Chương 12: Phiền u hoài

Chương 12


PHIẾN U HOÀI 

Cùng với không gian u trầm, thời gian mòn mõi, trôi qua bao đau thương, buồn nhớ, tủi hận lẫn ngọt dịu, chen lấn vào tâm tư Hoài khắc khoải, nhiều dư vị đắng cay. Cuộc sống chẳng còn gì! Thật chẳng còn gì, ngoài bộ máy hoen rỉ khô khan, suốt ngày tháng vang lên cung điệu buồn bã, tiếng kêu não nuột tự đáy lòng. Kéo lê nhau theo tấm thân lam lũ, mệt nhọc rã rời, như kẻ mất hồn. Như người mộng du trong từng phiến u hoài . 
Một ngày kia, Hoài đã trọng bệnh, khi gió mùa đông bắc, xua những cơn rét rừng vào bếp lửa. Hoài mê man trên giường, bao nhiêu ngày sốt lạnh, ngủ không tròn giấc. Yếu đuối. Mệt lả bởi cái rã rời đớn đau, từ thể xác đến tinh thần. Hy vọng tàn phai. Tình yêu tan nát. Gian khổ xiết chặt, trên tấm thân cúi còng xuống, muôn phần cố gắng, mệt nhoài.
Hoài bừng tỉnh cơn mê, khi đám mây trắng bay ngang qua cửa sổ, in bóng xuống quả đồi. Đám mây bay dần khuất, cái bóng mờ biến tan theo, không ghi lại dấu vết gì. Nàng chống tay ngồi dậy, ngỡ ngàng nhìn ngôi nhà xa lạ: Nhà ngói tường vách, quét vôi trắng. Mới mẽ quá! Nhìn đồ đạc bày biện trong phòng, Hoài rất mừng, tim đập nhanh trong lồng ngực. Nàng thò chân xuống giường, quơ quơ tìm đôi dép, vịn tay lần từng bước theo góc tường, chân run run, đầu nặng trịch như đội đá, mắt nổi hoa sao, khi thấy ngôi nhà mới, cất trên khu đất cao, che nắng che mưa, sưởi ấm lòng người cơ cực, ngày đông tháng giá. Nhà cũ, nay làm bếp, làm kho chứa lúa rộng, ngũ cốc, mắm muối, có cả khu chăn nuôi gia súc.
Con chó Lu mập ú nù, đi từng bước nặng nhọc, xơ xác lông, không phải lông xù kiểu chó Nhật, mà xù lông bởi già nua. Ba má nuôi con Lu mười bốn năm, từ ngày nó mở mắt, đi chỗ nầy chỗ nọ vẫn mang nó theo. Có một lần dời nhà đi xa quá, ba má để lại cho chủ mới, họ cột Lu ít ngày, rồi thả ra. Một hôm má đến thăm nhà cũ, con Lu mừng rỡ, chạy ra chồm lên người má, nó rên ư ử trong mũi, đuôi ngoắt lia lịa, bỗng vụt chạy ra ngoài ngỏ, núp trong bụi cây. 
Má về đến nhà, nửa ngày sau thấy con Lu chạy lui, chạy tới, ngửi ngửi chỗ nầy, chỗ nọ, ngoài sân, nó suả lên nhiều tiếng. Má mở cửa kêu vào, nó mừng không thể tả, chạy loăng quăng khắp nhà. Sợ thím chủ nhà buồn, tưởng má cho chó rồi, còn tiếc của, đến dụ về, nên lấy sợi dây cột cổ, dắt nó đem đi. Chẵng những không chịu đi, nó nằm lăn dưới chân bàn, kéo ghì lại, dùng mõ cắn đứt sợi dây, rồi chui tọt vào gầm gường. Dụ dỗ cho đồ ăn ngon thế nào, nó cũng không chịu ra. Gặp lúc thím Tạ đi chợ, má mời vào nhà chơi, nhân thể chỉ con Lu cho thím xem. Ba má đành mua con chó khác, đem xuống đổi. 
Gia đình di chuyển từ Dalat về Huế, nó ngồi trên xe xuôi về quê. Sau nầy già rồi, đi đứng khó khăn, chậm chạp. Nhà nuôi thêm nhiều con chó khác, lúc trước khỏe mạnh, con Lu là xếp sòng, cai quản bầy chó, nay bị bầy chó nhỏ tha hồ ăn hiếp, giành ăn với nó. Ba má quý Lu hơn hết. Nó thông minh, biết phân biệt cầm thú gia chủ, không cắn hại, mà ra sức bảo vệ. Nó biết săn bắt chim, gà rừng, chuột đồng, tha về cho chủ. Nay già yếu, nó quanh quẩn bước đi chậm chạp, bên chuồng gia súc, lâu lâu sủa cụt lủn từng tiếng, như nhắc nhở đàn em: "Vừa phải thôi. Hãy coi chừng. Còn ta đây."
Ngoài thềm rộng treo chiếc lồng cu gáy, sơn son thiếp vàng, đang gù gáy bạn đời, nghe thật hay. Lồng bên cặp cưỡng đen tuyền nhảy nhót, tiếng hót líu lo. Cạnh chuồng trâu, bò, là mười bốn chú heo lứa mập ú, giống Yorkshire, với bầy thỏ, gà, vịt, ngỗng, ngan, ăn luá bên hông nhà. 
