Hoài Hương Xưa

chương 4


NHỮNG GIỌT MỒ HÔI TRÊN CÁT

 

Ngày đầu tiên vừa đến quân trường Không-quân ở Nha Trang, Quân Anh sợ đến gần “té đái”. Khuya đó, nó lân la tới gần, to nhỏ rủ rê anh: – Tao với mày đào ngũ. Về Sàigòn đi. Có gì trốn lên Dalat. – Ha ha! Thôi đi con trai. Đã dấn thân vào đến đây. Còn sợ chết hả? Ngủ đi mày. Thời khóa biểu khá chặt chẽ. Buổi sáng sớm, trường mở loa phát nhạc quân hành. Thế là tất cả anh em ngồi bật dậy. Anh vội thay bộ đồ thể thao. Mặc sẵn quần tắm bên trong, anh chạy ra sắp hàng, điểm danh như thường lệ. Lúc bốn giờ sáng, từ quân trường cắm đầu chạy riết ra Cầu Đá, xa chừng khoảng sáu cây số. Đến nơi, các anh tập thể dục đồng hành. Chạy trở về đến khúc quanh gần cổng trường. Lúc đó tự do. Ai muốn tắm, có quyền đùa giỡn trên sóng biển. Mỗi lần chạy về đến cổng căn cứ, nhìn lên tấm bảng ghi hàng chữ đậm: “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”. Lòng anh cảm thấy phấn khích. Vì thế, ai ai cũng cố gắng chịu đựng gian khó. Về đến sân trường, khóa sinh tập họp lại điểm danh. Rồi tan hàng. Mọi người chạy về phòng. Lo sắp xếp chăn, màn, gối, nệm cho ngay ngắn. Ngăn nắp sạch sẽ. Đánh răng rửa mặt. Làm vệ sinh. Thay quần áo. Các anh sắp hàng đi lên Phần Xá. Các Tân khóa sinh chưa được đeo Alpha trên áo, phải đứng nghiêm chào. Tự xướng danh: – Khóa sinh Phượng Hoàng, số quân 6 … – … Vì, số quân bên Không-quân, bắt đầu từ con số 6 . Rồi mới được bỏ mũ ra. Anh đi đến cái bàn gần nhất, vào nhà ăn. Nhiều dãy bàn dài cùng những hàng ghế dính liền nhau. Mỗi hàng có thể cho mười sáu khoá sinh ngồi. Chia nhau thành từng “ca rê”. Bốn người ăn chung trong một mâm. Trời ơi! Hôm nào xui xẻo, anh ngồi với vài ông bạn “già gân” miệt quê. Thì kể như anh thua rồi. Vì, họ ăn rất nhanh và quá khỏe. Thoáng một cái, là trên mâm hết sạch. Vài ông còn bẻ chuối ra, chan cả nước trà mà lua. Hay có ông rắc tí muối tiêu vào cơm trắng. Cứ thế họ ăn tiếp. Mấy lần đó, anh đói meo. Chỉ có nước chờ giờ nghỉ lao mười lăm phút. Anh cắm đầu chạy lên Câu Lạc Bộ, mua cái gì ăn, cho đỡ đói. Nếu Câu Lạc Bộ không có thức ăn theo ý thích. Anh nói với ông bà chủ tiệm. Hôm sau họ sẽ đem hàng về. Sống ở đây như một gia đình nho nhỏ của khoá sinh. Mỗi tháng các anh tân binh có tiền lương. Đồng tiền tuy hạn chế. Nhưng không đến nỗi nào eo hẹp. Trước mỗi tuần vào ngày thứ Bảy. Cán bộ huấn luyện sẽ cho biết, tuần sau khoá sinh học gì. Họ niêm yết bảng “Thời Khoá Biểu” tại phòng khoá sinh. Lần đầu tiên, họ cho Test