Chương 9: Tìm về lối xưa

Phấn thứ hai


TÌM VỀ LỐI XƯA
(Năm xưa, từ 1961 … ) 

**
R ồi việc gì sẽ đến, đã đến!
Má từ Huế đã vào Dalat, trên chuyến xe tốc hành đêm hai mươi Tết. 
Hoài nghỉ học, nàng cảm thấy như ngồi trên ổ kiến lửa, ngu si thọc tay vào tổ ong quậy phá, khiến chúng đốt sưng vù, càng hơn nữa, như tên tội phạm, đứng trên giàn hỏa thiêu, bồn chồn sợ hãi tột đỉnh, chờ treo cổ xử tử, dưới buổi hoàng hôn lảo đảo xoáy ốc, thọc ngược vào tim những mũi nhọn sắt cạnh, làm tuôn máu, rụng rời.
Mới vài năm xa mẹ hiền, nay má già lắm! Chốn quê nhà lam lũ, một nắng hai sương, vất vả trăm chiều, lặn lội sớm hôm tần tảo, để kiếm tiền nuôi con ăn học đến nay. Hoài vô cùng ân hận, một sự hối lỗi khẩn thiết, rất chân thành, phát xuất tự đáy lòng. Hoài biết má buồn lắm! Khiến lòng nàng càng tái tê, càng dày vò! Má ơi! Hãy nhìn con, nói lời tha thứ, cho con chạy đến ngã vào lòng mẹ hiền, như con hoang đàng trong thánh kinh, được vòng tay cha rộng mở đón mừng. Con muốn được như vậy. Má ơi! 
Bữa cơm thịnh soạn, họp mặt đầy đủ con, cháu, mừng má từ xa đến. Phòng ăn treo bức ảnh đại gia đình họ tộc, từ ông bà cố trở xuống hàng con, cháu. Dường như, từ những khung ảnh lạnh lẽo, nhiều người ngồi trên đó, luôn dõi mắt nhìn đàn con, cháu, chắt, nhắc nhở họ, thường xuyên nhớ phong tục tập quán cổ truyền, đạo lý gia phong tổ tiên dòng dõi Nhà Trần, Nhà Ngô. 
Ăn uống xong xuôi, Thùy bưng chè đậu xanh đánh lên, ăn tráng miệng. Chị Khánh mở đầu buổi họp gia phong, hạch hỏi tình yêu Hoàng, Hoài, rồi nói:
– Má liệu đem nó về. Không khéo nó có bầu rồi. Con thấy nó giã lá thuốc ngãi cứu, uống mấy ngày nay đó.
Hoài trợn mắt, mặt bừng bừng đỏ, tím bầm tức khắt, nhún nhẹ đôi vai, trề môi ra. Như có ai vừa tạt gáo dầu sôi bỏng. Đớn đau kinh khủng, khiến Hoài lịm đi, Hoài chống đối lời lăng nhục, bằng cử chỉ trên. 
Mặt chị Khánh đỏ như trái gấc, quắt đôi mắt sáng, sắc như dao cau, hướng về phía em, chị "hừ" một tiếng lớn, nghe thật ớn lạnh. Có ai trong đời mà không trải qua năm, bảy lần hỗn láo, với người lớn không nhỉ? Hoài phải bảo vệ tình yêu, danh dự. Bởi, chưa bao giờ Hoàng có lời nói kém nhã nhặn, nói chi đến cử chỉ thất thố, suồng sã. Chưa bao giờ! Hoàng và Hoài yêu nhau, mối tình hồn nhiên rất trong sáng, chưa một lần quá trớn, lăng loàn. Vả lại chuyện vợ chồng, có gì gấp rút, khi tuổi đời quá trẻ dại? Điều đó, giữa Hoàng, Hoài, là sự thật trăm phàn trăm. Hoài tôn trọng sự thật. Toà án lương tâm không bao giờ cắn rứt mình, mà toà án gia tộc nầy, sẽ ân hận mãi về buổi họp hôm nay. 
Chị Khánh đánh giá con người, tình yêu, sai lầm rồi. Không có gì sỉ nhục bằng. Phải chăng, đa số anh chị, thường mang định kiến không tốt về tình yêu? Tại sao họ nghĩ nông cạn đến độ, cứ yêu nhau là “phải làm đến cái chuyện tầm bậy tầm bạ ấy”? Hoài thương Hoàng quá! Nơi chân trời xa xôi, Hoàng rất mực giữ mối thiện cảm, duy trì lòng mến mộ các anh chị. Có ngờ đâu, họ nhìn anh, ở một góc cạnh xấu nhất. Họ đang đóng đinh mối tình dẫy chết của chúng mình, đó anh! 