Rau muống ngóng mình dưới ánh mặt trời, hoa màu tím chứa đầy nước, long lanh dưới nắng như chiếc chuông lụa mềm. Loại rau thật dễ chịu, dễ sống quá chừng. Anh Thuyền thả vài bó rau, nay mọc đầy, lấn lướt cả ao sen, cắt hoài không hết, cứ mọc trồi lên mãi. Ba đã tận dụng thả thêm rau cần nước, rau xà lách xoon. Hoa súng, cây năng, tự đâu chen sống. Má ưa cắt rau mang cho các nhà láng giềng. 
Má cho năm con gà mái dầu ấp trứng gà, bốn con gà Tàu ấp trứng vịt. Mẹ gà "túc túc tục tục" cho gà con ăn tấm, một tháng sau vịt con "chít chít" giành ăn trong sọt tre đan thưa. Mẹ gà dẫn con đi ăn, bầy vịt thấy nước khoái chí, cả đàn nhảy xuống ao, bơi lội lặn ngụp thoả thích, mặc các mẹ gà, chạy lui chạy tới, quay quắt cào bới trên bờ, cục tát om sòm. Mẹ gà sợ con vịt chết chìm.
Bó rau lang cầm tay, má mê mãi nhìn, mấy con heo húc mõm vào mán ăn, giành nhau từng miếng. Chúng tợp cái ăn, vỗ vào mõm kêu bộp bộp, thật vui tai. Thấy Hoài thập thò nơi cửa sổ. Má vội quăng bó rau xuống đất, tất tả chạy lại dìu con về giườngỉ. Khuôn mặt má càng tiều tụy hốc hác hơn, vì nuôi con bệnh, lo con bệnh, lo đầy ắp công việc nặng nề. Nhìn má, Hoài càng mũi lòng, quay mặt đi, che dấu hàng nước mắt, tự nhiên ứa ra. 
Tẩm dầu dừa ướt lên mái tóc Hoài, má cầm từng lọn tóc quấn vào ngón tay trỏ, gở thật nhẹ, sợ làm động chân tóc, con đau đầu. Mái tóc Hoài rối bù, như tơ vò đằng sau gáy. Nàng nằm trên giường bệnh lâu lắm, không nhớ là mấy tuần rồi. Mất cả ngày, má mới gở mái tóc Hoài xong. Mái tóc ước nhẹp dầu dừa, má thắt hai con rít, cột đuôi tóc bằng sợi cao su, thả ra trước ngực, nằm cho khỏi rối. 
Má nấu cháo lòng thả, gồm: Lòng heo, bún tàu, nấm rơm, nấm mèo, huyết heo, dưới đáy tô, má đập hai tròng đỏ trứng gà so, rau tía tô, hành ngò xắt nhỏ, tiêu ớt, chút nước mắm. Ăn xong tô cháo tuyệt ngon, mồ hôi toát ra đầm đìa. Má thay áo cho Hoài, tươi cười nói: 
– Ăn lòng heo, nghe nói độc lắm. Ơ, lấy độc trị độc. Con hè.
Chẳng hiểu do món lòng thả, hay do bàn tay ân cần chăm sóc, đầy tình yêu thương trìu mến của mẹ già, Hoài bình phục hoàn toàn, khi thời gian làm tuổi tác má, một sớm một chiều, héo hon nhanh đến thế. 
Chính sự khốn khó vây bọc, buồn tủi lo âu, đắng cay đau thương cuộc sống, đã sớm nhuộm màu đen trên mái tóc má, sớm bạc mầu mưa nắng gió sương, môi nhạt má phai, răng hạt huyền đen nhánh, dáng vóc bơ phờ, trán in vết âu lo, mắt luôn cúi nhìn, đôi lông mày xích lại gần nhau đến vậy. Lòng Hoài gợn lên nỗi bâng khuâng mênh mông, thấm thía, bờ mi trĩu nặng giọt nước rưng rưng, mọng mọng.
Lúc mặt trời vắt mình trên đồi, đụn lửa nơi góc núi, trông hừng hực hung hăng, ngày dần tàn, có vẻ như dịu đi, sau lớp khói đen dày. Làng quê yên lặng vô vàn. Lẽ sống gia đình Hoài giờ đây, dính liền với đất đai, ruộng vườn, làng mạc, ao bèo, rẫy sắn nương khoai. Không bám vào đâu ngoài đất. Đất ! Đất quê em nghèo lắm ! Như bài ca "Tiếng sông Hương" của nhạc sĩ Phạm đình Chương ghi đúng “ Mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu cơm. Trời hành cơn lụt mỗi năm, khiến đau thương thấm tràn …"