để sắp lớp. Dĩ nhiên anh đã vào lớp cao nhất. Đó là lớp học từ 21 đến 25. Sáng nào cũng học Anh-văn. Sau mỗi ngày học. Anh phải vào phòng Lab làm bài. Những anh kém, vào học lớp Vỡ lòng, từ 11 đến 15. Lớp Trung cấp từ 16 dến 20. Sau khi học hết lớp. Sẽ qua kỳ thi tuyển. Anh đậu hạng thủ khoa của khóa học nầy. Các anh đi học mặc quần áo kaki. Mang giày soulier bas. Rồi học căn bản về đủ các môn quân sự. Như: Chiến thuật tác chiến. Cơ bản thao diễn. Thể thao quân sự. Vũ khí chiến lược. Nghệ thuật chỉ huy. Lúc đó các anh mặc đồ treillis. Mang botte de saut. Đội mũ lưỡi trai. Tóm lại là học rất nhiều môn. “Thực đơn” của một tân khóa sinh cần phải biết. Phải nắm vững mọi vấn đề. Để sau nầy chỉ huy. Sau ba tháng “huấn nhục”, chịu đựng gian khổ, nhục nhằn. Cuộc sống của anh như cái máy. Hay sắp trở thành cái máy mà chả biết. Các anh gò mình trong khuôn khổ và kỷ luật sắt. Đây là những giọt mồ hôi. Nhỏ từng giọt. Theo bước chạy tốc hành trên cát. Ngày. Tháng… dần qua và “vinh quang” hồ hởi. Phấn khởi lạ! Đó là ngày: Các anh gia nhập vào hàng ngũ Sinh-viên Sĩ-quan thực thụ. Được làm lễ gắn Alpha. Tổ chức tại sân trường “Ra mắt Sinh-viên Sĩ-quan” trọng thể. Có Chỉ-huy-Trưởng Căn cứ. Chỉ-huy-Trưởng Liên Đoàn Sinh-viên Sĩ-quan. Sinh-viên Sĩ-quan. Cán-bộ. Thân nhân. Bạn hữu. Khoá sinh quỳ gối, đọc lời tuyên thệ. Trước khi gắn Alpha lên cầu vai. Từ sáng sớm, trước khi ra sắp hàng ngoài sân. Ai ai cũng phải mang chiếc dép để kê. Chứ quỳ hàng giờ như thế. Có mà rục đầu gối. Ngày đầu tiên được phép xuất trại. Anh ra phố chơi tự do đến 17:00. Ngoại trừ những anh nào bị ghi thẻ phạt của tuần trước. Không được đi phép. Cán bộ Niên-trưởng kiểm soát khá kỹ. Dặn dò đủ thứ. Trước khi xuất trại, Sinh-viên phải giữ tác phong: – Ra phố, có quy chế “tác phong” của Sinh-viên Sĩ-quan đàng hoàng. – Quần áo chỉnh tề. Cấm không được ăn mặc cẩu thả. – Không đùa cợt, giỡn hớt “lố lăng” ngoài phố. – Cấm đi xích lô. Cấm đi xe đạp. Chỉ được phép đi xe vespa, xe hơi. – Mỗi khi gặp tuần tra của căn cứ. Phải đứng nghiêm chào, sau đó mới đi tiếp. * Nếu ai vi phạm bất cứ nội quy nào. Sẽ lập tức bị Cán-Bộ trên xe nhảy xuống. Thu hồi tấm giấy phạt, để trên túi áo bên phải Sinh-viên. Họ mang về căn cứ, xử phạt. Nhưng nhờ kỷ luật và sống điều độ vậy, mà anh tăng trọng lượng. Khỏe mạnh hơn lúc trước. Hình phạt “dã chiến” nầy, thật ra đó là cách tập luyện, cho khoá sinh có nhiều thể lực. Có sức khỏe. Có tinh thần nhẫn nhục. Kiên nhẫn chịu đựng. Biết ôn