Hoài Hương Xưa

Phần thứ nhất -chương 1


KHÚC QUANH  KHỐC  LIỆT 
(Viết và nói với người rất yêu dấu…)
 
 
Hương Hoài yêu,
 
Như đã kể ở trong chuyện dài “Hiến Chương Tình Yêu” của em viết. Anh đang học năm thứ Hai, mà suốt đêm anh đi la cà, lêu lổng. Ban ngày ít khi anh lên đại hoc. Không phải đi học, mà để “thanh toán” những phần tử phá bĩnh, định chi phối thành phần tổng hội sinh viên cũ. Họ là một nhóm sinh viên mới, từ  Saigon lên.
Nghe tin nhóm đó định tổ chức họp sinh viên Dalat. Không xin phép. Không có ý kiến của tổng hội cũ. Anh, (với tư cách là Phó Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam) đã cảnh báo nhiều lần. Họ không sợ. Các anh đã muốn yên, mà họ không tha. Bọn họ cứ “chọc mũi” vào quậy phá các anh hoài. Tức điên người. Không chịu nỗi.
Hôm đó anh đi lên dốc. Chợt thấy trên đại học, có một nhóm chừng bốn, năm tên sinh viên đi ngược lại. Tay cầm đầu tên là Trần B.Chân. Chúng cầm dây xích, hai đứa cầm gậy nhọn. Anh chuẩn bị sẵn,  liên lạc với bọn giang hồ ở Dalat. Tương Anh, Xì Rô, Nhu, Độ, Bích đen, lên chận ở dốc gần đại học, rượt đuỗi, đánh chúng một trận tả tơi. Thế là chúng bỏ chạy.
Còn anh rượt tên cầm đầu. Chân quay lại giơ cao dây xích lên, định đập anh, may là anh né khỏi. Anh bay người tới đá mấy cú vào mặt, vào ngực hắn. Chân lấy con dao nhíp quơ lên. Thế là ghim vào bắp chuối anh. Máu bắt đầu chảy. Nhưng anh cứ rượt theo hắn. Hắn chạy trối chết vào cổng đại học. Xộc vào toà nhà viện trưởng núp. Cha Viện-trưởng phải mời anh lên giản hoà. Một cuộc giàn xếp, được tổ chức giữa hai phe nhóm. Vì nể cha Viện-trưởng, nên phe các anh bắt tay bọn chúng. Lúc ra cổng đại học, anh nói:
– Ngày mai, tao còn thấy bọn mày lãng vãng ở đây. Đừng trách tao ác. Nghen.
Chúng nó sợ teo người, kéo cả băng trở về Saigon. Hết dám chọc ghẹo ai ở Dalat. Có một thời gian khá lâu trước, thằng Đại công tử, tay giang hồ khét tiếng thời bấy giờ, đã trốn lên ẩn nấp ở Dalat. Mấy lần, khi đến thăm, anh thấy nó ngồi lì ở góc nhà im lặng, cắm cúi mài con dao. Mài miết. Anh khuyên bảo đừng vì thù trả thù. Rồi thù nầy chất chồng thù kia. Trả hoài không dứt mối thù. Hãy sống bình an. Sau ít lâu, anh thấy tội nghiệp, {vì anh biết thật tình nó muốn sám hối, quyết chí tu thân, sữa mình, không mài con dao bảy (loại dao to, dài chừng 30cm, rất sắc bén, thường dùng đi rừng). Nên anh đã cho nó ăn ở nhờ, mấy tháng trong phòng}.
Khi vừa dọn đi vài ngày, nó bị bọn thằng Xì Rô, và vài quân nhân, kéo ra chận đường, ở gần vũ trường Maxim’s. Họ chém thằng Đại cở sáu bảy dao. Khá may, nó chỉ bị thương nặng. Sau khi ngã từ trên taluy cao ngất xuống đất. Nó bị trầy trụa sơ sơ, chỉ bị ba bốn lát dao vào lưng, vào tay, chân. Như  “vết thù trên lưng ngựa hoang” của nó.
