Chương 1: Hai vì sao e ấp (tiếp)

Chương 1


Tiếp theo…

Ngày thứ năm trong khi bệnh, các bạn gái đến thăm Hoài. Căn phòng nhỏ cuối góc nhà anh chị Khánh, dành riêng cho Hoài và Thùy, có cửa sổ hẹp nhìn ra khoảng vườn cây ăn trái, tạo thành góc hiên rợp bóng. Ánh mặt trời tinh nghịch chiếu lung linh trong kẽ lá. Bàn học xinh xinh kê bên cửa sổ, có rèm che màu xanh nhạt. Hai ghế dựa sát bàn, tập sách ngăn nắp gọn gàng. Lọ thuỷ tinh cắm nhung hồng vàng nở hết cánh, trông mượt mà, óng ả, đèn néon nhỏ, chụp che màu xanh dương ở góc bàn, hai chú nai gỗ mảnh khảnh, trau chuốt mỹ thuật. Trên kệ con búp bê nhấp nháy mắt nhìn thủy tinh. 
Cuối phòng là tủ đựng quần áo. Cặp giường chiếc song song, gối nệm ấm áp, mền bông dày sạch sẽ. Table de nuit phía bên giường Hoài có vài vật linh tinh, và bức ảnh bán thân nho nhỏ của Hoàng.
Đối diện cửa lớn, bức ảnh bán thân của chị em Hoài chụp ở tiệm Mỹ Dung. Tiệm ảnh nầy, và vài tiệm khác, treo ảnh nàng làm mẫu, chỉ vì Hoài chụp hình ăn ảnh thôi. Hoài mến thích chủ tiệm Mỹ Dung, vợ chồng Dung là người hoà nhã, hiếu khách, tươi tắn vui vẻ, ngọt ngào. Tiệm làm ăn đứng đắn, uy tín, đàng hoàng, luôn thu hút khách nội thành và thu hút cả du khách. Cũng có họ hàng bà con với Hoài.
Bước vào phòng, Đào nhìn quanh, cười reo:
– Anh nhìn tớ, nhưng "cừi rzuyên mí nị" ai rứa. Chà.
Viên phản đối:
– Không được. Đánh tù tì coi, cười… với ai?
– Có lý.
– Sẵn sàng nghe. Nào! Một… hai… ba!
– Tụi nầy để dành cái búa, cho bồ đó.
– Tớ cho cậu cái búa đinh.
– Ta cho Hoài cái búa đẽo.
– Moa cho toa cái búa tạ.
– Ngộ ái nị, nị ái ngại, thì ngộ cứ ôm đại, cho nị bải hoải, đại bại, lai rai với cái búa tày xồi í à.
Các bạn lấy gối ném vào Hoài, khiến bông gòn bay ra tứ tung, như bong bóng mây. Họ cười tít mắt. Hồi lâu, mới chịu ngồi lên ghế, lên giường, nói chuyện đàng hoàng. 
Thương hỏi :
– Đau ốm gì vậy? Hả bạn?
Yến chen vào:
– Trông phờ phạc ra đấy nha!
Vân bĩu môi:
– Ốm đau gì. Lười đi học thì nói. Vờ vĩnh mãi.
Họ chấm mận với muối ớt, cho vào miệng nhai, nghe dòn tan. Mận no tròn mọng chín vừa hái ngoài vườn, tươi nguyên lớp phấn trắng, khiến Hoài thèm ứa nước miếng. Nhìn họ ăn mận, nàng nuốt nước bọt. Nguyệt cười, nói:
– Tụi mình ăn mận ngon quá. Có đứa đau không ăn, thèm nhỏ giải ra hỉ!
– Mai mốt, có người cho ăn chocolate, mệt nghỉ.
Nhi nhìn các bạn, cười buồn:
– Tội nghiệp thằng em họ đi theo sau lưng Hoài, như cái đuôi. Nó dám hỏi thăm Hoài đau ốm thế nào. Tụi bây hết chọc em tao, nhác như thỏ nghe!
