Hoài Hương Xưa

Chương 3


NGÀY NHẬP NGŨ 

Hương Hoài! Em yêu. Anh vẫn nói với người rất yêu dấu! Cuộc đời anh, chắc là có gắn-bó với binh chủng Không-quân hay sao? Hồi còn nhỏ, khi anh đúng mười sáu tuổi, thanh niên ai ai cũng đi kê khai “Lược Giải Cá Nhân”, ở đường Trần Hưng Đạo (Nha Cảnh Sát Đô Thành). Sau khi điền tên tuổi, địa chỉ vào tờ khai. Anh mang lên nộp trong văn phòng. Ông cảnh sát già thu nhận tờ khai. Đọc lướt qua, ông nhìn anh cười lớn: – Cậu nhỏ nầy. Tôi e rằng lớn lên, sẽ đi Không-quân quá. Tên ngộ lắm: Phượng Hoàng. Cũng có thể do ba má đặt tên cho anh. Là một điều dự đoán hữu duyên với binh nghiệp của anh sau nầy. Cũng nên? Một lần, vào đầu tháng 02 năm 1962. Anh đã chuẩn bị tập hồ sơ, định lên nộp đơn xin gia nhập Không-quân. Lúc đó anh chưa đủ 21 tuổi. Anh phải giả mạo chữ ký của ba đồng ý, cho anh nhập ngũ. Rồi anh nhờ thằng bạn, (có bà chị làm ở văn phòng Phường trên Phú Nhuận), đóng dấu xác nhận, chữ ký của ba “cho phép”. Ngày ấy, đúng là một ngày xui hết biết. Khi anh thức dậy, lo vệ sinh cá nhân, ăn sáng xong. Mặc quần áo sẵn sàng, anh đứng trên lầu ba, trước chiếc tủ gương lớn chải tóc. Anh chuẩn bị mang hồ sơ lên Tân Sơn Nhất để nộp. Thì, nghe tiếng phi cơ bay vù vù. Bay rất sát, muốn điếc tai. Gần như ép buồng phổi anh đau nhói, muốn tức ngực. Nghẹt thở. Đứng tim. Không biết chuyện kinh khủng gì xảy ra? Anh vội chạy lên sân thượng, bước ra ngoài dáo dác nhìn xuống Saigon. Anh thấy hai chiếc T-28 đang quần thảo trên bầu trời. Rồi thoáng chốc nghe tiếng bom. Nhiều tiếng súng nổ rền ở miệt nhà thờ Đức Bà. Thì ra có biến loạn. Những quả bom trút xuống Dinh Độc Lập. Một lúc sau mới thấy nhóm phòng vệ Tổng Thống Phủ phản ứng. Súng phòng không bắn lên, khói đen nghịt từng nhúm. Hai chiếc phi cơ, sau khi đã thả hết bom, bắn hết đạn, bay ra biển Đông. Anh vội vàng xuống nhà, phóng xe chạy đi về hướng đó, xem chuyện gì. Mãi đến xế trưa mới biết, do hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử đã ném bom. Thế là tiu nghỉu trở về nhà, anh buồn phiền xếp lại hồ sơ. Lần nầy thì không có gì ngăn cản bước chân giang hồ cả. Anh đã lên nộp đơn, trở về nhà nằm chờ. Khoảng thời gian nhàn rỗi, thật vô vị, trống vắng và buồn kinh khủng! Anh vẫn hẹn hò với Mi Thu đi ăn, đi chơi chỗ nầy chỗ kia. Anh vẫn có thêm vài ba cô bạn hờ. Ấy thế mà sao lòng cảm thấy đìu hiu, muộn phiền chi lạ! Độ nửa tháng sau, thư mời gửi về nhà, báo anh lên sân bay Tân Sơn Nhất khám sức khoẻ. Thông thường như mọi năm, bên ban tuyển mộ Bộ Tư Lệnh Không-quân chọn 4 khóa. Ví dụ: Năm 1960 có khóa 60A. – 60B. – 60C. – 60D. Tuy nhiên nhiều năm cũng có những khóa như: 64B và 65D, đều là nhân viên Hạ-sĩ-quan được tuyển chọn đi học Sĩ-quan không phi hành. Anh và một lô một lốc trai trẻ khác, sắp hàng chờ. Phòng khám nhỏ xíu. Đa số thí sinh cứ tràn vào. Chật chội. Họ đứng gần kế ông bác sĩ. Riêng anh ngồi vào ghế đợi, nhìn những người khác khám rất nhanh. Bác sĩ khám sơ sơ thân thể. Phần tai. Mũi. Họng. Răng. Mắt. Ngực. Phổi. Thần kinh. Khám máu. Khám tổng