Chương 13: Xa


Chương 13


XA

Sau ngày bình phục, ba má quyết định cho Hoài vào Đà Nẵng, ở với anh chị Thương Huyền. Anh Thuyền đi Dalat. Nơi đây chưa biết cuộc chiến xảy ra lúc nào. Thế là hai anh em sắm sửa lên đường. Lòng mừng vui cuống quít, mong trời mau sáng, để đừng bị bỏ rơi lại nơi mảnh đất già nua, cằn cỗi quạnh hiu, dù anh em đã sống quá lâu, trong đau thương xiết nặng. Xa …
Cha mẹ già ở lại giữa cảnh đồng quê, hoang vắng buồn tênh. Ba má đã sống đớn hèn, thầm lặng trong bốn mùa thương khó, âm thầm với tháng năm trầm thống loạn ly, từ Thành xuôi về Tỉnh, về Xã, Ấp, trên con đò quê hương. Qua bao thăng trầm, trĩu nặng hai vai gánh gồng, còm cõi, vất vả ngược xuôi. Khuôn mặt ba má già nua trước tuổi, không đếm xuể tháng năm, đã xúc động trào giọt lệ, từ đôi mắt héo hon, trong giờ chia tay. Mẹ con bịn rịn mãi không rời, trên cánh đồi hoa sim tím bạt ngàn. Má dặn dò con đủ thứ chuyện. 
Thú vui duy nhất của ba là thích mở mang đất đai. Quy tụ bà con, cháu chắt, xóm làng, ai không có công ăn việc làm, về ở một chỗ. Lo cho họ có cuộc sống khá hơn, là niềm ước mong canh cánh bên lòng. Với ý chí kiên cường, bác ái, ba má đã giao việc cho mấy người bà con, ở dưới Làng lên trông coi. Ba má quá mệt mỏi, vì vật chất của cải phù vân, nên không muốn gì. Ba đã đưa hai mươi lăm gia đình lên vùng nầy, làm ăn sinh sống thoải mái, đầm ấm và thành công.
Trên bến, gần Phu văn Lâu, bến xe phức tạp đủ mọi thành phần, đon đả mời chào bán mua, đánh lộn, giành giựt, chửi thề. Tốt hơn hết, Hoài xách va ly ra khỏi khu nầy, đi một đoạn khá xa, rồi lên đoàn xe đi Đà Nẵng, đi Hội An. 
Hoài phóng tầm mắt nhìn quanh một vòng. Kinh Thành Huế có lũy thành chu vi độ10 kilômét, cao 6m6, dày 2m1, có 24 pháo đài, nhìn trên phi cơ xuống, giống hình cánh sao tuyệt đẹp. Dưới cơn mưa bụi mù bay, dòng sông Hương gợn sóng lăn tăn, uốn mình qua cầu Trường Tiền, mờ mờ ảo ảo. Ở một đầu cầu, về phía tả ngạn, là nơi đúc tiền bạc thuở xưa, nên gọi là Trường Tiền. Ngày xưa cầu bằng gỗ, bị trận bão lớn, thổi bay cầu. Năm l945 kháng chiến chống Pháp, cầu bị giật sập. Sau nầy, cầu đúc xi măng, có sáu vài mười hai nhịp, màu trắng tuyệt đẹp. 
Nước cống bên đường đục ngầu, cuốn theo rác rưỡi hôi hám, một người hành khất già, khoát áo tơi mưa lá dừa, chằm bằng tay, mục rách, gầy ốm, ngồi co ro dưới lề đường, cạnh cái rỗ sứt vành, có đồng bạc cắt in hình bông lúa, nước chảy dưới gối. Ông chìa hai bàn chân ra đường, xe đạp từng hàng ba, hàng tư, chạy như điên, tạt nước cống lên ngực ông già tư lự, run lập cập. 
Cuộn mây xám bềnh bồng lững lờ trôi, giữa ngày mùa đông ảm đạm. Huế ướt sũng nước mưa. Huế giá lạnh phiêu bồng , u buồn da diết. Nam, nữ, thích mặc áo lạnh, dầm nước lụt, đi lên đi xuống, chen lấn nhau trên đường Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu, lại đi xuống rồi đi lên, từng cặp, từng nhóm. Nhất là ngày nước lụt, hai đại lộ nầy đông nghẹt người đứng, xem người khác lội nước say sưa, họ làm quen, chọc ghẹo nhau, bàn tán ồn ào, cười đùa vui vẻ.