Hoài mỉm cười, mơ màng nhớ người trai, dòng dõi Vương Tôn đất Thần Kinh, học tại Lysée Yersin, con nhà rất giàu, học giỏi, ngoan hiền nhưng khó tính, nghiêm nghị, dáng cao cao gầy gầy, không đẹp không xấu, mang kính cận. Thỉnh thoảng Nghi âm thầm theo sau lưng Hoài, mỗi buổi học tan. Không gợi chuyện, chẳng làm quen, nhã nhặn hiền hoà, nhưng Hoài bối rối khó chịu, lúng túng. 
Có một lần tan trường, không đi xe đạp, cùng các bạn thả bộ ra về, chuyện trò vui vẻ, bỗng Nguyệt húc vào cánh tay Hoài, nói :
– Người hùng của bạn kìa! Cười làm dzuyên đi.
– Hổng được. Má em chửi!
Viên cười tít mắt, liếm ướt làn môi, nhỏ nhẹ nói:
– Bửu, bạn mình nói Nghi khó tính lắm à nha. Nghi không chịu mấy cô học trường Tây. Sống theo lối Tây. Mặc theo mốt Tây. Nhưng ăn uống theo Tây, thì anh chàng chịu gấp. Có mấy cô trường Tây, thích anh ta lắm.
Thanh quay nhìn Nghi, rồi nói :
– Nghi dễ thương chứ. Chàng nhìn kìa. Cười tí đi.
– Ai quen biết chi mô, bắt tao nhăn răng chó ra cười, hả? Thấy tao "c…ừi", chắc chàng kinh thiên hồn vía, té lăn chiên đổ đèn. Chân tay và cái mắt kính, chỏng gọng lên trời, hết thấy đường về, thì nguy to. Mi cười thay ta đi!
– Eo ơi! "c..ừi" hả! như con ngựa cười ấy! Nó cười như dzầy nè! hí… hi…i…i
Tràng cười vui vẻ, vô tư sảng khoái, lướt thướt, vỡ trên lòng đại lộ thênh thang. Đến đầu ngã ba, các bạn chia tay Hoài, Viên, họ đi về phía nhà thờ “con Gà”.
Ngôi nhà của ba má, để lại chị Khánh ở, đi xuống con dốc khá sâu. Vào năm năm mươi, năm mươi tư, con lộ rộng rãi, dễ đi lại. Song càng ngày, dân phố ở ven dốc, tự ý lấn chiếm dần dần. Thành thử con lộ nhỏ hẹp, càng chật chội hơn. Bậc cấp bằng đất, bị nước mưa xoi mòn, không còn là bậc cấp, mà thành con dốc liền, trơn trợt. Người ta không chăm sóc, sửa sang gì. Gia đình nầy, ní nạnh gia đình kia, không chịu hùn nhau, bỏ tiền làm con đường và tam cấp. Vì thế, nhiều căn nhà, ở dưới cuối thung lũng, khá khổ sở, vất vả khi mùa mưa xói mòn, tróc lở suốt bao năm, thành con đường lầy lội, bóng láng, trơn như da lươn.
Bước từng bước, trên bậc cấp bằng đất về nhà, bỗng Hoài giật mình, thấy Nghi đứng đầu ngỏ lúc nào. Cuộc chạm trán xảy ra, cả hai ngượng ngùng, lúng túng, không dám nhìn mặt nhau. Nghi ôm cặp da bên hông, cắn nhẹ làn môi, nhích hẳn sang một bên, sát hàng rào dâm bụt nhà ông Xuân, nhường chỗ cho nàng qua mặt. Hoài ôm cặp trước ngực, nép sát về hàng rào kẽm gai, có hàng hoa tầm xuân đua nở góc nhà. Hai người nhường lối đi, nên khựng lại, liếc nhìn nhau. 
Nghi hơi mỉm cười gật đầu nhè nhẹ, Hoài nín thở, hai má đỏ rực, đôi tai nóng bừng, lúng túng, ngượng ngùng kinh khủng, bởi hai hàng rào cây cao khuất đầu. Con lộ nhỏ khiến hai người cảm thấy không dễ chịu, an thư chút nào, từ nơi vắng vẻ đó. Thoáng chốc, Hoài vụt lướt qua mặt Nghi, chạy vào ngỏ nhà, mặc bụi hoa mắc cỡ um tùm bên góc cỗng vườn, cào rướm máu cánh tay.