Lúc đó anh cùng ca sĩ  Khả Ly, và một nhóm đàn em của thằng Đại, đang nằm ở “Vom anh Hai ghen” hút. Nghe thằng Hi chạy về báo. Anh và họ chạy ra. Thì đã tan hàng. Chỉ còn lẻ tẻ mấy bà con đứng xầm xì bàn tán. Các anh chạy lên bệnh viện hỏi thăm. Họ nói:
– Đúng là có một người bị mấy vết chém. Không nặng lắm. Ông ấy vừa đi khỏi đây.
 Khuya lắm, khi trở về phòng trọ, anh thấy trên ổ khoá, có một vật gì đen đen, treo trên hai cái khuy của ổ khoá. Anh nhìn kỹ, chợt rùng mình. Đó là hai quả lựu đạn MK2. Thói quen thường nhật của anh, là khi nào đi ra ngoài, thì anh bấm thêm ống khóa ở hai khuy móc ngoài. Nhưng sao hôm ấy, anh chỉ khoá ống khoá chìm ở trong cánh cửa, mà không móc thêm ổ khoá bấm ngoài. Nên họ tưởng anh đang ngủ trong phòng.
Mất hồn, anh chạy bộ từ phòng lên dinh Tỉnh Trưởng, (lúc đó là Trung tá Ph). Anh trình bày sự việc. Ông cho xe jeep chở chuyên viên bên quân đội đến. Tháo gở cái “của nợ giết người” đi. Ông nhìn anh trầm ngâm hồi lâu, rồi khuyên:
– Rỏ ràng có người muốn giết hại em. Cách tốt nhất là, em tạm thời “chui” vào trong quân đội. Em mới có thể sống. Chứ không trứơc thì sau gì… Có ngày em cũng bị…
Anh đã hiểu. Chỉ còn duy nhất một con đường. Anh phải thu xếp, ổn định cuộc sống khá hơn. Không thể sống buông thả. Anh đã “thả nổi” cuộc sống mình bừa bãi quá nhiều, như hiện nay. Cộng thêm vào niềm đau đớn mất người yêu, là mất tất cả. Thời gian rối rắm nầy, anh không thể gặp em. Em lẫn trốn anh, như “cô gián nhỏ” lẫn trốn ánh sáng ban ngày. Đôi khi anh muốn giải thích hoàn cảnh éo le hiện tại. Và anh ân cần muốn cùng em, đề nghị chúng mình, tìm một biện pháp dung hoà thích hợp.
Nhưng, làm như cái số kiếp phân lìa rồi. Hễ anh thấy em đi với các bạn gái, thì y như rằng, em không nhìn thấy anh. Ngược lại… anh cũng vậy! Cuộc rượt đuổi bắt vô vọng, trong bóng tối mãi tiếp diễn.
Do đó, có anh, với tư các là Phó Tổng Thư-ký Tổng Hội Sinh-viên Việt Nam. Nguyễn Ngọc Thạch, Chủ tịch Tổng hội Sinh-viên Dalat. Vĩnh Kha, Chủ tịch Sinh-viên Huế. Lê Dình Điểu, Tổng Thư  Ký Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam. Lê Đình Bảo, Tổng-Thư -ký Tổng hội Sinh viên Huế. Tôn Thất Tuệ, Ủy-viên Báo-chí Tổng-hội Sinh-viên Sàigòn.  Các anh đã lên đường đi dự Hội-Nghi Sinh Viên Quốc Tế toàn Thế Giới, lần thứ 11. nghiã là 11th ISC (international Student Conference) tại Cheistchurch (New-Zeland) và dự Hội-thảo lần 5th  –  Tại Sydney (Autralia) là 5th ASS (Asian Student Seminar)
Lẽ ra thì lúc 17:00, các anh được xe Bus đón tại Hotel, để ra phi trường tiếp tục cuộc hành trình. Nhưng khổ nỗi, vào giờ đó, các anh mãi mê đi Shopping mua sắm ngoài Trung Tâm. Họ gọi phone nhiều lần. Họ đến phòng ngủ không thấy ai. Sau khi đi mua sắm đã đời. Các anh quay về mới hay. Chưa kịp tắm rửa, thay quần áo gì. Họ gọi phone dặn reception, phải giữ các anh lại, không cho đi đâu hết.
