D. Việt-Thường

Sách Tàu chép về thế kỷ 10 TTL, có một phái đoàn của nước Việt-Thường mang chim bạch trĩ sang cống Tàu, được ông Chu Công Đán ban cho một cỗ xe Tý Ngọ (có kim chỉ nam) để tìm đường về. Có tài liệu nói Tàu phải dùng 8 người thông ngôn liên tiếp mới nói chuyện được với họ. Sử Việt chép Việt-Thường là một quận của Việt-nam, bây giờ là Quảng Bình, Quảng Trị. Vấn đề cần phải xét lại vì có mấy mâu thuẫn như sau:

a) Theo Sử thì đời Hồng Bàng bắt đầu từ năm 2879 TTL
b) Và từ thời ấy các hoàng tử và công chúa có tên bằng chữ Hán.

Câu hỏi được đặt ra là: Nếu từ đời vua Hùng đã biết chữ Hán rồi, thì tại sao, 18 thế kỷ sau, Tàu phải dùng 8 người thông ngôn dây truyền mới nói chuyện được với người Việt-Thường ở nước ta sang?

Câu chuyện có quá nhiều mâu thuẫn. Và để giải quyết những mâu thuẫn ấy, chúng tôi xin đưa ra mấy nhận xét:

1. Theo Sử, thì họ Hồng-Bàng bắt đầu từ năm 2879 TTL, mà mãi đến năm 1523 TTL, tức là 13 thế kỷ sau, Tàu mới có nhà Thương là triều đại đầu tiên đặt ra chữ tượng hình mà sau này biến dần thành chữ Hán. Trước đây người Tàu chưa có chữ nghĩa gì cả, chỉ có kinh điển của một tôn giáo, gọi là Nho-giáo từ Iran tràn vào, chép bằng những mẫu tự ngoằn ngoèo, viết bằng mũi nhọn, bây giờ gọi là chữ Khoa Đẩu, tức là “chữ con nòng nọc”, không ai đọc được. Vì là chữ của Nho Giáo, nên đúng lý phải gọi là Chữ Nho. (Sẽ bàn thêm ở Chương XIII)

2. Nếu tin vào những niên đại kể trên thì Việt Nam có “chữ Hán” 13 thế kỷ trước khi người Tàu đặt ra chữ ấy. Làm sao mà tin được?

3. Lãnh thổ nhà Thương còn là một vùng nhỏ hẹp ở lưu vực sông Hoàng, và tuy họ có chế ra chữ, nhưng hãy còn viết vào cộm rùa. Lấy đâu ra nhiều cộm rùa và chữ nghĩa còn khan hiếm như vậy thì có thể nào truyền sang nước Ta được sớm như vậy?

4. Và chữ Thương người Tàu đọc là Shang. Chúng ta chẳng có địa danh nào khiến người Tàu phải phiên âm là Shang. Nếu là vùng Shan của một bộ lạc ở phía Bắc Miến Điện, phía Tây tỉnh Vân Nam, thì có phần hợp lý hơn. Có lẽ vì họ ở phía Tây Nam nước Tàu nên khó tìm đường về, còn Ta ở phía Nam, chỉ việc đi dọc theo bờ biển là về tới nơi.

5. Nếu quả thật Việt-Thường là Quảng Bình, Quảng Trị, thì cách đây 3 ngàn năm, dân ở đấy còn là dân Chàm hay một sắc tộc nào khác, chưa phải người Việt chúng ta.

Chúng tôi ngỡ rằng vì thấy việc được Triều Đình Tàu tiếp đón là một vinh dự quá lớn, nên một sử gia nào đó vội nhận Việt-Thường là một quận của nước Ta, và không biết đặt quận ấy vào đâu, bèn nói đại là Quảng Bình, Quảng Trị.

Chúng tôi nghĩ rằng không phải là Việt-Thường cũng chẳng chết ai cả, mà việc mang chim bạch trĩ đi cống Tàu chẳng phải là một danh dự to tát lắm. Vả lại, một bên “bắt chim trong rừng” rồi mang đi cống, và một bên “ban cho cỗ xe có kim chỉ nam”, tức là một phát minh về kỹ thuật, thì bên nào danh giá hơn? Việc ấy chẳng khác nào việc Việt Cộng mang hoa quả sang Liên Xô đổi lấy võ khí tối tân mang về. Liên Xô oai hơn, vì Liên Xô chế tạo được võ khí tối tân, còn Việt Cộng chỉ thu nhặt hoa quả, gỗ lạt, và những sản phẩm thiên nhiên khác để mang đi cống hiến Liên Xô thì có vinh dự gì?

Kết luận: Không nên coi chuyện cống hiến một cường quốc là một vinh dự lớn lao và cố tình nhận liều cho kỳ được.