Chị Hạnh bưng tô canh, từ bếp đến bàn ăn, bị Hoài tông vào, nước canh văng tung tóe ra nhà, tiếng tô men Nhật vỡ, tiếng chị la mắng thật lớn. Sợ Nghi đứng gần đó nghe thấy, thì mắc cỡ, xấu hổ chết, Hoài chắp hai tay, lạy chị lia liạ, trợn mắt, rồi chỉ chỏ về phía cửa lớn liên tục, rên i ỉ trong cổ họng, nàng tựa lưng vào tường, thở hổn hển, mặt tái xanh. Chị Hạnh im bặt. Sửng sốt nhìn em, nhìn ra phía cửa. Nào có thấy gì! Chị lẩm bẩm chửi nàng:
– Chà, con nhỏ nầy… điên đến nơi rồi.
Chị đi thay quần áo, Hoài vội vàng cất cặp sách, lau chùi sạch sẽ nền nhà, không dám cười. Sợ chị Khánh biết chuyện, la cho mách nữa, vì tội làm bể cái tô kiểu. Sau lần ấy, Nghi đi xa xa theo sau Hoài, vẫn cung cách cũ, không tiến không lùi. Thấy ngồ ngộ, hay hay.
Qua một hồi chọc phá. Các bạn kéo nhau về. Tiếng cười vang khuất ngoài hàng rào tầm xuân nở hoa từng chùm, trông vui mắt. Hoài quay vào nhà, mang theo tuổi trẻ hồn nhiên tươi đẹp môi cười. Nàng thương cuộc đời rộng mở ở tương lai. Thương mái trường xinh xinh, có thầy cô, bạn bè quen thuộc thân yêu. Thương lối ngỏ đi về mỗi buổi học tan. Thương thành phố thơ mộng, có hàng hoa anh đào chen cánh những hàng cây, tô điểm vòm trời Cao Nguyên thêm mơ mòng, quyến rũ. 
Thương biết mấy hồ Xuân Hương xanh biếc, phẳng lặng in bóng sân Cù, dưới bầu trời trong sáng ban mai, có áng mây bàng bạc lững lờ trôi. Mỗi chiều trời thu lồng lộng trên đỉnh núi cao, gió mùa Đông Bắc, có sấm sét ở góc trời lúc choạng vạng, uốn cong cành cây nghiêng ngã thấy thương, thân cây đau đớn rên rĩ vặn mình, kêu răng rắc như muốn gãy. Chùm cây ướt sủng nước, quật lui quật tới lia lịa, tạo thành tiếng gầm thét dữ dội, hú từng hồi kinh dị trên sườn đồi. Gió lọt qua khe cửa, rít lên đầy ớn lạnh, nghe buồn bã, đơn điệu vô cùng. 
Hoài yêu tháng ngày mưa dầm, không biết mệt. Hạt mưa nặng trĩu to tròn, rơi bồm bộp trên mái tôn, thỉnh thoảng kèm theo hột mưa đá, dì cháu thích thú nhặt mưa đá bỏ vào ly, trong khi nhà vườn, thấy mưa đá, là lo buồn rầu rĩ, vì nó hủy hoại hoa màu tan nát, hư hỏng rất nhiều. 
Có ngày trời đông vần vũ mây xám, từng cuộn mây bay ngang đầu, cơn mưa lăn tăn li ti, nhỏ như bụi phấn, nhẹ tênh, âm thầm đậu trên mái tóc. Đêm nầy qua tháng khác, núi đồi cao ngất, ngút ngàn, thành phố luôn mờ mờ, nhạt nhòa, ẩn hiện sau làn sương ẻo lả, mỏng manh. 
Cuối mùa hạ, đầu mùa mưa, nước ở các khe đá, suối, hồ, ban mai chưa chảy kịp, nước buổi chiều dâng lên cao, chảy xối xã về cuối nguồn. Nào thác Cam Ly, thác Datanla, thác Prenn, thác Liên Khương, thác Gougah, thác Pongour, hồ Xuân Hương, hồ Than Thở, hồ Lãng Ông, hồ Chi Lăng, suối Vàng, suối Bạc, suối Cát Tiên, rừng Ái Ân. Đồi Thông Hai Mộ. Thung lũng Tình Yêu, vân vân… 
Ah! Nào là chùa Sư Nữ, chùa Linh Sơn, gác chuông nhà thờ cao ngất, in hình con gà báo thức trên chóp đỉnh, mỗi sáng, trưa, chiều, tối, ngân nga giữa núi đồi, báo hiệu hừng đông hay hoàng hôn. Mặt trời có năm sắc màu, luôn nghiêng mình báo hiệu cảnh thái bình yên vui. Tiếng ngân vang vọng đến tận chân trời xa, thánh thót rơi trong làn không khí ngạt ngào hương hoa, thoang thoảng bụi phấn thông vàng vàng bay bay. 