Chị Lê trợn mắt lên, chỉ vào mặt Hoài, la:
– Mi ghê gớm thiệt. Để tao coi mi, có lá gan bê lớn? Hắn dạy mi rứa đó hả?
Thấy tình trạng căng thẳng quá, Hoài sợ, từ từ len lén đứng dậy, thu dọn chén bát trên bàn, mặt cúi gầm im lặng. Chị Khánh la, khi Hoài định bưng chồng chén xuống bếp:
– Cuốn gói theo hắn đi? Cho ăn học uổng quá! 
Liếc nhìn hai chị, rồi nhìn má, Hoài trả lời:
– Con không muốn ở đây, sợ phiền anh chị thêm.
Chị Khánh trợn mắt, đứng lên, tay chống ngang hông: 
– Đi ra khỏi nhà ngay.
– Em chờ má đi luôn.
Cả nhà nghĩ Hoài có ý chế nhạo, trêu tức, hỗn hào, thách thức họ. Duy chỉ có anh Tư, vốn dĩ là người trầm tĩnh, thâm thúy, tế nhị nhất. Anh lịch sự, ôn tồn nói:
– Việc gì phải đi đâu. Muốn nên người, dì cần ở đây, ăn học tử tế. Chịu tất cả quy luật trong gia đình.
– Em đã quyết định rồi.
– Tùy ý dì. Thế cậu ấy, còn ở đây không?
– Ai cơ?
Chị Khánh quát tháo:
– Thằng Hoàng chớ ai. Nói nó lập tức đem mày đi đi.
– Em không có ý định đó. Tụi em thương yêu nhau đứng đắn, đàng hoàng, không tầm thường, không tầm bậy, tầm bạ, như chị nghĩ. Sao chị vu oan cho em? 
– Chuyện rành rành, như ban ngày, còn chối leo lẻo nữa há. Nè, trả treo nè… Trả treo nè…
Liền với câu mắng nhiếc ồn ào, xấn tới bên Hoài, chị cho mấy cái tát nẩy lửa, vào giữa mặt, khiến Hoài chảy máu mũi. Chồng chén bát kiểu trên tay, rơi loảng xoảng xuống nền gạch, vỡ nát. 
Hoài bưng mặt máu, chạy vào phòng, nằm vật lên giường, nghiến chặt hàm răng chịu đựng đau đớn, tay chân bủn rủn, rụng rời. Như nọc rắn cắn vào thân, trong tích tắt, nọc đủ làm bầm tím, rồi tái méc, xanh lướt đi, không vì máu mũi chảy trên nền áo trắng thư sinh. Máu chảy từ trong trái tim đau đớn, quặn xiết đầu đời, dội ngược ra lứa tuổi ô mai, mận dòn khế ngọt. Lỡ chân còn gượng được, chứ lỡ lời đến bật máu ra, thì thôi. Còn chi nữa! 
Lời nói như ngọn giáo lạnh lùng, thọc qua lồng ngực nóng rang, khiến Hoài quay quắt, hơn những cái tát. Máu mũi chảy ra, lằn tay in trên má nóng rần rần, chạy khắp thân thể, làm tê bại chân tay, rồi có lúc khô, ngừng chảy, không còn thấy. Thời gian sẽ xóa hết mọi dấu vết, bầm tím sưng húp. Lời nói dẫu lâu ngày, vẫn hằn vết sự sỉ nhục. Thì, không có gì tẩy xóa, kỳ cọ, không cách gì lấp đầy, tan biến được. Không bao giờ!
Hoài nhớ có một lần, mình còn rất nhỏ, khoảng bảy tám tuổi, hôm đó chị Khánh đi chợ về trễ, người bếp đau, chưa nấu cơm, chị sai Hoài nhóm bếp nấu cơm. Loay hoay mãi, Hoài không thế nào gài đỏ bếp lửa, chị càng la to, Hoài càng sợ run, không nhóm bếp được. Chị tức lắm, giật đôi đũa sắt gắp than, đánh mạnh lên đầu em mấy cái. Máu chảy thấm ướt cổ. Hoài đau quá, khóc lớn. Chị bồi thêm mấy cái tát tai vào má, Hoài run sợ, vụt chạy ra khỏi bếp, núp trong xó vườn khóc thút thít. Hoài lấy tay bụm đầu mãi, đến khi máu ngừng chảy, qua kẽ tay máu khô bết lại với tóc. Không hiểu tại sao chị hay nói : "Tụi bây học hành cục cứt gì. Hồi nhỏ, cha mẹ, không cho tao đi ăn học ngày nào, vậy mà tao biết chữ, đọc, viết, làu làu như ai. Ngày nay, tụi bây được cha mẹ cho đến trường, mà học hành chẳng ra cái quái gì". 