quát. Họ bắt thí sinh đứng thẳng, xem mình có bị dị tật bẩm sinh gì không. Đa số thí sinh đều tốt. Mọi cuộc khám nghiệm về anh đều trôi qua êm đẹp. Nhất là bác sĩ khen đôi mắt anh trong sáng lạ thường:10/10. Chỉ có lúc khám tai quá lâu. Ông lấy đèn soi vào lỗ tai. Bác sĩ không thể khám màng nhĩ, ngăn tai ngoài và tai giữa. Nên ông loay hoay mãi. Ông lấy cái kẹp nhỏ, dài, từ từ gắp, moi, ở lỗ tai anh, lấy ra từng miếng cục ráy tai. To ơi là to, nhiều kinh khủng. Khiến thí sinh đứng, ngồi, gần đó cười ồ. Thật sự anh không mấy hy vọng. Vì suốt thời gian qua, anh sống buông thả tự do. Chẳng mấy khi chú trọng đến sức khỏe. Chăm chút bản thân. Gầy đi, so với chỉ số cần thiết. Ví dụ chiều cao hơn 1mét 68, anh có. Tuy trọng lượng anh chỉ nặng hơn 50kgs chút. Xong xuôi, anh lại trở về nằm nhà. Từng ngày đi ra đi vào thật vô vị. Tối tối, đêm đêm, lại rủ rê Mi Thu đi ăn, đi chơi. Thời gian nầy, anh và Mi Thu thân thiết hơn. Một hôm, nhận giấy báo anh đã trúng tuyển, đủ điều kiện gia nhập vào “Khoá 65A Phi Hành”. Anh rất vui. Thế là chấm hết chuỗi ngày chán chường đã trôi qua. Anh hí hửng vui vẻ, mặc bộ quần áo sạch đẹp, lên Tân Sơn Nhất làm thủ tục nhập học. Họ đưa mẫu đơn tình nguyện, anh điền và ký tên vào, sẽ gia nhập Không-quân – ít nhất là mười năm – kể từ ngày ký. Họ cấp phát cho mỗi khoá sinh một ba lô. Giày bata. Giày botte de saut. Mũ. Bít tất. Vài bộ đồ treillis. Vài bộ kaki. Họ bảo mang về sửa sang lại, mặc cho vừa. Đúng vào buổi tối ngày 30-09-1964, thằng em trai Toma lái xe. Má không làm sao ngăn cản anh. Nên má đưa anh đi. Má khóc rất nhiều. Anh cảm thấy lạnh tanh, chả có gì mà khóc với than! Không thấy Mi Thu đến tiễn anh đi, như cô đã hứa. Cũng bình thường thôi! Anh mặc bộ treillis “mới cáu cạnh”. Đội mũ lưỡi trai. Mang botte de saut. Đến trại Cửu Long (ở bên trại Thủy Quân Lục Chiến) Đó là nơi tập trung đông đúc khóa sinh trường Hải Quân. Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Họ sẽ đi chung với nhau, trên chiếc Tuần Dương Hạm 602. Sau khi xuống tàu, anh chọn ngồi ở một nơi có mặt phẳng trên boong. Nhiều tên sợ sóng gió, thì chui tọt xuống dưới gầm tàu. Dưới kia chắc hẳn là ngột ngạt lắm! Chiếc tàu to kềnh càng kéo neo lên. Con tàu dần dần rời sông Saigon, chạy trốn sau khúc quanh ở Cảng Nhà Rồng. Bên kia sông, thành phố vẫn rộn rịp, tấp nập xe cộ. Người và người vô tư, rộn rịp chuyển động dưới ánh đèn đường muôn màu. Chả ai ngủ được. Anh nhìn quanh thấy Trần Thế Vinh to con, đẹp trai ngồi lầm lỳ. Chữ Quân Anh nhỏ loắt choắt. Các anh lân la làm quen nhau, nói chuyện thân mật vui vẻ. Hỏi ra mới biết dự báo thời tiết báo buổi sáng biển lặng. Đến trưa sóng to, rất to đổ dồn. Con tàu bồng bềnh như cái nút chai trong chiếc ao lớn. Thế là các cậu ngồi bên anh, bắt đầu nôn ọe tùm lum. Riêng anh vẫn tỉnh queo. Đến chiều, Vinh, mặt xah như tàu lá, đưa hộp cơm vắt thịt kho rất ngon, của mẹ Vinh làm: – Mày ăn đi. Tao nuốt không vô rồi. Anh ngồi ăn ngon lành. Mặc dù lúc đó có những đợt sóng thần cao ngất. Đang phủ lên đầu tàu đầy sóng bạc