Bước chân Hoài cô độc, thả bước hững hờ, lang thang qua nhiều nơi chốn xa lạ, lạnh lùng, nơi đâu cũng thấy buồn, thấy chán. Nàng chỉ khóc thầm, giọt lệ không tiếng nấc, âm thầm lăn dài trên má. Không thể vơi nguội lòng phẫn uất, làm bừng bừng đôi má đỏ.
Đúng lúc đó, Thân và vài bạn trai, đạp xe từ hướng cầu Trường Tiền đến. Thân có dáng vẻ thanh niên thật sự, cao lớn hẳn ra, nhưng khuôn mặt không già. Bốn năm rồi ấy nhỉ! Thân thích đi lượn phố, tán gái lắm. 
Không ngờ gặp, Hoài chưa kịp lờ đi, chàng vòng xe lại, ngồi trên yên, một chân chống xuống đất, hai người kia ngồi cách Hoài, xa khoảng ba bốn thước. Trước mặt Hoài, Thân tươi cười chào hỏi nồng nhiệt. Đáp lại, Hoài gật nhẹ đầu, gương mặt lạnh lùng, không nhếch môi, khiến họ cụt hứng, ngẩn tò te giây lát, rồi kêu Thân đi. 
Không hiểu hai bạn kia nói gì, họ quay lại nhìn nàng. Ngập ngừng phút chốc, Thân lại đến, cười gượng:
– Có lẽ, Hoài quên Thân rồi?
– Quên. Rồi thì sao?
– Tưởng Hoài nhớ, ghé dự sinh nhật chị Gái Nhỏ luôn.
Thân nhìn chiếc va ly da ướt nhẹp nước mưa, cạnh chân nàng, mỉm cười: 
– Hãy quên, chuyện hiểu lầm cũ đi. 
– Chuyện gì không đáng nhớ, tôi đã quên hết, từ lâu.
Cùng với câu nói, là cái nhún vai, đôi môi Hoài bĩu ra, khá bất lịch sự. Thà nói được như vậy, còn hơn cứ ấm ức, bực tức điều không thể nói ra. Thân thấy quê với hai bạn, nên đạp xe đi, không ngoảnh lại. Như thế mà hoá ra hay đấy!
Gia đình chị Huyền ăn cơm trưa, thấy em, cả nhà vui vẻ chào hỏi. Hoài lấy thêm chén đũa, ngồi vào bàn ăn qua loa, lấy quà ba má gửi gia đình. Hoài kể tình cảnh cha mẹ già, ở chốn đèo heo hút gió cho anh chị nghe, rồi nói:
– Theo em thấy, với số vốn liếng ba má đã bỏ ra lâu nay, phá đồi vỡ núi đó, tốn tiền bạc và sức lực nhiều quá. Chi bằng ba má mua một cái nhà nhỏ, con cái, ai hiếu thảo, mỗi tháng tài trợ vài ngàn. Ba má sống yên ổn. Không thích ở với ai, thì như vậy. Chứ "giàu nhà quê, không bằng ngồi lê thành phố". Ba má già rồi, khổ cực với ruộng vườn vất vả. Làm việc quên ăn quên ngủ, vẫn không hết việc. Suốt đời cơ cực. Có nhiều tiền thật, nhưng chẳng mấy khi an nhàn. 
Anh chị Thương Huyền, đồng ý điểm nầy, hẹn đầu tháng sẽ ra thăm ba má, bàn chuyện đó. Chị Huyền cười, nói với anh:
– Nhiều khi thấy ba má quá tội. Cha mẹ nuôi mười con. Mười con không nuôi nỗi cha mẹ, là vậy. Cứ mua nhà cho ôn mệ sống an cư, tự do. Có lẽ tốt.
Các cháu Châu, Trân, Vân, đã đi học trường dòng Tabert. Sơn đi nhà trẻ. Anh Thương đổi về làm ở Tiểu đoàn 52, trong nhà tất cả là chín người, chỉ mỗi mình anh đi làm việc, đồng lương Thượng sĩ, không thiếu hụt, không dư dả! 
