Chương 10: Bên đồi hoang vu

Chương 10


BÊN ĐỒI HOANG VU

Hai mẹ con, tay xách tay mang, quà bánh đủ thứ, đi về dưới ngôi nhà tranh, ba gian hai chái thấp lè tè, khiêm nhường dựa lưng vào giữa hai ngọn đồi trọc. Trước trăm ngàn núi rừng, cằn cỗi trùng điệp khác. Con đường mòn gập ghềnh, dưới ánh nắng nhạt phai buổi chiều. Cánh đồng khô tiếp nối dãy núi đồi trùng điệp, nhìn mút tầm mắt, đến tận dãy trường sơn. 
Khu rừng trên chỏm đồi xa tít, ghê rợn xiết bao, đám cháy, tỏa khói mịt mù, đỏ rực ngày đêm. Dân làng tụm năm tụm ba, góc nầy góc nọ, họ chỉ chỏ đụn khói đen sì, như cây nấm khổng lồ. Nào ai biết chiến trận xảy ra ở đâu. Có lẽ ngày mai tim con người ngừng đập, máu huyết không luân lưu trong cơ thể. Bầu trời là biển lửa. Tình trạng ra sao! Bầu trời vàng cam vang gầm tiếng trái phá. Không có dấu hiệu nào khác, ngoài đôi lúc hiếm hoi, năm ba quân nhân cương nghị, vội vàng, lặng lẽ âm thầm, mệt nhọc, đi tắt ngang qua đồng ruộng khô, quần áo lấm lem bẩn thỉu, thương tật cùng khắp. Ngoài đường cái, đoàn xe GMC, đỗ quân lên ngã Ba Lòng. 
Chiến cuộc kề bên nách. Hoài sợ quá. Ngày đêm thấp thỏm âu lo, mỏi mòn run sợ. Vài ba lần cháy rừng, khói lửa ngút trời, kèm theo nhiều tiếng nổ lụp bụp, thật ghê hồn, tàn cây mục, cỏ tranh phựt cháy rất nhanh, hằng triệu cuộn lửa nhấp nháy, tỏa bay theo gió xoáy, cuốn thốc bụi mù, hoa cả mắt, nóng rát, ngứa ngáy khắp người. Thật kinh khủng! Dân làng thức thâu canh, quần quật dập tắt lửa, bằng những dụng cụ thô sơ, nhưng với sức cần lao bền bĩ, chịu đựng, kiên cường, mọi việc đã yên. Mấy ngày sau, tro đóng thành từng tảng mịn, dẫm chân bước lên con đường mòn cũ, hai bàn chân Hoài nóng như phải bỏng, bụi tro bốc lên, theo từng bước giày, phụt lên cao quá đầu gối, hắt lên mặt, mũi, dính đầy tro.
Lúc thấy ngôi nhà thờ lú ra trên đầu dốc, cây cầu Mỹ Chánh đen đen, càng gần càng lớn, Hoài mừng rỡ đi trên đường nhựa bóng láng, đỡ cảm thấy sợ, hơn băng rừng lội suối vắng lặng. Đứng trên sân nhà thờ, nhìn về hướng Huế, nhà Hoài ở cùng một phía, nhưng cách nhà thờ ba đồi sim, nhà dựa lưng bên sườn núi, là hàng xương sườn bao bọc bởi dãy núi bạt ngàn. Mỹ Chánh nằm trên quốc lộ 1, nối liền Huế và Quảng Trị, có quốc lộ 9 đi Lào, qua cửa khẩu Lao Bảo, toàn núi đồi trùng điệp, âm u qua khu Khe Sanh, Đa Krông, sát biên giới là hai tỉnh Salavan, Savankhet, (mà tự thuở thanh bình, hồi còn bé, có mấy lần, ba đã dẫn Hoài qua đó, để ba trị bệnh nan y cho Vương Quốc bạn) nối trục đường bộ xuyên Á.
Sông Thu Rơi quanh co huyền nhiệm lững lờ, xuôi về Phá Tam Giang lồng lộng gió. Hoài vội vàng kéo thân áo lạnh che kín ngực, cho khỏi gió lùa, cúi cong người bước nhanh, đôi chân luống cuống, bước đi khó khăn, gió xoáy tít giật vạt áo dài bay phần phật, dưới mặt trời hạ chí, nung rát đôi má cháy nắng, đầy chịu đựng, dưới nắng vàng tươi và hàng phượng đua nở. Thỉnh thoảng có chiếc xe đò, xe GMC vút qua, nghe một tiếng vù, khiến nàng giật thót mình, tâm trí trở về hiện tại. Cứ ngỡ mình ở tít tọt trong rừng, Hoài đi thênh thang giữa lòng quốc lộ, có ngày tan xác, chứ chẳng chơi. 