nhu. Trầm tĩnh. Đắn đo. Khôn ngoan. Kinh nghiệm sống. Tháo vát hơn. Hầu có thể kiên cường, vượt qua mọi chông gai gian nan. Thử thách trên đường đời. Sau khi tốt nghiệp khoá quân sự. Anh được bổ nhiệm về làm Tiểu đoàn Trưởng, Tiểu đoàn Tân Binh (khu nhà Sắt) Thế là phải dọn qua bên đó ở. Anh chỉ huy hơn một trăm tân binh Không-quân. Anh được đi phép về Saigon đến ba lần. Nhờ anh quen với chuẩn úy Nghĩa rất dễ thương. Nghĩa vừa tốt nghiệp khoá 19 Vỏ Bị Dalat. Nhờ Nghĩa, nên anh biết cách làm đơn xin phép. Khi đi ra ngoài Trạm Tiếp Liên, anh liên lạc với phi công Mỹ. Xin đi ké phi cơ của USAF. Về đến Saigon, anh lấy xe hơi của ba, đến đón Nghĩa cùng đám bạn hữu của Mi Thu. Cùng nhau đi ăn, đi chơi, đi cắm trại. Trước đó, Thu gửi thư cho anh, cô nói là có bốn bạn gái cùng lớp, muốn kết thân với tụi anh. Anh hỏi bạn anh. Có bốn tên “tình nguyện” là Hiển. Vinh. Hùng. Cường. Anh tụ tập họ lại. Viết bốn tên cô gái, bỏ vào cái mũ lưỡi trai. Xóc đều. Cho bốn thằng “bốc thăm”. là Hiển, với Hiền làm Hostess Air VN. Cường với Ngân. Vinh với Nguyệt. Hùng với Liên. Sau đó có hai cặp thành vợ chồng, là Hiển-Hiền. và Cường-Ngân. Đến tháng 9 năm 1965 anh được lệnh đi vào Saigon khám sức khoẻ, do USAF khám. Sau đó, anh được điều về Saigon. Anh đi làm thủ tục an ninh. Thủ tục xuất cảnh. May quần áo lạnh. Chuẩn bị đi Mỹ. Trên giấy thông hành ghi “đi du học”, trong thời gian là 80 tuần lễ. Ôi cha ơi! Lâu quá đi thôi. Ngao ngán biết chừng nào! Có một lần, anh đang học ở Nha Trang. Anh đi phép về Saigon. Trên chuyến phi cơ quân sự đó, họ ghé tạt qua Dalat, thả người xuống. Khi anh đứng trên xe với gần chục mạng pilot khác. Vì anh còn là Sinh-viên Sĩ-quan Không-quân, không được phép bay cùng pilot. Nên Nghĩa đã cho anh mượn áo quần bay của ảnh, để anh mặc vào. Xe chở các anh đứng lố nhố trên chiếc Dogde không mui, chạy lên dốc Lê Đại Hành. Anh thấy em đi trên phố, với bốn cô bạn gái. Anh mừng quá. Vừa gọi to tên em. Vừa ngoắt lia lịa. Rõ ràng em đứng lại. Ngơ ngác nhìn quanh. Rồi bình thản quay đi với bạn. Khi xe tấp vào bên hông khu Hoà Bình. Anh vội nhảy xuống. Tất tả chạy ngược trở lại tìm em. Chạy ngược chạy xuôi, anh tìm em khắp vùng đó. Vì anh nghĩ có lẽ em đã hết giận anh rồi. Nhưng định mệnh quái ác, đã tàn nhẫn xô hai người về hai ngả tách bạch. Không cho anh và em gặp nhau. Dù chỉ gần thật gần trong tầm tay. Dù chúng mình đang ở chung một thời điểm, trong thành phố nhỏ bé và thơ mộng. Thế là kể từ hôm đó, từ đáy lòng anh lại bừng