Chốc lát xe Bus đến chở các anh lên phi trường. Tất cả cứ ngồi trong Louge, chờ đến tối mịt. Đợi dài người. Mới hay là đang có cuộc đình công, của toàn bộ nhân viên Hãng Hàng-không (bộ phận phục vụ trên không, và dưới đất)
Thế rồi, họ “lùa” các anh qua thủ tục an ninh phi trường và quan thuế. Trên chiếc máy bay 707 đồ sộ, rộng mênh mông. Thế mà chỉ có hơn bốn mươi hành khách. Chính ông Phi-công Trưởng đoàn, đã đến từng chỗ ngồi, chăm sóc cho các anh. Lúc 21:00 ông ta điều khiển phi cơ cất cánh. Sau khi bình phi, ông ta để viên phi công phụ lái. Rồi tự xuống tiếp tục làm tiếp viên cho hành khách. (vì trên máy bay không có một người tiếp viên hàng không nào. Họ lo đi đình công hết) Thấy anh kéo cái ghế dài ra định ngủ. Ông ta nói:
– Nầy, hãy vui lòng đứng lên.
Rồi ông luồng tay kéo hai chân ghế ngang. Thế là cái băng ba người ngồi, đã trở thành chiếc giường nệm êm ái. Ông vói tay lên hộc lấy, mền cho các anh đắp. Chuyến đi buồn cười vậy đó. Nguyên cả buổi quá mệt mỏi vì lo đi mua sắm. Nên tất cả ngủ khì suốt đêm dài. Họ thi nhau ngáy vang như sấm. Lúc các anh tỉnh dậy, mặt trời đã lên khá cao. Phi cơ sắp sữa đáp xuống Perth (thành phố lớn ở miền đông nước Úc)
Bước ra ngoài cửa phi cơ, anh chợt rùng mìn. Luồng gió lạnh buốt từ ngoài thổi vào. Ôi sao lạnh đến thế! Bây giờ chỉ là mùa thu, mà đã lạnh đến 9oC. Lúc sắp nhận hành lý, các anh mới hay là nhân viên ở phi trường đình công, nên các nhân viên nghiệp dư, đã sắp xếp hành lý củahành khách, lên lộn với chiếc phi cơ khác!!! Thế là trên người chỉ mặc mỗi chiếc veston nhẹ. Cả đoàn co ro cúm rúm. Vì cái lạnh thấu xương. Anh cắm cúi chạy đến xe Bus. Họ chở các anh về Hotel.
Vì quá lạnh, cho nên chả ai rủ ai, mọi người đều tạt vào shop gần đó. Mỗi người mua một chiếc áo khoác Duffelcoat dày cui. Mặc cho đỡ lạnh. Sáng hôm sau, họ báo đã có hành lý rồi. Đồng thời có chuyến bay từ Perth đi Sydney (bờ phía Tây nước Úc)
Thế là các anh lại lên phi trường bay trên 10 giờ. Từ trên cao nhìn xuống, chỉ thấy toàn sa mạc lạnh giá trải dài hằng ngàn cây số. Trống trải, đơn điệu của trung tâm Úc. Chiều tối các anh mới đến Sydney. Thay vì được nghỉ đêm tại đây. Họ lại “tống” các anh lên mấy bay cánh quạt cổ lỗ sĩ. Bay từ Úc Châu, băng qua biển Tasmania. Để qua Tân Tây Lan. Hai giờ đồng hồ sau, các anh đến Christchurch. Một thành phố cổ kính và nhỏ bé, ở hòn đảo phía Nam của New-Zealand.
Cùng buổi tối đó, Ban Tổ-chức cho các anh biết là: Miền Bắc Việt Nam, cũng có một phái đoàn sinh viên đã đến Tân Tây Lan. Nhưng vào giờ chót, vì phái đoàn của miền Nam Việt Nam đã đến trước. Nên họ đã lịch sự từ chối. Thế là sinh viên miền Bắc phải ngồi ở phi trường. Không được cấp visa nhập cảnh. Họ đành bay trở về Hà Nội. Thảo nào, họ đã chở các anh bay đi như " dien". Để đến nơi cho “kịp chuyến tốc hành”. 