Ba má ở gì chỗ đèo heo hút gió, khổ cực quá không biết! Mỗi buổi sáng Hoài cầm chổi quét nhà, quét sân. Nền sân rộng in đều đều, từng hàng chổi tre. Sân bóng láng không một cọng rác cọng rơm, chạy dài thẳng tắp. Bên luống vồng cao, đất vãi phân tro tơi mịn, lú nhú vườn cải xanh um, đơm hoa vàng loáng thoáng. Phía ngoài khuôn viên đất nhà, vỏ phong hóa trên bazan, phù sa ven sông thấp, có trầm tích biển, toàn sỏi đá, đá ong đủ cỡ, đất khô nứt nẻ sần sùi. Không phải khu đất phì nhiêu phù sa mầu mỡ, mà là những hòn đất, ném nhau bể đầu, cuốc lên mẻ lưỡi, gảy cán. Chao ôi! Thế nhưng, trời không phụ lòng ba đôn hậu, kiên cường, cần mẫn, dù với đặc thù tự nhiên, thời tiết rất khắt nghiệt vào mùa khô, rất khổ sở trong mùa mưa.
Giếng nước, cách xa nhà hơn một cây số. Gánh nước về, mệt hụt hơi, quảy đôi quai thùng lên vai, Hoài càu nhàu suốt, than thở một mình! Nàng sợ gánh nước, nhưng không gánh, thì ai gánh cho? Không lẽ bắt má gánh? Ngày còn nhỏ tí xíu, Hoài thích quảy quang gánh lên vai, đôi thùng chấm sát đất, Hoài thích thú kéo lê thùng nước mà. Quay lui quay tới, công việc nhà không tên, chẳng lúc nào ngơi tay. 
Không ai chia sẻ bớt một phần gánh nặng với mình. Không ai giải quyết tình trạng nan giải. Bởi, mỗi người đều có muôn vàn khốn khó, cay cực, đau buồn, cay đắng riêng. Nơi chốn chó ăn đá gà ăn muối, toàn ruồi muỗi, kiến lửa, rắn, rết, bò cạp núi, to tướng, lỡ dại đạp trúng, nó cắn, nó mỗ, cho một cái, thì khó toàn mạng, có khi bay về âm phủ sớm. 
Dẫu sao, nghe mấy chú bác lực điền, khen Hoài xinh đẹp, có ngũ thường: Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, có tứ đức: Công, dung, ngôn, hạnh, và sẽ tiến đến tam tòng: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử; hai lỗ mũi Hoài khoan khoái nở to. Ít ra mình còn chút sinh khí ở nhà quê… đáng tự hào. Bái phục. Bái phục. 
Ở đây, gia đình Hoài sống biệt lập, với thế giới loài người văn minh. Đứng trên chót đỉnh ngọn đồi trọc, sau lưng nhà, nàng nhìn nhà láng giềng trong làn sương xa tít tắp, đất, trời, gần cây cỏ thiên nhiên hơn. 
Ba cây tùng chênh lệch nhau về tuổi tác, tầm vóc, thật đáng buồn. Một cây non èo uột mới lớn, giữa đồng khô cỏ cháy, một cây đã chết nửa thân, một cây xần xùi già nua, xơ xác, không đếm nỗi tháng năm, những rễ cái cằn cỗi, khô lông lốc, tróc vỏ, nhô mình lên khỏi mặt đất, thân xù xì, bị bóc từng mảng da khô đét. Xưa kia cây đại trượng phu nầy, hiên ngang oai vệ, đứng trên đỉnh đồi lồng lộng, mặc gió thét mưa gào, nắng táp sương sa, nay cây tùng bị những vết dao, chém thô vụng, nên cành cụt chìa chỏi lổn ngổn, lởm chởm, vô duyên nhô ra, nham nhở quá chừng. Ba Hoài ra sức nuôi dưỡng, bón phân, tưới nước cho cha con cây tùng, may ra chúng có hồi sức chăng! Má nói:
– Ôn điên hay răn, xách chi từng thùng nước, từ dưới leo lên đỉnh đồi, tưới cây tùng, cho khổ cực, mệt rứa!
Ba ngửa mặt lên trời, cười lớn:
– Phải! Điên hết. Chỉ có cây tùng, chứng nhân thời đại, là chưa điên mà thôi.
Trên đỉnh đồi nầy, không khí mát rượi êm êm, trong trong như ngọc thạch. Hoài giơ tay ra đón ngàn mây bay qua kẽ cành, về mở hội phương Tây. Nàng ngắm trăng rừng lạnh lẽo, vươn mình lên khỏi dãy trường sơn âm u trước mặt. Đồi núi ngút ngàn, trùng điệp rừng sim hoa tím buốt giá. Vĩa hè nườm nượp đón sương, cuồn cuộn bay, ô cửa kính đọng sương mù, thành từng giọt mọng nước, trắng xóa, nhỏ tong tong xuống nền đất hoen màu, tạo thành những lỗ con con, hình chóp cụt. Bầu trời ướt sũng hơi sương, đọng trên cành lá ướt át, dưới ánh mặt trời mệt mỏi, dậy muộn vừa dâng.