Anh đi làm, chị Huyền đưa Hoài bốn lá thư Hoàng. Có thư cách đây bảy tháng, năm tháng, hai tháng. Mỗi thư đều có hình phong cảnh, đoá hoa ép khô, vài cánh bướm rực rỡ, mà ngày tháng đã điểm lên dung nhan thầm lặng, nét ưu buồn ủ dột, héo hắt, tàn phai ít nhiều, gợn lên trong quá khứ. Chúng trở thành khác sắc, phôi pha, kém duyên đi. 
Tuy thế, nhìn kỷ vật đó, Hoài thấy lòng mình vụt bay về khoảng trời xa xa, trong vắt mênh mông. Kỷ niệm êm ả một thời trẻ dại, xôn xao, đắm say cũ. Chính nàng tàn nhẫn bóp chết bất ngờ, vô tội vạ. Nay tình cờ, mở lại tầng số đúng nhịp tim, gợi về chuỗi ngày bâng khuâng, yêu dấu, luyến thương thầm nhớ vô vàn…
Đôi khi quá nhớ và còn yêu Hoàng say đắm, Hoài thầm ước mong: Phải chi mình có đủ tiền xe, ăn ở, đi và về, hoặc nhà anh ở gần bên, thì Hoài đã… 
Lòng dạt dào trìu mến, đối với người cầm bút viết nhiều lá thư, ân cần nồng nhiệt thăm hỏi, lo lắng cho sức khoẻ, tương lai và hạnh phúc của Hoài. Lá thư sau cùng, lời lẽ chân thành săn sóc, nhưng xa cách buồn bã lời vĩnh biệt. Cứ như lá thư Hoài viết năm cũ, Hoàng ngỡ là nàng đã có chồng. Những lá thư mầu xanh êm ái, như tỏa ra khắp căn phòng, mùi hương kỷ niệm đậm đà dịu êm. Như chứa đựng cả đại dương nhớ nhung mênh mông, như âu yếm ủ ấp tình hồng.
Hoài ấp thư vào ngực, nhắm mắt lại hồi lâu, hàng lệ tuôn trào. Niềm xúc cảm, rung cảm, thương cảm bùng lên, rồi từ từ lắng dần, lắng dần… dưới đôi hàng lệ âm thầm tuôn chảy, tự lúc nào! Được dịp khơi lại đống tro tàn, tìm phiến than hồng héo hon, Hoài đã khóc nhiều. Cánh cửa ngăn tuyến nước mắt vở vụn, bao đau thương buồn nhớ bấy lâu, được dịp tuôn trào. Đầu óc nàng là một môi trường đặc biệt, các suy nghĩ xuyên qua đó, trở thành hỗn tạp, mất niềm tin tưởng, không hy vọng có thể đến với Hoàng. 
Con đường xa thẳm từ Hội An, Đà Nẵng, đi Saigon ngút ngàn, hơn chín trăm cây số núi đèo, sông, biển. Tình đôi ta cũng dịu vợi thế thôi. Hạnh phúc bé nhỏ, ngắn ngủi xa bay, không thể làm tim nàng hồi sinh, duyên tình ấm nồng trở lại. Cuộc đời thương đau trôi đi. Một lần nữa không chứng thực lời anh nói, trong hoàn cảnh tế nhị, nhưng không kém phức tạp, đắng cay, chua xót. 
Hoài phải chấm dứt với Hoàng thôi. Bài ca "Lá thư" của Đoàn Chuẩn, Từ Linh, có câu nầy, Hoài rất thích…"Anh quay về đây, đốt tờ thư, quên đi niềm ân ái ngàn xưa… và…"Tình người nghệ sỹ phai rồi".
Tình người nghệ sỹ phai rồi! Nhưng tình Hoài chưa tàn phai theo thời gian. Nhất là những buổi chiều trời mưa vần vũ. Đầu đại lộ Phan Chu Trinh xám ngắt, như cuộc đời người con gái nhớ người yêu. Hoài nhớ Hoàng. Hoài yêu Hoàng, lòng Hoài cố gắng gượng, để khỏi thổn thức giữa cơn buồn. Cuộc tình chết đi đột ngột, đầy vô cớ, cất tiếng chào vĩnh biệt, xé rách tấm màn yêu thương dĩ vãng, phai mờ dấu chân kỷ niệm, một thời gắn bó nồng say trên lối cũ. Chia xa thật rồi. Không còn gì cho nhau, đã hết rồi sự trìu mến, dù tình chưa tàn phai… Hoài xếp thư từ hình ảnh, tặng vật lưu niệm, niêm phong vào túi xách, cất dưới đáy va ly, chờ có dịp thuận tiện, chính tay mình sẽ hoàn lại cố chủ. 