Như Hoàng đã nói, đôi lúc Hoài "lì" quá! Không chịu ra nói rỏ phải trái, về việc quen Hoàng, việc học hành của mình. Lì lợm như vậy thì thôi đi. Vả lại, nói gì cũng bằng thừa. Ai tin mình, khi lỗi trốn học hai giờ, còn sờ sờ trong học bạ! Mặc kệ. Hoài không muốn ở lại đây, thở than, xin xỏ, năn nỉ, rồi anh chị em tiếp tục phạm sai lầm, nghi kỵ, xem thường phẩm giá con người, đánh đập em như con chó, oán trách giận dữ, đối xử nhau hơn kẻ thù. Tình cảm gia đình, anh, chị, em, đã có vết rạn, bên ngoài khung ảnh đại gia tộc, treo trên tường, trong phòng ăn rồi. 
Tất cả anh, chị, em, không ai có thể xóa tan sự đau đớn, tủi nhục, nỗi muộn phiền quắt quay, ấn tượng không tốt đẹp, về tình máu mủ ruột thịt, sự thất học và có học, xua sự cứng rắn, ra khỏi lòng Hoài. Họ không bao giờ, hiểu cô em nghĩ gì về họ? Họ không hiểu lý do, nguyên nhân thầm kín. Phải! Làm sao họ hiểu nỗi em?
Hoài đi từ giã bạn vội vàng. Cô chủ tiệm ảnh Mỹ Dung sửng sốt, đầy xúc động, băn khoăn, cầm tay Hoài nói lời chia tay, trên ngấn nước mắt trào ra khóe mi. Cậu Kỳ ngạc nhiên, thẳng thắng trách mấy bà chị họ, sao độc đoán và hủ lậu, không chừa cho em, một con đường thoát. Tài, Phú, Ngữ đã về Saigon. Chỉ còn Vinh và Lễ ở lại căn nhà thơ mộng bên sườn dốc Hai Bà Trưng, nhìn lên đồi hoa qùy. Lễ nói :
– Hoài à! Phú rất buồn, thất vọng về điều gì đó.
Vinh nhìn Hoài giây lát, ngập ngừng nói:
– Có lẽ, bọn nầy không ở Dalat nữa. 
Hoài giật mình, hỏi bạn:
– Vì chuyện của tôi, anh chị muốn xù nhau sao!
– Không phải. Tôi về Saigon làm việc, kết thúc sự học.
– Có vậy chứ, không thì tôi buồn, gấp ngàn lần.
Hoàng viết một bức thư dài mười trang giấy, tiễn đưa Hoài trên đoạn đường thiên lý định mệnh, xa mù xa. Hoài dõi mắt nhìn từng chùm hoa anh đào đan trên cành, ngắm từng bụi cỏ bờ cây, như muốn ghi dấu tình yêu mến vào đáy lòng. Dalat thân yêu ơi! Mình thật sự xa rời, nơi chôn nhau cắt rốn rồi. Thương biết mấy ngày thơ ấu, Hoài chạy lon ton theo ba, đi câu cá trên Cam Ly Hạ, đôi má hồng hồng bầu bĩnh, men theo bờ suối bắt ốc, hái hoa, đuổi bắt chuồn chuồn, bươm bướm. Mình ưa nằm lăn trong cánh rừng lá rộng, lá kim, cạnh bờ tre, nứa, lồ ô, bên cỏ bồng, đôi mắt nai tơ, nhìn lên trời xanh, băn khoăn hỏi: 
– Ba ơi! Mây với sương, có giống nhau không?
– Không. Mây là mây, mà sương là sương.
– Mây có chở mình về Huế không?
– Hỏi cái chi mà tào lao, lác lác rứa hè! Huế có cầu Trường Tiền, sông Hương núi Ngự, lăng tẩm đẹp lắm. Vài năm nữa, ba cho cả nhà về Huế, ở đó luôn.
– Mà ở đó, có đẹp như ở Đà Lạt không? Ba!
– Đẹp lắm!
– Xa Đà Lạt, con nhớ lắm.