Mặt trời xứ lạnh vươn lên trên bầu trời cao, luôn ấm áp chiếu tia hào quang lung linh qua kẽ lá, có cái mát rượi trong lành, khí hậu Lâm Viên lành lạnh êm êm, mùi hăng hăng cỏ cây dồi dào nhựa sống, nghe thật dễ thương, lặng yên, hiền hòa, ngọt ngào, thanh bình, nhàn hạ biết bao!
Bạn của Hoài còn có Triều Nghi, cô gái miền Bắc rất xinh. Yến Nga học Mariea Cuirie. Có Phú, Du, Hoà, Lễ, Tài, (là bạn của Bông, cháu anh Khánh) ở Saigon, lên Dalat ăn Tết. Thế là Hoài, Thùy, các cháu làm hướng dẫn viên du lịch, qua bao thắng cảnh duyên thơ hữu tình, qua bao núi rừng suối hồ mộng mơ. Tình thân hữu lan dần. 
Hoài nhớ một lần cả nhóm bao taxi, đi picnic nguyên ngày. Tám giờ sáng, xe dừng ở thác Datanla. Họ lần mò đi từng bậc cấp ngoằn ngoèo, trơn như mỡ xuống chân thác, mặt trời chưa thức giấc, dưới những vòm cây âm u ngái ngủ. Nước từ trên khe đá cao ngất, chảy ầm ầm, dội xuống lòng thung lũng, vỡ ra muôn triệu bụi phấn trắng xóa quyện bay, mảng sương mờ đục phủ kín bầu trời ban mai. 
Lạnh! Lạnh kinh khủng! Cái lạnh buốt giá, tê cóng nhức nhối, như muốn bại liệt cơ thể, như điếng cả hồn lẫn xác. Hai hàm răng tự động run rẩy, va vào nhau lộp cộp. Toàn thân run lập cập, thở không đều nhịp. Mặc dù thế, làn hơi thoảng lạnh, từ cổ họng bay ra, như trêu đùa, chọc ghẹo. Các bạn trai chưa đến Dalat lần nào, ai cũng thích chí, cười ha hả, khi thấy mình thở ra thành hơi khói.
Thác Datanla thâm u cheo leo hiểm trở là thế, mà họ quyết leo qua bên kia chân thác. Từ từ leo lên ngọn thác thứ nhì, đứng chênh vênh bên hốc đá chốc lát, rồi tìm cách leo lên đỉnh thác thứ nhất, ở tít mù trên cao, cao ngất. Mặt úp sát vào vách đá, lưng quay ra phía vực sâu, hai tay bám chặt bờ cây, bụi cỏ. Không ai dám ngoái cổ nhìn ra phía ngoài, hoặc nhìn xuống vực thẳm. Một trời giông bão, như quay cuồng dưới chân. 
Qua muôn ngàn cây đại thụ, gỗ tạp, gỗ lá rộng, lá kim quý như: cẩm lai, sao, thông hai lá, thông ba lá, chen cánh với mộc lan, tre, nứa, lồ ồ, le, dẻ, lùm cây um tùm gai góc, bờ bụi lóc lở rong rêu ẩm ướt. Cổ thụ cằn cỗi già nua, không biết tháng năm, chi chít sợi dây rễ dài lòng thòng, to hơn cườm tay. Loại dây dẽo, dai, chắc chắn, quấn quýt trên cành cao, chạy dài xuống lòng thung lũng mờ mờ, sâu thẵm. Họ tìm dây bám chặt vào đó, mà di chuyển. 
Tiếc rằng họ chưa đủ kinh nghiệm sống, chưa dám đu dây rừng y như Nữ Chúa rừng xanh. Leo lên hết chóp đỉnh, thác khúc khuỷu cuối lòng khe đá, biến thành đầu ngọn thác thứ nhất. 
