Hồi Ký Chí Hòa

Chương 17


Những Kỷ Niệm Ở Kiên Giam 6
Vị trí Kiên Giam 6 ở bên phải, cuối dãy khu Kiên Giam ED tầng 2, gần hồ chứa nước. Nằm chính giữa Kiên Giam 7 và Kiên Giam 5. Đối diện là Kiên Giam 8 và Kiên Giam 9. Diện tích cùng cách bố trí bên trong y chang với phòng Kiên Giam 26 trên tầng 4 mà đêm đầu tiên tôi đã trải qua. Ngay cửa ra vào bên tay phải là một cái bàn cầu tiêu xây bằng xi măng. Từ ngoài cửa vào tới sát vách tường bên trong khoảng 3 mét, bề ngang khoảng 2 mét rưỡi, cũng có một cái bồn rửa mặt bằng xi măng đã bị hư không còn sử dụng được và cũng có một ống nước "truyền tin" bên trên để chúng tôi có thể liên lạc nói chuyện với Kiên Giam 5 và phòng trên lầu.
Khi chuyển đến Kiên Giam 6 này, tôi ở chung với Trương Phái Hàn và Lâm Văn Hua thêm một thời gian mấy tháng nữa thì Lâm Văn Hua nhờ có người nhà bên ngoài lo lót nên được thả về.
Tôi phải nói về anh chàng Lâm Văn Hua này một chút. Anh ta mang hai dòng máu Việt Miên, tướng người to con, gương mặt khá đẹp trai, da ngâm đen nhưng rất hiền và tính tình dễ thương lắm. Anh ta nói tiếng Việt không rành, phát âm đơ đớ còn rất ngọng nghịu. Ba của anh là người Việt đi buôn bán làm ăn rồi lập nghiệp luôn ở Campuchia từ hồi còn thanh niên, sau đó lập gia đình với một người đàn bà Campucia. Anh đã ra đời tại đất nước xứ Chùa Tháp và trưởng thành tại đất nước này. Khi lớn lên anh lập gia đình với một người đàn bà Việt 
Nam cũng sinh sống tại Campuchia. Sau mấy lần cùng vợ về thăm VN, vợ chồng anh ở nhà ông chú vợ ở Phú Nhuận. Ông chú vợ này là Trung Uý Công An đã móc nối anh mua hàng Thái Lan như thuốc lá Samit, hộp quẹt gas nhựa, vàng… nói chung tùy thời điểm, bất cứ mặt hàng nào kiếm lời được nhiều thì anh sẽ mua thứ đó chuyển về cho ông chú vợ ở Saigon tiêu thụ rồi chia nhau. Anh chàng Lâm Văn Hua này đi buôn lậu như vậy cũng thành công tốt đẹp mấy chuyến, lần chót khi về gần tới Phú Lâm thì bị xét bắt gặp và giải ngay vào Chí Hòa. Chắc có lẽ ông chú vợ Trung Uý công an của anh cũng quen lớn lắm nên anh vào không bao lâu, lúc đó chúng tôi còn ở ngoài Kiên Giam 1, thì anh đã được tin nhắn vào và sau đó không bao lâu thì anh được thăm nuôi gặp mặt đặc biệt rồi.
Anh ta kể cho chúng tôi nghe về thời Pôn Pốt ở Campuchia, người dân đã khổ sở như thế nào? Tất cả các đàn ông thanh niên nào còn mạnh khoẻ đều bị chính quyền Pôn Pốt bắt lên rừng sâu khai phá, lao động canh tác hết. Thu hoạch được bao nhiêu chính quyền Pôn Pốt gom hết. Mỗi ngày các người dân lao động chỉ được phát cho một ít cơm và cá khô, không đủ ăn nên sau mỗi ngày lao động về dù trời tối người dân cũng phải ráng ra đồng tát cá, bắt cua, hái rau rừng… thêm để ăn, chứ đói quá chịu không nổi. Mỗi tháng, chính quyền Pôn Pốt cho người nhà lên thăm, vợ con được ở lại một đêm rồi hôm sau phải đi về ngay. Ở nhà gia đình tuy đói kém nhưng cũng phải gói ghém dành dụm mỗi tháng đem lên nuôi những người lao động. Đó là những người dân bình thường mà còn bị chính quyền Pôn Pốt đối xử như vậy, huống chi tù nhân phạm pháp thì khỏi phải nói, họ còn bị đày ải khổ sở gấp bội lần và gần như người nào đã là tù phạm pháp thì ít ai còn mạng sống sót trở về.