Cuộc chia biệt dẫu không hề có lý do, ít nhiều đã phụ tình nhau rồi. Hơn nữa thời gian cách biệt quá lâu, không thư từ liên lạc gắn bó. Không gian vời vợi cách trở, xa xôi biền biệt, ít nhiều gì, tình cảm cũng nhạt phai, trong lòng mỗi người. Hoài muốn trở thành cánh chim hạc bay thẳng về miền Nam, đứng xa xa nhìn thấy Hoàng hạnh phúc, thầm nhớ anh, yêu mến anh, như người thân quen nhất. Thua thiệt có về mình, Hoài xin nhận chịu.
Thôi. Đã tự quyết định dứt khoát, thì cố quên đi, tình đầu nồng thắm tuổi hoa niên. Quên kỷ niệm vàng son một thời non dại. Quên tất cả. Hoài nhé! Hai ta như hai hố mắt, của chiếc gáo dừa lăn lóc, ghi khắc lại mối tình sâu xa, một đời gắn bó. Nay đã mất vẻ nhìn ấm áp, trìu mến và trân trọng. Sẽ mãi hững hờ. 
Cắp sách đi học lại, vào trường Hoài bận túi bụi với bài vở khó, quá dốt nhưng nào còn ai ở bên cạnh, chỉ dạy cho? Trường lạ, lớp mới. Không có một người bạn hỏi thăm, dù câu chào hỏi xã giao lạt lẽo, ngắn nhất. Thật buồn, chẳng có gì vui. Hoài tự đóng khung cuộc đời mình giữa bốn bức vách, khép kín nụ cười, đóng cửa trái tim đau thương, vào cuối ngăn kéo vô hình. 
Anh Thương lại đổi từ Hội An ra Đà Nẵng, cả nhà dọn đi, đời lính nay đi mai ở, vợ con lính chẳng mấy khi yên ổn ở một nơi. Chị Huyền đã sanh thêm một cháu trai. Tất cả năm cu cậu! Chị mong kỳ nầy có một "công nương", nhưng khi thấy mặt bé khôi ngô lạ, chị không muốn gì hơn. Về nhà, chị lo xông hơ rất kỹ. Gừng muối, nghệ, riềng, giã nhỏ, mỗi loại một hũ, ngâm rượu chôn dưới đất bách nhật, đào lên, thứ thoa mặt, thứ thoa thân thể, nằm trên vạt giường, dưới đốt hai lò lửa, chị lăn qua trở lại như con cá nướng. Chị luôn xức dầu gió, gội đầu bồ kết, trùm kín mền, xông nước lá hương nhu, lá sả, lá bưởi, lá cam, quít, ổi, vân vân… 
Căn nhà nhỏ lúc nào cũng tối mù, luôn luôn thiếu ánh sáng, không có gió và không khí, chị kiên gió, nằm trong phòng kín, cả nhà ngột ngạt, vì mùi hỗn hợp trên. Thật khó ngửi. Thấy chị ở cử, Hoài run sợ đến rùng mình. Bà mẹ chồng chịu thương chịu khó, lo cho con dâu và cháu nội chu đáo, mặc dù nay cụ gần chín mươi tuổi. Do chẳng có ánh sáng, mắt không tỏ, cụ sơ ý chưa lau sạch nước, cuống rốn cháu bị lở. Khi chị phát hiện, thì đã muộn. Từ bác sĩ công, tư, bất cứ nghe ai mách bảo thầy giỏi thuốc hay, anh chị đều đem cháu đi chữa trị. Có người bày tìm bảy con gà ác, hay cóc đen còn sống, mổ bụng úp con vật lên ngực cháu trong bảy ngày. Anh chị tốn tiền kinh khủng. 