Phía bên nầy khe đá, những ụ đất sét, có đá cao lanh, đá quý, quặng boxit, than nâu, như ở vùng Đạ Đờn, Đạ Tẻh, Đạ Hoai, hai bờ suối dần dần nở rộng ra, dẫn đến cánh đồng cỏ non xanh mướt trải dài, nhìn mút tầm mắt, ướt đẫm sương mai lóng lánh. Nhiều giọt sương mọng tròn, long lanh giọt thủy tinh dưới ánh mặt trời yếu ớt, ló dạng từ bên kia đỉnh núi nhọn hoắt, như muốn chọc thủng từng áng sương bay ngang đầu. Sương từ ngọn lá non trên cao, rơi lốp đốp xuống cành lá mềm mại dưới thấp. Tàng cây cổ thụ mọc chen cánh gần khe suối, là rừng hoa qùy chen lấn loài hoa mắc cỡ.
Hòa tìm cách leo lên cành, hái nhiều loại lan qúy, mỗi loài hoa có một sắc đặc biệt riêng. Mấy chú sóc đuôi xòe ra, như chiếc chổi lông mềm mại, leo trèo trên cây quả chín đỏ. Bầy khỉ lí lắc nhi nhô, chuyền chỗ nầy chỗ nọ nhanh nhẹn, gọn gàng, nhẹ nhàng, kêu chí chóe, hình như chúng phản đối, sự có mặt của con người, không mời mà đến, trong giang sơn cẫm tú, đầy bình yên của chúng. Chim hót líu lo, đủ mọi giọng, điệu trầm bổng véo von, lẫn tiếng nhịp nhàng bầy chim gỏ kiến, đập mõ dài cứng ngắt vào thân cây xù xì, hòa cùng tiếng thác đỗ từ nơi xa xa vọng lại. Thỉnh thoảng tiếng vượn hú kêu đàn. Cú nấc cụt từng tiếng, Dơi thấy động rừng, bay ra kêu "xít…xì". Bầy chồn lủi nhanh vào bụi rậm. Thỏ rừng tung tăng nhảy nhót trên cánh đồng cỏ non. Tất cả âm thanh và hình ảnh sống động, tạo thành bản rừng ca thiên nhiên muôn điệu bất hủ. 
Hoà đưa máy ảnh bấm liên tục, những hoạt cảnh tươi nguyên núi rừng hoang dã hồn nhiên, đầy tình tự quê hương hữu ái, mà anh hằng yêu thích. Phía trên đỉnh thác khá lạnh, nhưng không lạnh bằng lòng thác lúc nãy. Du tìm chỗ đặt mấy giỏ thức ăn xuống. Các bạn ngồi trên tấm ni lông, mà Hoài cẩn thận mang theo. Họ nói chuyện cười đùa huyên thuyên, chỉ chỏ Hoà chụp ảnh. 
Bỗng Phú khựng lại, im bặt, khiến các bạn ngẩng nhìn. Dấu chân loài thú khổng lồ quần nhau, cạnh khúc xương ống, một đầu lâu (có lẽ của khỉ), cách chỗ các bạn ngồi không xa. 
Thế là, ý định nằm lăn ra bãi cỏ non mềm, chợt tiêu tan ngay. Đi núi, họ không mang theo bất cứ một dụng cụ đề phòng nào, nhỡ có bị rắn rết, cắn bất tử, thật nguy to. Bây giờ cả nhóm mới thấy Hoà đề nghị leo lên núi, là điều dại dột, bất lợi quá. Họ vội xếp đồ đạc vào ba lô, giỏ xách, vát trở xuống chân thác.
Lòng chẳng hẹn lòng, nhưng ai ai cũng nơm nớp lo sợ, sự bất an quanh quẩn đâu đây. Nỗi lo sợ ớn lạnh cùng khắp, khí trời ban mai đã lạnh lẽo, càng thêm buốt giá kinh khủng. Kinh khủng!