Lụt. Sáu ngày qua, trời mưa gió bão bùng, gió xoáy cấp tám, cấp chín, thổi tung nóc nhà, vận tốc kinh hoàng, từ 65 đến 85 km/giờ, kèm lụt lội, thối đất thối đai. Cơn lạnh thấm qua thân hình co quắp, không đủ áo ấm che thân. Gió tạt vào tấm phên thưa lõng lẽo, mưa lọt qua vách cót hở ướt sũng. Ướt át cùng khắp. Một cái gì lạnh toát, rần rần chạy khắp thân thể, làm tê cóng toàn thân. Lạnh thấu xương. 
Từ mùa thu, dọc Phan Thiết, Phan Rang, chạy dài ra Huế, có ngọn gió mùa Tây Bắc, thường mưa dầm gió bấc, mưa phùn suốt ngày đêm rả rích, có khi suốt tháng, thối đất thối đai. Từ tháng bảy mưa ngâu, mưa suốt đến tháng giêng, hai, không chừng. Tục truyền Ngưu Lang chăn trâu gặp Ngọc Nữ giáng tiên. Họ yêu nhau say đắm và cưới nhau, suốt ngày quấn quít, không chịu làm việc. Ngọc Hoàng giận, đày hai người ở hai bên sông Ngân Hà, (Milky Way) Mỗi năm Ngọc Hoàng cho phép họ gặp nhau vào tháng bảy, do chim quạ chắp cánh, nối liền hai bờ sông, làm cầu Ô Thước. Hai người khóc thương thảm thiết, đến nỗi nước mắt lưng trời, thành mưa dầm gió bấc, bão lụt luôn luôn.
Mấy bác nông dân, ôm lồng ấp đựng than hồng vùi tro nóng. Họ ngồi như co lại, vây quanh bếp lửa, dưới mái nhà rét mướt, hong đôi bàn tay gân guốc, khô khan cằn cỗi ra sưởi ấm. Họ nướng củ khoai, luộc nồi sắn, ăn chén chè, chén bắp hầm, thơm nóng. Kể cho nhau nghe kinh nghiệm đồng áng. Đủ thứ chuyện nắng gió trở trời, vui buồn, nổ như bắp rang. Trời mưa lụt, ăn rồi ngồi một chỗ, họ cảm thấy bực bội, khó chịu. Suốt đời lam lũ lầm than vất vả, chẳng hề mở miệng kêu than, oán trách Trời bất công, cay nghiệt phủ chụp xuống đời. Họ than thở trời mưa lụt không có việc làm, buồn chán quá. Thật lạ. Nhiều tháng sống thân cận với người bình dân giản dị, chất phác hiền lành, xuề xoà, vui vẻ, đơn sơ chân chất. Bỗng dưng lòng Hoài gợn lên chút tình thương thương, mến mến, vui vui, lo lo nơi lồng ngực đau đau, êm êm, mà dễ chịu.
Bây giờ Hoài hiểu, vì sao ba má làm nhà trên lưng chừng đồi. Mất công đi gánh nước xa giếng. Tha đôi nước về đến nhà, mệt hụt hơi, dù giếng có nước ngọt và trong veo, mạch ngầm phun lên từng bông hoa nước, trào ra thành khe suối nhỏ uốn quanh sườn đồi, trong khu đất vườn nhà. À thì ra… nay nước lụt mênh mông, đã lấp ló lên tới nửa cây dừa. Lụt to kinh khủng! Sau ngày nước rút đi. Lớp bùn lầy đục ngầu, là phù sa mầu mỡ, lưu lại nơi đất đai ruộng vườn.
Ba, anh Thuyền, tát ao tát đià từ hai tháng trước, cá tôm đủ loại, đủ thứ. Má phân chia cá biếu mấy chú bác nông phu, biếu bà con lối xóm. Ở nhà lớp kho nấu, lớp làm mắm, làm khô. Hai ba lu vại đầy, dự trữ mùa đông tháng giá. Tát xong cá, ấy là lúc ba và anh, chuẩn bị sơn tréc chiếc ghe gỗ. Ba cùng vài người làm, hạ chiếc ghe úp sau chái hè xuống. 
Đi quan sát một vòng lân cận, xem họ cần giúp đỡ gì không, coi tình hình con nước, thấp cao thế nào. Giăng lờ, đó, bẫy, chơm, bắt cá, tôm, lươn, khi cơn nước rút cạn dần dần, đi chơm nhiều cá lớn bé, con mắc cạn, con vướng cây cối bụi bờ lau lách, không thoát kịp theo dòng nước. 
Bỗng nhiên Hoài nhớ chuyện ông Noah, có con tàu khổng lồ trong cựu ước, với trận hắc hải đại hồng thủy, bên bờ eo biển Bosphorus, ngăn cách bởi Đại Trung Hải và Hắc Hải rùng rợn kinh khủng, thuở xa xưa.
Vườn nhà khang trang. Đứng trên sân cao, nhìn xuôi về vườn cau, dừa, trồng đúng hàng lối thẳng tắp, như ngàn chiếc lọng xanh, cao nghều nghệu. Bốn cây rơm khổng lồ, là món ăn béo bở cho gà, vịt, chim cò bới móc. Thực phẩm cho trâu bò, và phương tiện thổi nấu thay củi ở đồng quê. 

_ * _

Kính mời độc giả xem tiếp: Chương 13
Trân trọng