Tân Tây Lan gồm có ba bốn đảo: – Hòn phía Bắc là thủ phủ Wellington, và Aukland rất nóng. – Phía Nam có Christchurch. – Hòn đảo Tasmania rất lạnh. Trong khi ở trên phía Bắc, họ có thể đi tắm biển, phơi nắng. Thì ở phía Nam cùng thời điểm đó, họ đi trượt tuyết, đi tắm suối nước nóng, ở giữa đám tuyết trắng xoá. Giữa hai đảo có con phà rất lớn, sức chứa có thể lên đến hai mươi xe hơi. Và hơn năm trăm hành khách.
Nơi các anh đến dự hội nghị là Christchurch, một thành phố nhỏ như Dalat, (gồm có hơn bốn trăm ngàn dân) rất sạch và đẹp. Những ngôi nhà cổ kính và yên lặng, con sông xanh tươi, có từng bầy thiên nga bơi lội. Nhà nhà sân rộng đầy chim bồ câu (mập ơi là mập) soãi cánh lòa xoà bay. Người dân hiếu khách. Hiền hoà. Cởi mở. Thân thiện.
Sở dĩ tổ chức lần họp Thứ  11th  Sinh-viên Thế Giới tại đây. Là vì có ngôi trường đại học nổi tiếng, lâu đời nhất của Tân Tây Lan. Giống như đại học cuả Anh là Cambridge. Hay Oxford của Mỹ. Là Harvard, Hay Princeton vậy đó em. Các anh được đưa đến ở một khách sạn nhỏ. Chỉ có bốn tầng lầu, cách nơi họp độ vài trăm mét.
Hôm khai mạc hội nghị, phái đoàn Việt Nam chỉ được sắp ngồi ở hàng ghế “Quan sát viên” mà thôi. Bước qua ngày thứ hai. Sau khi thảo luận sôi nổi. Phái đoàn Việt Nam có một bài phát biểu. Do đề nghị của đại diện sinh viên Thụy Sĩ. Cho nên Đại Hội Đồng gồm 112 nước tham dự hội nghị, đã tổ chức cuộc bỏ phiếu. Cho Việt Nam chính thức gia nhập vào Hiệp Hội Sinh Viên Thế Giới. Ngày thứ ba, họ chuyển cho sinh viên Việt Nam chính thức vào ngồi dự hội nghị. Hoan hô tinh thần Tự do dân chủ. Độc lập muôn năm!
Kể từ năm 1964, Việt Nam đã được công nhận là hội viên chính thức. Đây là một thành công lớn, mang về cho Việt Nam. Trên phương diện ngoại giao và về mặt chính trị. Cuộc họp chỉ có ba ngày là kết thúc.
Sau đó, anh, Thạch, và Bảo ở lại Christchurch, đi tham quan hai thành phố lớn của Tân Tây Lan, ở trên đảo phía Bắc. Còn ba người kia bay về Úc Châu, chờ dự hội nghị sinh viên Á Châu lần thứ 8. Các anh hẹn gặp nhau ở Sydney.
 Tóm lại, chuyến đi đó, chỉ xảy ra trong vòng ba tuần lễ. Thế mà các anh đã xoay trở tài tình, để ghé lại Manila. Kuala Lumpur. Ngoài các thành phố của Úc Châu và Tân Tây Lan.
Sau chuyến công du đi Singapore. Malaysia. Úc Châu. Tân Tây Lan. Phillippines trở về lại Việt Nam. Anh vội vàng trở lên Dalat, rút hồ sơ, chứng chỉ văn bằng trên đại học. Anh đành ngậm ngùi rời khỏi “con đường tri thức” đã chọn. Anh đang đi vào khúc quanh khốc liệt.
Đó là “cái dấu ./. tình yêu xa xăm muôn trùng”. Và “hoàn tất, kiếp sống phong trần”, vào năm thứ Hai, tại đại học Dalat.      
 
Năm 1964
 

 _ * _