trắng. Chiều buông xuống rất nhanh, choạng vạng tối. Khi anh em mệt mỏi, đừ đẫn cả người. Thì tàu đến ở Cầu Đá. Nha Trang! Vát ba lô xuống bến tàu, là đoàn Không-quân, gồm 64 khóa sinh. Cộng với mấy trăm tân binh Không-quân. Được tách riêng ra, xếp hàng chờ điểm danh. Họ gồm đủ mọi miền. Đủ thành phần. Đủ hoàn cảnh. Cùng quy tụ về dưới mái trường Không-quân. Những đoàn xe GMC chở mọi người về căn cứ 12. Tân Binh đi thẳng xuống khu nhà lá. 64 Khoá-sinh Sinh-viên Sĩ-quan Không-quân, ghé lại cổng trường. Hàng chữụ Trung Tâm Huấn Luyện Không-Quân – Căn Cứ 12. Con đường tráng nhựa khá dài. Có lẽ đến bảy tám trăm mét, chạy quanh doanh trại. “Vọng Cộng Hoà” sừng sững giữa các bãi cỏ xanh tươi. Nơi chuyên để SVSQ đàn anh sắp ra trường, tập trung đàn em khoá sinh. “Nhồi” cho họ có sức khỏe. Có sức chịu đựng. Chiếc máy bay T-6 (loại phi cơ một cánh quạt tấn công của Pháp). Đồng thời chiếc máy bay nầy, từng dùng để huấn luyện đợt phi công đầu tiên của Việt Nam. Như các ông: Toàn Phong Nguyễn Thế Vinh. Đặng Khắc Mai. (đàn anh của ông Nguyễn Cao Kỳ). Câu lạc Bộ ăn uống. Nhiều người đang chơi giải trí. Đánh bida. Pingpong. Phía trên văn phòng điều hành khóa sinh. Đó là nơi làm việc của Đại-úy Trưởng-đoàn Khoá-sinh. Văn phòng ông Thượng-sĩ Cơ Bản Huấn Luyện người Mỹ. Văn phòng đoàn Cán-bộ Sinh-viên Sĩ-quan. Những Khoá-sinh đi trước, chưa được tuyển đi du học. Thường được đề-bạt lên làm Cán-bộ (hoặc Trung-đội. Đại-đội. Tiểu-đoàn. Càng già tuổi, cấp bậc càng cao) Vọng nhỏ là Vọng-Khóa-sinh. Tức là sân nhỏ giữa doanh trại. Nơi mỗi cuối tuần có đám SVSQ hay Khóa-sinh bị phạt. Thi hành “dã chiến”. Sân rất lớn nằm ngay bên dãy nhà tiền chế. Theo kiễu ba-rắc của Mỹ. Ở giữa là hai dãy nhà nhà vệ sinh, nhà tắm công cộng. Phía trên văn phòng điều hành khóa sinh. Anh vát ba lô đi vào giữa sân. Đầu tiên, xếp hàng theo thứ tự cao, thấp. Những anh cao lêu nghêu, đứng trước, đứng trên. Những anh thấp (không thấp lè tè đâu nha em) đứng dưới, đứng sau. Anh thấy một sĩ quan huấn luyện rất cao lớn, to con, Gần giống như người Mỹ cao vậy. Khi ông mở miệng ra, nghe phát khiếp! Giọng nói sang sảng, oang oang. Không phải là giọng nói, mà là giọng hét to: – Trong số các anh. Có ai là sinh viên đại học. Hãy bước ra khỏi hàng. Đứng qua bên phải. Trong bụng anh thầm nghĩ: “Chà! Chắc đám sinh viên, được ưu tiên. Khỏe à nhe”. Anh cùng một nhóm nhỏ độ chừng tám chín tên, vội vàng bước ra khỏi hàng. Đứng bên phải. “Ông to con” kia, hất hàm cho các cán bộ Trung đội Trưởng, dẫn đám còn lại bắt đầu “Chào sân”. Nghĩa là bắt đầu chạy Vọng Cộng Hoà. Sau hết, ông ta quay sang, hét tiếp: – Các anh được đi ăn đi học. Hay lắm. Tốt lắm. Giỏi lắm! Mà không biết sướng thân. Còn bày đặt biểu tình, biểu tọt. Phản đối nọ kia. Các anh có biết: Vì các anh ưa quấy rối. Mà bọn tôi ở đây, bị cắm trại liên miên không? Bây giờ, các anh vào đây rồi. Chúng tôi cho các anh biết. Thế nào là lễ độ. Đâu là kỷ luật sắt. Nào, chuẩn bị. Các anh hãy chạy theo tôi. Thế là ông ta chạy trước rỏ nhanh. Các anh lúp xúp chạy