỏng? Xin trả lời: Tại vì người Nhật và người Do Thái vẫn bảo tồn được văn hóa cổ truyền của họ. Đi tới đâu, họ cũng giữ được tư cách con người có văn-hóa, biết tự trọng, biết giữ thanh-danh cho giống nòi.

Xin tạm kết-luận: Chúng ta nên noi gương người Nhật và người Do Thái trước mắc, nếu sau một ngàn năm chúng ta không hình dung được tấm gương sáng ngời của tổ tiên chúng ta về đời Lý Trần.