Thế mới biết, từ trong huyết quản, từ trong tư tưởng, từ trong tiềm thức, từ buổi thiếu thời, Hoài đã có tình hoài hương, tình yêu thiên nhiên, quyến luyến chốn xưa biết ngần nào. Chính câu nói ngây thơ, trò chuyện lẩm cẩm, nên đi đâu, ba ưa dắt con gái út theo, nói chuyện, nghe đỡ buồn.
Chị Lê mua vé xe hãng Phi Lực, cho mẹ con Hoài về Huế vào giữa ngày hai mươi ba tháng chạp. Chợ búa vào mấy ngày cận Tết, đông đúc người qua kẻ lại, chật như nêm, ồn ào náo nhiệt, rộn rịp khác thường. Bến xe phức tạp đủ mọi người bán mua mời chào, chen lấn. Xe cộ dập dìu bon chen, cố tranh nhau một đoạn ngắn để khỏi trễ giờ, đưa má con Hoài trở về một thời xuân trẻ quê xưa, xuôi Trung cập rập vào ngày cuối năm.
Thời Pháp thuộc phân chia tách bạch ba miền: Bắc, Trung, Nam, để họ dễ bề hà khắt, thống trị. Thật là phiền toái, rối rắm qua bao dị biệt, đi đến sự chia rẽ nhức đầu. Thành phố Dalat ở vào miền Cao Nguyên trung phần, trên độ cao 1.475 mét, nhiệt độ thường ở 20 o/c, có hai mùa, mưa từ cuối tháng 5 đến 11, tuy thế khí hậu dễ chịu, mùa ráo từ 12 đến đầu tháng 5, nắng ấm luôn chan hòa, mát rượi.
Ra khỏi thành phố nên thơ, xa dần đền Sofnadronhay, xa từng đầu cây ngọn cỏ, xe boon boon chạy nhanh về hướng Cầu Đất. Những đồi trà, đồi cà phê rợp bóng, thơm ngát. Mỗi khi vào mùa hoa nở, cả vùng trời sương mù đầy hoa, tỏa hương thơm ngào ngạt, ngây ngất. 
Hoài nhớ chuyện đi làm "nghĩa hiệp cho anh Min", dù mới trải qua non tháng, nhưng sao thấy quá lâu! Do biến cố ngoài sức tưởng tượng, niềm đau đớn trào dâng đầy ắp, Hoài không còn hơi sức để nhớ, nghe, biết, thấy việc gì, ngoài nỗi tái tê chán nản, choáng ngợp cõi lòng. 
Xe đỗ đèo Đơn Dương, chạy ngoằn ngoèo trên con đường mờ mờ bóng tối, trơn ướt nước sương, đọng thành từng dòng, bóng láng như da lươn, đầu xe chúi nhủi xuống mãi, nhiều khúc ngoặt hiểm nghèo, như cùi chỏ co quặp. Bình minh len lỏi trong những vầng mây hồng thắm, gợn từng sóng viền bạc long lanh, xen lẫn màu vàng sáng, dần dần ló lên bên triền núi thấp, có nhiều đoạn gấp khúc. Từng cuộn mây trắng ngần, không hiểu từ đâu quyện với hơi sương, tạo thành từng chùm bông gòn xôm xốp, lênh đênh trôi về đầu núi. 
Trên cao chót vót đỉnh đèo, nhìn xuống chân núi, từng mảng sương mỏng dài, như dải lụa, tản mạn trong bầu trời, hoặc vắt vẻo trên thân cổ thụ, trùng trùng điệp điệp. Mặt trời chiếu xiên, tỏa muôn ngàn ánh hào quang rực rỡ, lấp lánh bảy sắc cầu vồng, lung linh diễm ảo nét thiên đường. 
Dọc theo những sườn đồi Đèo Ngoạn Mục, có hai ống nước khổng lồ, chạy từ đập Đanhim xuống chân đèo, như cặp rắn song sinh giát bạc, long lanh quái dị, suốt tháng năm, vắt mình, treo lơ lửng, trong khu rừng xanh um bí hiểm. Ống bạc nầy cung cấp nước, cho vùng phụ cận miền đông Trung Phần, con nước mát ngọt ngào vô tận. 
Hoài rất kính phục các kỹ sư tài ba lỗi lạc, những người thợ kiên cường đã "tạc" vào không gian, thời gian bức tranh tuyệt hảo, một công trình vĩ đại, phong phú, họ không ngại gian khổ, sức lực, âm thầm lặn lội vào rừng sâu, núi thẳm, có khả năng phong phú, chinh phục thiên nhiên, xây dựng kiến thiết quê hương, ngày thêm tiện nghi, giàu đẹp, hùng cường.