Mất hai giờ, họ lần mò trở xuống chân thác. Leo lên đã khó, tụt xuống càng khó gấp bội. Cẩn thận lần mò, nhích đi từng bước một. Tay bám vào gờ đá, thân cây hoặc dây leo, gốc rễ, bò thụt lùi, từng tất đất khó khăn. Nhìn xuống vực thẳm, thấy tối tăm mặt mũi, hoa cả mắt, sợ mất hồn mất vía. Cuối cùng, cả nhóm trở về được dưới chân thác, mặt mày chân tay xây xát, mệt mỏi rã rời, quần áo xốc xếch, lấm lem. 
Tuy vậy, mấy anh thanh niên tính, không khỏi reo lên, vì đã tận hưởng giờ phút vui thú nhất, qua danh lam thắng cảnh tuyệt vời. Thể hiện tính kiên cường, bất khuất gian nan, thỏa trí tò mò, dù quá mệt mỏi và lòng kinh sợ. 
Hôm đó, khi nhảy qua mấy hòn đá trơn, suýt tí nữa Hoài nguy hiểm tính mạng, nếu Phú không nhanh tay kéo nàng, ngã dúi vào lòng anh. Mất thăng bằng, cả hai ngã lăn trên dòng suối ấm dưới chân thác. Hương hoa núi rừng mộc mạc, kèm với sự sợ hãi chợt đến, chợt đau lúc tay chân bị đập vào đá, khiến Hoài quên nỗi bẽn lẽn thẹn thùng. 
Áo quần ướt sũng nước. Hai người nắm chặt tay nhau, lội vào bờ, lóp ngóp bò lên ngồi trên tảng đá, hong khô người dưới ánh nắng. Các bạn lò dò đi các nơi chụp ảnh. Chỉ còn hai người, Hoài cảm thấy ngượng ngùng, e thẹn, vì áo quần dính chặt vào da. Không ai nói với ai lời nào, Phú, Hoài, nhìn theo các bạn. 
Thế nhưng, thoáng chốc quần áo khô nhanh. Các bạn đi Prenn, Liên Khương, Bồng Lai, Gougah, Pongour. Chiều về đi hồ Than Thở, Vallée D 'Amoure, suối Vàng, suối Bạc, Cam Ly và về phố. 
Những lần du ngoạn ngoài thiên nhiên, làm cho cuộc sống Hoài có phần dễ chịu, thoải mái, hồn nhiên tươi vui hơn. Đêm đêm ở nhà, mấy bạn pha cà phê, ăn bánh ngọt, cắn hạt dưa, ăn bánh chưng, bánh tét, uống nước trà, ngồi nói chuyện phiếm trong phòng khách, đến tận khuya. 
Có ngày không biết làm gì hơn, là bày trò thi nhau nhìn vào mắt. Hể ai nhấp nháy mắt trước, cười, là bị phạt uống một ly đá lạnh. Eo ơi! Ở xứ nầy giữa đêm khuya, mà uống đá lạnh, lạnh hết biết. Lạnh nổi da gà! Trò chơi gì trẻ con lạ! Chơi đỗ cá ngựa, cờ duyên khóc, duyên cười, quẹt lọ nồi. Vui thật vui. Mấy bạn cùng dì cháu Hoài dạo phố đêm. Họ mua thuốc lá, kẹo, bánh, chewing gum, bắp nướng, đi tà tà nói chuyện tếu, đi bộ giáp một vòng bờ hồ Xuân Hương dài ngót sáu cây số. 
Đường về khuya lạnh lẽo, càng hoang vắng. Cảnh vật càng huyền ảo, đẹp lạ lùng. Sương mù phủ kín thành phố đầy hoa anh đào nở rộ. Thỉnh thoảng lớp mây bàng bạc bay nhanh, lộ ra khoảng trời đêm đầy sao nhấp nhánh. Vầng trăng khuyết, như con thuyền nhấp nhô sóng nước bồng bềnh trôi. Dăm bảy vì sao sáng hơn, to hơn, lóng lánh e thẹn quỳ gối bên nhau, trò chuyện trên bến Ngân Hà. 
Du khách thơ thẩn thả gót phiêu bồng, trong lòng đô thị tĩnh mịch, phố đêm dường như bất tận, yên ắng lạ lùng. Cảnh vật càng nên thơ, giữa khí lạnh sắt nhọn, quấn quýt ăn sâu vào lòng người. Dalat càng dễ yêu, thi vị, duyên dáng, thơ mộng và quyến rũ xiết bao.