theo sau. Cứ thế mà chạy. Vừa chạy, ông ta vừa hét to: – 65A – 65A – 65A Các anh phải “gào lên” to hơn: – Khỏe. Khỏe. Khoẻ. Cứ thế mà bị “hành hạ” cho đến hơn 10 giờ đêm. Có hơn một nửa khóa sinh đã ngất xỉu. Họ nằm vật ra bên vệ đường. Chả có ai chăm sóc nước nôi, ăn uống gì. Cứ nằm đó, khi nào tỉnh dậy. Thì tự động lết về sân. Còn anh, sao anh khoẻ đến thế nhỉ? Mặc dù lúc đó anh ốm nhom. Có lẽ do ở Dalat anh đi bộ nhiều. Ngày mấy lần đi lên, đi xuống từ đại học, ra phố, về nhà. Đi hoài, quen rồi chăng? Chả rỏ. Chỉ biết là anh nhìn cái lưng của thằng khóa sinh chạy trước. Cứ thế mắt nhắm, mắt mở, anh cắm đầu chạy miết. Cho đến khi hơn hai phần ba anh bạn đã “rụng tả tơi”. Ông ta mới cho mấy anh lẻo khoẻo (như anh) dừng lại. Tất cả về tập trung ở sân cỏ. Ông ra lệnh cho từng cặp. Từng cặp đi qua nhà kho. (kế bên dãy nhà khóa sinh). Khiêng giường, tủ, bàn, ghế. Trời đất! Đói và mệt lả người. Lúc xong công việc, đã hơn nửa đêm. càng mệt muốn đứt hơi thở. Anh đi khiêng đồ dùng chung với Vinh. Cùng đựng áo quần chung một cái tủ. Một bên là đồ dùng của anh. Một bên là của Vinh. Sau nầy các anh mới biết, vì Vinh to con, đẹp trai và khỏe. Cán bộ thấy nó thế. Nên ưa chiếu cố. Họ “siêng năng” tới phòng “hỏi thăm sức khỏe”! Vô tình ở chung, anh cũng bị vướng vào cái thảm hoạ “bị đì tới bến”. Khi không vô cớ bị phạt “dã chiến” hoài. Họ mang găng tay trắng tinh, tìm kiếm những chỗ ngóc-ngách quệt vào. Thử hỏi làm sao mà chả có tí bụi? Cứ thế, họ rút trong túi áo khoá sinh ra tờ giấy. Ghi phạt vào chiếu thứ bảy. Trong vòng chừng ba giờ đồng hồ, từ trong phòng khoá sinh chạy lên sân, thi hành bất cứ lệnh phạt nào. Nếu làm sai, bị phạt hít đất. Có những lệnh buồn cười. Như cán bộ hét: – Anh phải về phòng mặc ngược áo treillis. Mặc trái quần kaki. Một chân mang botte de saut. Một chân mang giày bata trái. Các anh có 10 phút để thi hành. Mệt ơi là mệt, nhưng rất vui. Khi ra lệnh, cán bộ hét oang oang. Các bạn nghe. Họ sắp xếp sẵn đầy đủ mọi thứ. Các anh chạy về làm mới kịp. Thử hỏi, nếu không có sự yểm trợ, của bạn đồng môn yểm trợ trong phòng. Giúp đỡ mặc áo. Xỏ quần. Mang giày. Thì chạy lên, sẽ bị phạt 50 cái hít đất. Những lần sau, khi bị phạt, các anh thường bảo nhau: – Khi chạy qua khu Sinh-viên Sĩ-quan đàn anh đã ngủ. Tụi bây nhớ gào lên thiệt to: 65A – Khỏe – 65A – Khỏe, 65A – Khỏe. Nhớ chưa? Cứ thế, các anh gân cổ hét thật to. Có kết quả ngay. Vì nhóm Tiểu-đội-Trưởng kêu Cán-bộ Đại-đội-Trưởng lên la: – Có phạt tụi nó. Thì phạt ban ngày thôi. Ban đêm để cho “ông” ngủ nghe. Ngay cả tên Cán Bộ phạt anh nhiều nhất, hoá ra là thằng Thanh. Cứ đêm đêm đến, nó kêu anh ra, phạt 50 cái hít đất. Thi hành xong, anh la to: – Sinh-viên Sĩ-quan Phượng Hoàng, khoá 65A, thi hành lệnh phạt xong. – Có biết tại sao, tôi phạt anh không? – Thưa không. Thế là nó cứ phạt anh vài trăm cái hít đất hoài. Vì tội “không biết”. Mãi về sau, khi anh gần đi Mỹ. Nó mới thố lộ: – Tôi là anh họ của Mi Thu. Thấy anh dễ ghét, và yêu Thu. Tôi cứ phạt anh chơi. Cho đã tức!? – Cha chả! _ * _