Krông Pha an lạc dưới chân đèo Ngoạn Mục, có nhiều hàng quán tấp nập kẻ ra người vào. Cơm canh nóng hổi, thơm phức mùi chiên xào nấu nướng, khiến khách thập phương cảm thấy đói lòng, ghé lại dùng bữa, nhâm nhi tách cà phê thơm loại thượng hảo hạng của moka, mít, chồn, hoặc uống ly trà bốc khói thơm lừng mùi nỏn trà La Ba, bạch mao. Cầu Đất, Đơn Dương, Blao, vân vân… 
Xe chạy qua gần vùng quốc lộ 1A và 27, từ miền núi thấp dần xuống đồng bằng và vùng ven biển, xuôi về đông nam, suối Vĩnh Hảo, nơi cung cấp nước nóng 30 độ c, tinh khiết ngọt ngon, cạnh Hòn Lao Câu, Giành Sơn, nằm trên đường xuyên Việt, tiếp giáp Ninh Thuận. Có cả Đá Chẹt, Mũi Nhỏ, La Gàn, Hòn Rơm cách Mũi Né 4 km, những rặng dừa xanh um đầy quả, rợp bóng mát, đồi cát vàng tiếp nối trùng trùng, ánh lên dưới bầu trời đầy cát mịn, êm êm, đồi cát luôn thay hình đổi dạng dước sức gió đưa. Mũi Né hoang sơ nguyên thủy, nhưng phong thái đẹp tươi, trong lành, thoáng đạt dưới nắng ấm, bãi cạn thoai thoải, nước sạch, trong veo. 
Cà Ná, sông Mê Lam, sông Sắt, sông Chá, sông La, lại còn có cái tên rất lạ : sông Quao, Cà Đú, sông bà Râu, là những danh lam thắng cảnh tuyệt vời, dẫu có hững hờ, Hoài trầm trồ phong cảnh tuyệt mỹ, độc đáo, đất nước giàu chất thơ, lãng mạn, và trí tưởng tượng phong phú, nơi mỗi người. 
Khu tháp Chăm Pa : Tam Tháp, Hoà Lai, Pô Rô Mê, và Pô Tầm ở Phan Rí. Trong các tháp kể trên, có Tháp Chàm Poklong Garai, cách Phan Rang khoảng 2 ki lô mét, đẹp và hùng vĩ hơn hết. Trong suốt chiều dài lịch sử, dọc theo dòng đời đưa đẩy, qua bối cảnh lịch sử thăng trầm, dân tôc Chăm có khoảng 200 năm sau Công Nguyên; từ 982 đến 1.471. Nước Nam bận rộn những trận chiến thư hùng, oanh liệt, đánh tan giặc Nguyên từ Phương Bắc, phía Tây, Chiêm Thành luôn quấy phá bờ cõi đất Việt, chiến tranh Việt Chăm liên miên bùng nổ, rất ác liệt. Vua Trần Nhân Tông bèn… giao hảo, cho công chúa Huyền Trân viễn du sang làm hoàng hậu Chiêm Thành, khiến cả "Thế giới rúng động". 
Thời gian hững hờ xô sóng, rớt trên nỗi sầu đau vào Kinh Thành dân tộc Chàm, sau đó, Chàm bị cái họa diệt vong. Dân tộc Chàm có di tích lịch sử vô cùng huyền bí. Ba ngôi tháp cao, to lớn, bằng gạch đỏ, đất sét, và đá ong, nằm trên ngọn đồi trọc. Kiến trúc tinh xảo, uy nghi, lồng lộng, sừng sững giữa nắng trưa khuya chiều. 
Dưới chân đồi, đi lên chín hàng cấp, qua cổng chào xây đá, hình vòm cung. Tháp hình chóp ba tầng, đúc gạch đất đỏ đậm. Chính diện có tượng thần Shiva. Trong tháp, ngoài bức tượng vua Poklong Garai và chiếc bàn đá, hoàn toàn trống trơn, rộng rãi. Vào dịp đình đám lễ lạc, Tết nhất, như tháng giêng âm lịch có lễ hội Rija Nưga; Poh Mbăng Yang, tổ chức dưới chân tháp Pôsha Nư, những đêm trăng sáng, họ thường lên Tháp cầu kinh, ca hát nhảy múa, thiết tha hoài cổ bằng điệu sáo, cây đàn truyền thống, câu ca não nùng ai oán, tỏ lòng hoài hương vong quốc và hoài cảm. 