*** Nghỉ học suốt tuần, nhớ trường nhớ lớp quá! Hoài cảm thấy trống vắng, như mất đi cái gì mơ hồ, không hiểu nỗi, như mất hủ mật dịu ngọt, như bỏ lại chuỗi cười dòn dã sau lưng. Buổi sáng, sau khi ăn điểm tâm, dì cháu Hoài đến trường. Mấy bạn cùng lối đi, lối về, thường hẹn chờ nhau ở ngã ba Yersin, Bà Triệu. Không ngày nào khỏi có nụ cười nở trên môi. Họ vui vẻ tươi cười khả ái, như cánh bướm trắng, giữa nắng xuân rực rỡ huy hoàng. 
Đến trường, chuông reo vào lớp. Tất cả học sinh ra sân chào cờ. Nhi nói với bạn gái, có ý trêu chọc Khôi, học lớp đệ nhất, với Nguyệt:
– Người hùng tìm nhỏ Nguyệt kia kià.
– Ảnh có bồ rồi.
– Ảnh đi tu mà, mày.
– Ảnh già rồi. Có vợ con cũng nên.
– Tầm bậy. Anh Khanh của ảnh, mới có vợ.
– Vậy thì, mày đá lông nheo đi.
– Để tớ đá cho.
Các bạn mỗi người một câu. Hồng quay qua Vân, hai người đưa hai cùi chỏ, húc vào nhau. Nguyệt bĩu môi:
– Nhẹ hều. Để tao. Không đẹp mắt, không ăn tiền.
Nói xong, Nguyệt quay xuống Yến, húc cái bốp vào trán bạn. Hai người xoa đầu lia lịa, khẽ xuýt xoa:
– Trời ơi! Đau quá!
– Mọc bố nó cái sừng dê lên rồi.
– Bi giờ, "đá dế mí gái" sao mà nó đau tợn thế.
Hai cô gái ôm hai góc trán, nhăn mặt trợn mắt, xuýt xoa đi vào lớp. Hồng, Vân, đứa cà nhắc, đứa cà nhót, ôm nhau chạy lên bậc thềm, giữa dịp cười của các bạn. Con gái gì hoang phá dễ sợ. Thầy Phỉ, hiệu trưởng uy nghiêm, còn “ngán” cái bọn “qủy xứ” nầy. Ưu điểm lớp, đa số học sinh tận tình giúp đỡ nhau học tập. Tích cực tham gia mọi sinh hoạt học đường. Càng hợp nhau hơn, về việc quậy phá rất trẻ thơ. 
Hôm nay, đầu giờ là Toán, do thầy Chung Song dạy. (Thầy Song là anh em sinh đôi với thầy Song Chung, dạy toán Hoài hồi lớp đệ ngũ, ở trường Nguyễn Du, Huế). Hai thầy giống nhau như đúc, là giáo sư toán xuất sắc. Toán là môn học khô khan, chán ngắt. Thế mà anh em thầy dạy, quả thật khá lôi cuốn, thu hút học sinh. Hoài rất ớn môn học nầy, đã dốt Toán, lại nghỉ học cả tuần, nên không biết mô tê gì. nàng tiếp thu bài học chậm, khó khăn. 
Kế tiếp là hai giờ Văn, do thầy Tam Ích dạy tuyệt vời. Anh Văn là hệ B, Hoài học bi bô, chả giỏi hơn ai. Thầy Hoàng Nguyên dạy Nhac, Hoài đạt điểm ưu. Nghe đâu mai mốt thầy không dạy Nhạc nữa, mà về Saigon. Có phải vậy không, thưa thầy? Thầy không còn thích: "Ngày nào dừng chân phiêu lãng, khách tới đây khi hoa Đào vương lối đi. Mầu hoa in dáng trời. Tình hoa lưu luyến người. Bồi hồi lòng lữ khách thấy chơi vơi… ?" Môn Pháp văn do thầy Trung dạy là sinh ngữ chính, Hoài xếp hạng khá. Nhưng Toán, Lý, Hóa… Ôi! Hoài dốt như con bò tót. 