Sau cùng cháu nằm trong Tổng Y Viện Duy Tân, suốt hai tháng hè. Tại đây trung úy y sĩ Ngọc độ ba mươi tuổi, ở Saigon mới đổi ra làm việc, ông rất tận tâm, chu đáo. Ông ngồi hằng giờ bên giường bệnh nhân, theo dõi từng diễn biến nhỏ nhặt. Có lẽ sự nghiêm nghị, đứng đắn và lo lắng, khiến khuôn mặt trắng trẻo có nếp nhăn, đeo kính cận, mắt đỏ hoe, trân trân nhìn từng cử động cuả cháu, ông giàu lòng nhân ái, chứng kiến nhiều cảnh thương tâm bi lụy, nước mắt sẽ tuôn chảy nhiều. 
Mỗi lần lên cơn động kinh uốn ván, cháu khóc thét, tay chân co giật, bụng ưỡn ra, đầu ngửa về sau lưng, mắt dại thần sắc, cháu càng ngày càng gầy trơ xương, trông quá thảm. Ông viết giấy cho cháu về nhà. Hai giờ sau cháu tắt thở. Cháu ra đi êm ái, như ru đời vào giấc mộng tiên, không vặn mình la khóc, làm kinh, như khi còn sống. Cháu nằm giữa hai hàng bạch lạp sáng ngời. Chính tay cha đóng quan tài cho con, mà mắt như lạc thần. 
Người ta nói văn thi sĩ tả chuyện đau buồn, ai oán chia ly, ưa thêm thắt trời mưa gió bão bùng, lụt lội tơi bời, cho ly kỳ hấp dẫn. Nhưng tháng nầy là mùa mưa, vài hôm nay mưa lớn. Mưa ngoài trời thật. Mưa cả trong lòng.
Nhiều người đến thăm viếng, chia buồn. Chị Huyền phân công mấy đứa con lớn canh chừng xác, từ tám giờ tối đến mười một giờ. Anh chị thức đến ba giờ sáng. Hoài và con bé người làm, coi chừng cháu từ ba giờ đến sáu giờ sáng. Ba giờ sáng! Hai phụ nữ non đời chết nhác, tim đập thình thịch, quặn thắt từng cơn đau điếng trong lồng ngực, ngồi co ro nơi góc ghế, nhắm mắt lại vì sợ ma, mở mắt ra nhìn, cháu nằm trơ trọi trên giường lạnh lẽo, nước mắt tuôn trào, Hoài nhìn đâu đâu cũng sợ ma. Sợ kinh khủng! Hoài run sợ đi vặn đồng hồ báo thức cả nhà dậy, lúc bốn giờ hơn. Hoài không dám vô phòng ngủ, sợ ma đi theo mình, bị chị la một trận, vì tội vặn đồng hồ lếu láo. 
Chị Huyền không biết, khi xưa anh Tư bị tai nạn xe hơi khá nặng, phải chở vào bệnh viện Dalat cấp cứu. Chị Khánh gọi Hoài lên coi chừng anh, cho chị ngủ trưa một chút. Thấy anh Tư đầu băng trắng, trán, hàm dưới bị bể, mặt mũi sưng húp, tím bầm méo mó, tay chân đầy máu, hơi thở phì phò khó nhọc, phun ra máu mũi. Hoài sợ đứng tim, ngất xỉu. Đủ ba lần, mỗi lần đến là xỉu, chị Khánh phải gọi y tá, mời bác sĩ đến chích thuốc. Chị Khánh tức bực vô cùng, có đứa em yếu bóng vía, khi đụng chuyện, cần nhờ giúp đỡ một tay, chẳng những không nên trò trống gì, lại khiến chị lo lắng, vất vả mệt nhọc hơn. Các chị không biết rằng, Hoài rất nhạy cảm, thương cảm, đầy xúc động trước cảnh thương tâm, không cầm nỗi lòng, trước đớn đau của người khác.
Trời mưa không lúc nào tạnh, khi nặng hạt, khi mưa phùn gió bấc. Mặc dù thế, lúc đưa cháu đến nơi an nghỉ cuối cùng, bạn bè thân nhân đi rất đông. Ba má vào trước vài ngày, toàn gia đình chụp chung vài tấm ảnh lưu niệm. Chị Huyền kêu khóc thảm thiết, người chị mềm nhũn như cọng bún, đi không vững. Kể từ khi chị mang bầu cháu đến bây giờ, chị tốn rất nhiều tiền, sức lực cạn kiệt hết.

_ * _ 

Kính mời độc giả xem tiếp Chương 14
Trân trọng.