thức dậy nỗi xót xa. Âm thầm mà sâu lắng. Anh lặng lẽ tìm về chút “hoài hương xưa”. Sự nghẹn ngào tức tưởi nầy, luôn dày vò tâm thức anh. Khiến cõi lòng anh ray rứt, tan nát. Mà, chỉ khi nào một mình anh. Sống cho riêng anh, tình cảm thiêng liêng trân qúy ấy, nó lại chợt hiện đến. Thật đầm ấm ngọt ngào nhưng xa xăm. Diệu vợi… Một ngày vào thứ sáu, anh và Mi Thu đi ăn, đi chơi vui vẻ nguyên ngày. Cuối cùng cả hai vào nghỉ ở nhà của Trung. Anh và Mi Thu nói với nhau nhiều lời hứa hẹn sắt son. Thề hứa suốt đời sống bên nhau, đến khi răng long tóc bạc. Anh và Thu có những giờ phút thắm thiết mặn mà. Nồng nhiệt cuồng mê. Quấn quít. Thu sẵn sàng hiến cho anh đời con gái. Nhưng, khi đó bỗng nhiên hình ảnh của em xuất hiện. Rất ngây thơ. Dịu dàng. Khả ái. Đằm thắm. Tươi mát. Duyên dáng. Hồn nhiên xiết đỗi. Em hiện lên trước mắt anh quá rỏ nét. Thật hết sức bất ngờ! Anh bàng hoàng mở mắt. Kịp ngừng lại ngơ ngác nhìn quanh. Rồi anh nói Thu mặc quần áo vào đi. Anh lặng lẽ nằm xuống, vắt tay lên trán suy nghĩ miên man. Chính nhờ em. Rất vô tình, em đã đến kịp lúc. Để cứu thoát nhiều đời con gái, con nhà lành khác. Em nào có hay!? Sau khi anh xa em, dư âm nầy luôn ràng buộc anh. Em có biết không? Sáng thứ bảy, gia đình ba má. Các chị. Em. Mi Thu, đi tiễn đưa anh trên phi trường Tân Sơn Nhất. Anh và Mi Thu còn lưu luyến. Bịn rịn. Đứng riêng ra một góc vắng. Hôn nhau. Như còn vướng cơn thèm khát cháy lòng, xoắn xuýt lấy nhau suốt. Khi gần hết giờ, anh thì thầm bên tai Thu: – Hãy trao cho anh kỷ vật nào, thân thiết nhất của em. Mi Thu vội vàng vào toilet ở phi trường. Lát sau, Thu trở ra nhét vội vào túi quần anh. Kỷ vật Mi Thu trao anh, lúc bấy giờ là quần xịp, vài sợi…(theo lời anh đề nghị) “Cuộc tình đau muốn bứt da” Thu chảy nước mắt. Vì yêu. Biết đâu, ngày mai…sẽ xa nghìn trùng! Họ đã ra về hết. Khoảng chừng 11:45’ trưa. Anh hào hứng mạnh dạn, vui vẻ bước lên phi cơ. Vài phút sau, phi cơ lăn bánh trên phi đạo. Càng lúc càng nhanh. Sau cùng mặt đất tách rời ra. Anh nhìn xuống. Đất nước Việt Nam. Xóm làng thương yêu. Cha mẹ. Chị em. Họ hàng thân quyến. Bạn hữu. Cô bồ nho nhỏ xa dần. Xa dần và mất hút tầm nhìn. Phi cơ lao vút vào không gian. Nơi có từng tản mây xốp bồng bềnh trôi dưới đáy phi cơ. Để lại vùng trời trắng xoá. Ươm vàng chói sáng. Mịt mùng. Mênh mông. Phi cơ của Continental Airlines loại 707, bay từ Việt Nam sang Manila. Ghé lại trạm tiếp tế nhiên liệu. Rồi bay sang đảo Guam. Wake. Sau cùng đến Honolulu. _ * _