Giờ Hoá do thầy Đệ dạy. Đa số học sinh ngán giờ nầy. Một phần vì nhà trường phân bố môn học khô khan đó, vào buổi trưa. Học sinh mệt mỏi từ sáng đến giờ, phần đói bụng, phần nữa thầy nghiêm khắt, lạnh lùng. Có lẽ thầy quen kỷ luật sắt, ở trường binh nghiệp cứng ngắt, tôi luyện thầy như thế. Học sinh quá mệt và chán. Dù thầy dạy có tiếng tăm trong các trường Quân Đội. Nhiều người cúp cua, học sinh còn lại chơi trois zéro, lén đọc tiểu thuyết, xầm xì nói chuyện, người khụt khịt mũi, gỏ bàn lóc cóc, rồi một thanh niên nào đó, mệt nhọc ngáp lên một cái, rỏ to, rỏ dài. 
Thế là, cả lớp im lặng, bỗng chốc đồng loạt cười lớn. Mất dạy thật. Cùng lúc đó, Hồng lấy trong cặp ra, chú khỉ đánh trống bằng nhựa, Sau lưng Nhi, Viên, Tịnh đưa nửa điếu thuốc, nhéc vào miệng khỉ. Miệng hút thuốc, tay đánh trống, đầu gục gặt, tóc bay xập xoà, theo từng nhịp gõ, Hồng bóp mấy cái vào bình hơi, đeo ở lưng, con khỉ lẹ làng cầm dùi cui, đánh vào trống đeo trước ngực, kêu Bùng! Bung! Phèn! Bung! Bùng. Trông tức cười kinh khủng! Cả lớp cười như điên.
Thầy Đệ rời bục gỗ, đi về cuối lớp, hỏi:
– Ai đã làm mất trật tự. Ồn ào như thế?
Không ai dám trả lời. Mặt cúi xuống gần sát bàn học, cất dấu mọi thứ. Thầy đi đi lại lại nhiều vòng, rồi nói:
– Tôi mời anh chị có tên sau lên bảng đen: Dzai, Tịnh, Điều, Tứ, Trường Anh, Lê Khôi, Lang, Hảo, An, và các chị Hồng, Hạ, Hoài, Yến, Thương, Đào, Nguyệt, Nhi, lên bảng.
Thôi chết! Chắc chắn là ăn hai con oóc toọt rồi! Tiếng sột soạt giày dép, quần áo, bàn ghế xê dịch, vang lên giây lát. Người mang lủng lẵng sau lưng áo len con “số 35” to tướng. Người đeo chùm giấy có chữ "Hận Tình" hoặc "Tên Tù Khổ Sai số 8". Người mang bảng vẽ trái tim rướm máu, có mũi tên xuyên qua. 
Chú khỉ đánh trống móc sau quai nịt quần Trưởng Lớp là An. An nghiêm nghị, đứng đắn, bị kêu lên phạt, oan thật là oan. Những học sinh bị gọi tên, không biết mình có “đeo chùm oan nghiệt” sau lưng, họ tỉnh bơ, khiến bạn ngồi dưới càng cười to. Thầy Đệ nghiêm nét mặt, thầy không cười nỗi, với lũ học trò phá như giặc. 
Đúng lúc đó, giám thị Thới đi qua, nghe ồn ào náo nhiệt, đã vào lớp, chứng kiến cảnh trên. Kết quả: Học sinh bị gọi lên bảng, lãnh hai con oóc toọt, phạt cấm túc ngày chủ nhật tại trường. Như thế, có chết người không chứ. 
Chuông reo báo hiệu giờ tan trường. Đợi giáo sư đi khuất xa, các nam sinh bị gọi lên bảng, chạy xuống, đấm đá loạn xạ ngầu, mấy bạn đã đeo giấy cho họ. Nào cùi bắp, giấy vụn vo tròn, vỏ chuối, vỏ cam, ổi, mận, đào. Bay tới tấp trong lớp, như bươm bướm, chuồn chuồn. Người đánh, đấm. Người lấy cặp đỡ, nón che. Cười đùa ồn ào qúa sức. Tưởng không thể nào có lúc được tự do, ồn ào chọc phá nhau, vui đến thế. 
Các bạn né tránh các loại "phóng pháo" trên, vui vẻ cười đùa, reo hò thoải mái. Họ vụt chạy ra ngoài sân, như đàn chim éÙn bay vút vào không gian. 
_ * _

Kính mời độc giả xem tiếp: Chương 2
Trân trọng