Nàng thích ngồi dưới sườn đồi sim, nhìn mây thành giăng mắc, sương chiều phủ kín thung lũng, xem cá lội nước ngược, xem chim bay biết hướng gió, Hoài có thể đoán, tàn lửa cuối bìa rừng giạt về hướng nào, để lo phòng cháy. Đôi khi nhìn rồng trắng lấy nước, Hoài biết trời sẽ mưa, thấy rồng đen xuất hiện, thì trời nắng. Mây thành ắt có loạn. Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay có bão, chuồn chuồn bay thấp là mưa, bay cao sẽ nắng, bay vừa là giông. Ở nhà quê Hoài cần biết tiết hạ chí, con nước dâng ban ngày, tiết đông chí con nước dâng ban đêm, Hoài lo phụ giúp cha mẹ già, quáng xuyến từ trong ra ngoài, trước khi thiên tai đến. Nhớ năm trước, ở nhà chị Khánh, một việc gì, dù cỏn con, Hoài làm vẫn dở ẹc. Nay đã khác.
Còn hai đứa con độc thân, bàn tay thư sinh, quen cầm bút chưa quen cầm cày, anh Thuyền đỡ đần ba mấy công việc nhẹ nhàng, anh thiếu kinh nghiệm mùa màng đồng áng, là điều thất sách. Má làm đủ việc trong nhà, ngoài vườn, ngoài ngõ. Hoài phụ má cơm nước, đầu tắt mặt tối, mệt vã mồ hôi hột. Giếng nước uống cách xa nhà một cây số. Gánh nước về, mệt hụt hơi. Quảy đôi quai thùng lên vai, Hoài càu nhàu suốt, than thở một mình! Nàng sợ gánh nước, nhưng không gánh thì ai gánh cho? Không lẽ bắt má gánh? Ngày còn nhỏ tí xíu, Hoài thích quảy quang gánh lên vai, đôi thùng chấm sát đất, Hoài thích thú kéo lê thùng nước mà. Quay lui quay tới, công việc nhà không tên, chẳng lúc nào ngơi tay. 
Không ai chia sẻ bớt một phần gánh nặng với mình. Không ai giải quyết tình trạng nan giải. Bởi, mỗi người đều có muôn vàn khốn khó, cay cực và đau buồn cay đắng riêng, nơi chốn chó ăn đá gà ăn muối, toàn ruồi muỗi, kiến lửa, rắn, rết, bò cạp núi to tướng, lỡ dại đạp trúng, nó cắn, nó mỗ, cho một cái, thì khó toàn mạng, có khi bay về âm phủ sớm. 
Chợ búa một tuần hai lần đi, mua đủ thứ cần dùng, cho người làm nông vai u thịt bắp vạm vỡ ăn. Ngoài ba bữa cơm chính, má lo thêm hai bữa phụ, ăn dặm củ khoai củ sắn, uống ly nước chè xanh nóng, trước khi tiếp tục công việc nặng nhọc. Chợ làng quê, thân quen từng hàng thịt hàng cá. Họ vui vẻ mời chào mỗi khi má con Hoài ghé mua. Họ thật thà đôn hậu, chất phác bán buôn, không để muối tắm trong sương, không nhúng rau vào trong nước, không cột cục sắt vào bàn cân, cho nặng kí, thiệt người mua, lợi người bán. Đi chợ có chú lực điền đi theo, gánh thức ăn về. Chợ Mỹ Chánh xa tám cây số núi đồi. Đường đi vắng vẻ điù hiu. Nhiều chỗ cỏ tranh cao lút ngực, Hoài lấy tay vạch tranh giạt ra hai phía, tìm lối đi, tuy sợ rắn rết, bọ cạp, nhưng biết làm sao? Cánh tay, mặt, mũi, bị cỏ tranh tươi, sắc như dao cau, cắt nát đôi cánh tay, cào xướt rát bỏng, đau xót là thường. 
Hoài công nhận ba là người cần cù nhẫn nại, trung kiên với đất đai ruộng vườn vô song. Suốt ngày ba chăm bón từng li từng tí, cho cây non mọc lên xanh tốt, giữa cảnh hoang vu uá tàn. Đất cằn khô sau mấy mùa vun xới, nay đãi ngộ người lam lũ, phần nữa ba có kinh nghiệm trồng tỉa, biết lượng tính năm thuận tháng hòa. Tháng 5 có lúa chiêm, tháng 10 có lúa mùa. Ba tận dụng đất đai trồng thêm khoai, sắn, đậu, bắp, nên bận rộn suốt năm. Trải qua mấy năm đầu lầm than khổ cực, nay ba đã gặt hái kết quả mỹ mãn không ngờ. Nông thôn hò câu ca dao: “Ai ơi bưng bát cơm đầy. Dẽo dai một hột, đắng cay muôn phần”. Rỏ thật vô vàn xúc tích, ý nhị. 
Ba má đã già, làm sao cầm vững cái cày cây cuốc, mà gối không chồn chân không mỏi, vun xới từng luống cày, vồng đất, đổi chén cơm chan hoà bụi đỏ, mồ hôi nước mắt. Bao âu lo phiền muộn, lam lũ nhọc nhằn, đắng cay khổ cực, mỗi ngày một chất chồng lên cao, với nỗi buồn đã chín, dưới dấu chân hằn sâu, trên mỗi bước đường gian khó.

_ * _

Kính mời độc giả xem tiếp Phần 2- Chương 11
Trân trọng