Hòi 3 – Ba kẻ vá giầy

Ngày mười hai tháng chín. Giữa trưa. Trời đẹp.

Trời xanh ngát, không vẫn tý mây.

Hai chiếc kiệu nhỏ, ba con lừa, từ cổng phía tây ra khỏi thành. Như hệt là cả một nhà hứng chí rủ nhau ra ngoài thành du ngoạn.

Lão Bì đại đi hiên ngang ở đằng trước, chính là đại ca, ba cô em gái cưỡi lừa che mặt đi theo sau, cha và mẹ ngồi trong kiệu, Tiểu Mã và Trương Lung Tử chính là tùy tòng theo chót.

Một tên tùy tòng trẻ, một lão tùy tòng già, ăn mặc còn rách rưới hơn cả kiệu phu.

Lam Lan hỏi Tiểu Mã tại sao không chịu mặc đồ mới vào, Tiểu Mã trả lời rất gọn ghẻ :

– Tôi không thích.

Y không thích làm điều gì, dù có chặt đầu, y cũng chẳng chịu làm.

Đoàn người đi trên đường dĩ nhiên không khỏi làm người khác chú ý, bọn họ cũng đang chú ý người khác.

Bọn họ chú ý từng người một, ngay cả Lam Lan đôi khi cũng mở hý màn cửa, lưu ý những người qua lại.

Người trên đường cũng chẳng có gì để chú ý, bởi vì nơi đây còn chưa tới Lang Sơn.

Nơi đây là Long môn.

Long môn là một cái trấn nhỏ, nằm trên đường yếu lộ đến Lang Sơn.

Người có đầu óc thanh tĩnh, thần trí khỏe khoắn nhất định không nghĩ đến chuyện đi Lang Sơn, dù có bị ác mộng cũng không nằm mộng thấy mình lên Lang Sơn.

Vì vậy những người đi tới cái trấn nhỏ này, không phải là kẻ điên khùng cũng là kẻ có chứng tật thần kinh, không phải là cùng cực, thì cũng là ác quỷ.

Vì vậy cái trấn nhỏ này dĩ nhiên rất hoang lương xơ xác, những người còn ở trong trấn, không phải là không muốn bỏ đi, mà là bỏ đi không được.

Người ta bỏ đi không được, bởi vì nếu không phải quá nghèo, thì là quá già yếu.

Một bà già rụng hết cả răng, mở tiệm ăn dột nát đến ngay cả son nồi cũng muốn thủng đáy, trên tường viết đầy các món ăn các loại rượu, “đường thố bài cốt lưu đản tử”, Thiệu Hưng, Trúc Diệp Thanh lâu năm, cái gì cũng có.

Thật ra, gọi gì cũng chẳng có, trừ những người bị bệnh nghèo đến nơi, chẳng ai lại nơi đây ăn cơm.

Nhưng kỳ lạ thay, hôm nay lại có bảy tám người khách lại ăn. Xem ra không nghèo, mà còn có vẻ rất khí phái.

Bảy tám người đó hình như là có ước hẹn nhau trước. Đúng giữa trưa, lập tức từ bốn phương tám hướng dồn lại, ai ai cũng rất khẩn cấp, nhưng không ai nhận ra ai.

Bảy tám người ngồi trong một gian nhà xiêu vẹo, trên những chiếc ghế xiêu vẹo, người này trừng mắt nhìn người kia, đao kiếm đeo trên người, ánh mắt nhìn nhau đầy vẻ thù địch.

Bảy tám người đều kêu một tô miến thịt, nửa cân rượu mạnh, bởi vì, ngoài hai món đó ra, nơi đây chẳng còn gì khác hơn.

Miến đã bày ra bàn từ lâu, rượu cũng đã được đem ra, có điều chẳng thấy ai nâng ly, chẳng thấy ai đụng đũa.

Bởi vì nước canh trong tô còn muốn dơ hơn cả nước rửa chén, rượu còn chua hơn cả giấm, bà già chẳng còn thấy bóng hình ở đâu, tiền thì đã thu kỹ càng đâu vào đó.

Bà già chẳng ngốc tý nào.

Bà ta đã biết mấy người này không phải lại đây ăn miến uống rượu.

Những người này đến đây làm gì?

Bà ta đoán không ra, bà ta cũng chẳng thèm đoán, tuy bà ta vừa nghèo lại vừa già lão, bà ta còn muốn sống thêm được ngày nào hay ngày đó.

Đã quá trưa, gương mặt của những người này đã lộ vẻ nóng nảy, nhưng ai nấy vẫn còn ngồi im lìm ở đó.

Bỗng nhiên có tiếng vó ngựa vang lên, bảy tám người đó thò cổ nhìn ra ngoài.