3. Sách Sai Vì Văn Tự Lộn Xộn

3. Sách sai vì Văn tự Lộn xộn
Những triết gia thưở xưa, như Khổng Tử, Mạnh Tử, Phật Thích Ca, chỉ giảng dạy các đệ tử, thày trò đối đáp với nhau. Các Ngài không phải là nhà văn, ngồi giữa bốn bức tường, cắm cúi viết sách để xuất bản như các học giả hiện nay. Trong nhiều trường hợp, trò nêu câu hỏi, rồi thầy giải thích, hoặc giữa lớp học, hoặc trong khi thầy trò đang đi trên đường. Có khi Thầy đàm luận với một đệ tam nhân, trò chắp tay đứng gần, nghe câu được câu chăng, sau này chép vào sách.

Ngày xưa chưa có máy ghi âm, chưa có tốc ký, chưa có lối viết thảo để viết nhanh, và ngay cả lối khải thư tương đối gọn gàng như bây giờ cũng chưa có. Cách đây mấy ngàn năm mỗi chữ Hán còn là một “bức vẽ tượng hình”, mất nhiều công phu và thì giờ mới “vẽ” được một chữ.

Tỉ dụ:

Mỗi lần thầy nói “Mã”, trò phải nhanh tay vẽ cả một con ngựa, có đầu, có đuôi, có đủ bốn chân, có một con mắt, và vài sợi lông bờm. Không có lông bờm có thể là một con thú khác, không phải ngựa.

Mỗi lần thầy nói “Lật”, trò phải cấp tốc vẽ một cây hạt rẻ, có thân cây, một rễ cái, hai rễ con, ba cành, mỗi cành có một quả, mỗi quả có 5, 6 hạt rẻ, và trên mỗi quả, vắt vẻo một chiếc lá.

Sau đây là lối viết chữ Hán qua các thời đại:

– Chữ của người Thương đặt ra và viết trên cộm rùa, trước thế kỷ 12 trước Tây Lịch… với hình vẽ ngoằn ngoèo.

– Chữ viết của Triều đại nhà Chu (thời đại Khổng Mạnh) từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 3 trước Tây Lịch … còn rất tượng hình.

– Sau khi nhà Tần đã thống nhất văn tự (Thế kỷ 3 trước Tây Lịch)…

– Lối “Khải Thư” hiện nay…

(Tác giả có hình chữ Mã và Lật trải qua các giai đoạn, nhưng hiện thời máy scan của nrb bị hư nên chưa mang hình vào được, xin toàn phố vui lòng chờ !)

Nhìn vào lối viết về Thời Khổng Mạnh với chữ nghĩa còn lôi thôi rườm rà như vậy, chúng ta có thể đoán biết mỗi lần thầy nói một tràng dài, giỏi lắm trò chỉ viết được vài chữ, cốt ghi mấy ý chính, rồi về nhà, trông cậy vào trí nhớ, ngồi suốt đêm từ từ viết lại. Nếu nhớ sai, tất nhiên viết sai, mà hễ người đầu tiên chép thế nào thì người sau cứ “nguyên văn lai cảo”.

Đây chỉ là giả dụ. Thực tế thì cả mấy chục năm sau, nhân gặp nhau để làm giỗ Thầy, các đệ tử mới bảo nhau ai nhớ được Thầy đã nói gì thì chép lại thành sách. Những lời kể lại của mỗi đệ tử sau này là một “Chương” trong sách Luận Ngữ, còn truyền lại cho đến bây giờ.