Một trong ba ngôi tháp, có tạt bộ phận sinh dục nam, nữ, bằng đá. Tác phẩm của Thượng Đế ban cho con người, là điều cao qúy toàn bích. Cứ thản nhiên thì, có gì mà ngượng ngùng e thẹn, không dám chưng bày! Đứng trên sân nhìn qua cây xương rồng gai nhọn xù xì, là ruộng vườn làng mạc xa xa, bao bọc ba phía. Có phía nhìn ra biển khơi, cuốn theo nỗi sầu đau xô sóng, xa tít tắp đến chân trời. Với Hoài thì nghĩ : Người ta có thể phân ly con người ra khỏi nơi chôn nhau cắt rốn, nhưng không ai có thể vong bản, tách bạch từ cây cau, bụi chuối, dẫu quê hương điêu linh, sầu đau, ra khỏi lòng mỗi người vong quốc nô, vong gia thất thổ muôn hoài nhớ, ngậm ngùi, cay đắng.
Nào Cà Rôm, Suối Cát, Phan Rang, vùng cát vàng nóng bỏng, bao trận cuồng phong xoáy tít trên không. Nóng, gió, nắng gắt quanh năm. Đồng khô cỏ cháy, không phì nhiêu màu mỡ. Tuy nhiều sông, ba phía là rừng, một phía biển, nhưng Phan Rang luôn bị năng lượng bức xạ mặt trời, có cường độ cao. Dân cư đông đúc, đa số buôn bán các ngành hải sản, đoàn người Raglai, Chăm, đội thúng, đi trên con đường ngập nắng chói chang, đất đỏ vàng trên đá sét, cát kết vôi, đất pha cát mịn, tích lũy mùn N, P2, 05, K20. Họ chịu ảnh hưởng thủy triều, thiên nhiên khắt nghiệt, khí hậu gay gắt, bị gió tung cát bụi, nóng nung người, làm rát bỏng mặt, đa số dân bị bệnh đỏ mắt. 
Phan Rang có lễ hội Katê, hoặc Chabum vào tháng 8, 9 âm lịch, tại tháp Pôklong Garai. Tháp nằm trên núi Trầu, cách Phan Rang 5 km, về hướng Tây Bắc, do Simhavarman ill, xây dựng từ thế kỷ 13, để dân tộc Chàm tưởng nhớ cha mẹ.
Ba Ngòi là miền hải tần, nuôi tôm nước mặn sầm uất, chuyên sản xuất tôm hùm nổi tiếng. Vịnh Cam Ranh nhiều cánh đồng cát trắng phau phau, dùng làm men sứ hay thủy tinh xuất cảng, là nơi tàu bè đi lại dễ dàng, nơi neo bến an toàn nhất. Dọc quốc lộ, từ Krong Pha chạy xuống Cam Ranh, rải rác hai bên đường là Khu Dinh Điền trù phú, do chính phủ mới thành lập, nâng cao đời sống người dân tứ phương đến an cư lạc nghiệp, trong cảnh thanh bình trù mật. Xe boong boong trên đường đi, bỗng nhiên chậm lại, vì cơn mưa buốt giá, rả rích kéo dài suốt ngày. 
Rẽ về hướng trái, là đường vào Bình Thuận, nơi nổi tiếng với đoàn thợ lặn chuyên nghề. Người ta nói "sanh nghề tử nghiệp", thật tình Hoài chẳng biết nói sao, khi thợ lặn trồi lên, mang theo những hạt trai lóng lánh, dưới ánh mặt trời, đem giàu sang về cho gia đình và đất nước, nhưng cũng từ nơi chốn ấy, đa số thợ lặn lên bờ nghỉ ngơi, bỗng mặt mày thâm tím, máu mắt, máu mũi, máu mồm ộc ra, co giật chân tay kinh khủng, cho đến khi linh hồn "lặn" theo hà bá, mút mùa lệ thủy.
Trời xám xịt, ảm đạm, với từng cuộn mây đen, phủ chụp lấy Cây Cẩy, xe chạy càng chậm như rùa bò, khi đến Cổ Thành, là một quần thể lục giác, kiến trúc quân sự độc đáo, quy mô theo phương án Vaubau, hào sâu chắn bờ thành cao 3 mét rưỡi, bên trong đắp làm hai bậc cấp rộng. 

_ * _ 

Kính mời độc giả xem tiếp: Chương 9-
Trân trọng