Qua lời Lâm Văn Hua kể lại thì những người dân nào lên rừng lao động cho chính quyền Pôn Pốt mà bỏ trốn khi bị bắt sẽ bị cùm nhốt, bỏ đói cho tới chết. Chính anh một hôm nhớ vợ con quá đã bỏ trốn về nhà, tối ngày chỉ trốn ru rú dưới hầm, không dám đi đâu hết, ban đêm mới dám bò lên… Được không bao lâu thì bị người tố cáo. Một đêm du kích quân Pôn Pốt xông vào nhà cùm anh dẫn đi mất. Sau đó chúng nhốt anh ở một lán trại dài sâu trong rừng nơi đã có nhiều người đã bị cùm trước từ lâu rồi. Anh kể tất cả các tù nhân nằm xếp lớp như cá hộp thành nhiều dãy ngay dưới đất, hai chân bị cùm xuyên qua một cây sắt thật dài thành một "xâu người", anh diễn tả nguyên văn trông giống như một cây xiên thịt dính vào nhau trước khi đem nướng, chỉ khác một cái miếng thịt ở đây là một con người ta và cứ mỗi "xâu người" như thế khoảng độ 25 đến 30 người. Đói kém bệnh tật thì khỏi phải nói, nhưng đâu làm gì có thuốc men! Mỗi ngày bọn du kích mang tới mấy vắt cơm ném vào trong cho đám tù khốn khổ chia nhau ăn. Đôi lúc đói quá các tù nhân dành giật, đánh nhau loạn xà ngầu cũng chỉ vì một miếng cơm nhỏ bẻ ra chia không đều. Người ta phải ăn cả những con trùng con dán nào phát hiện được. Thỉnh thoảng có một người chết thì "xâu người" còn lại la lớn lên cho du kích quân Pôn Pốt ở một lán trại xa nghe được tới mở cùm cho mang người chết ra chôn vội vã ở một cái hố không xa nơi đó lắm. Từ từ số người còn lại cũng tuần tự thay phiên nhau được kéo ra vùi lấp vào cái hố đó. Lâu lâu du kíck quân Pôn Pốt lại bắt thêm được mấy người ở đâu đó mang về trám vào số người đã chết, nên "xâu người" trong cùm gần như lúc nào cũng chật cứng.
Chính anh cũng tưởng sẽ bị cùm giò ở đó cho đến chết, nhưng nhờ chiến tranh Việt Miên nổ ra, anh được bộ đội VN vào giải cứu kịp thời chứ không cũng chết lâu rồi. Khi bộ đội VN cứu anh ra, anh chỉ còn da bọc xương, người thì đầy bệnh tật, sau đó người ta phải chở anh về nhà bằng xe bò chứ anh đi không nổi nữa. Nhờ vợ con ở nhà còn dấu được ít vàng nên mang ra bán tẩm bổ, thuốc men … cho anh cả năm trời mới hồi phục lại được. Mặc dù có nghe qua báo chí và một số người kể trước đây, nhưng tôi và Trương Phái Hàn nghe Lâm Văn Hua kể về cái ác độc trong thời Pôn Pốt ở Campuchia trước đây mà không khỏi rùng mình.
Cám ơn Phật Trời! Nếu như vậy thì CS VN vẫn còn nhân đạo nhiều lắm nếu so sánh với CS Campuchia trước đây và người dân VN còn may mắn lắm phải không? Ha Ha! Tôi so sánh tới chuyện này mà không khỏi bật cười.
Tôi có một kỷ niệm không bao giờ quên với Lâm Văn Hua.
Ở Kiên Giam 6 một thời gian, cả ba đứa Lâm Văn Hua, Trương Phái Hàn và tôi, bỗng dưng bị ghẻ lác đầy cả người. Khi báo với cán bộ, y tá ở dưới bệnh xá chỉ gởi lên cho chút thuốc đỏ. Thằng nào thằng nấy xức thuốc đỏ đầy cả người trông giống như con cắc kè bông đỏ, thấy mà ghê. Nhưng chứng ghẻ lác vẫn hoành hành chúng tôi, không cách gì hết được. Ban đêm thì ôi thôi khỏi nói, chúng tôi cứ thi nhau mà "khảy đàn" cả đêm không làm sao ngủ được. Lúc đó tôi đã quen biết bà Mẹ nuôi của tôi rồi, nhưng chúng tôi chưa nhận làm Mẹ con. Nên bà không biết là tôi đang bị chứng ghẻ lác này hành hạ ghê gớm như thế. May quá, lúc đó đến kỳ thăm nuôi, Lâm Văn Hua được thăm gặp mặt gia đình nên anh ta ra nói với vợ phải làm sao nhờ ông chú công an gởi thuốc lác vào cho anh gấp chứ không thôi thì ngứa ngáy quá chịu không nổi nữa.
Mấy ngày sau, anh được ông chú vợ gởi vào cho mấy hủ thuốc lác hiệu "Ông Già". Chúng tôi vừa xức thuốc cho nhau vừa chổng mông xuýt xoa, rên rỉ đau đớn vì thuốc lác này xức vào rát khủng khiếp. Chỗ nào có thuốc xức vào sẽ xùi bọt lên và khoảng da ở vùng đó cháy lên ngay như bị đổ acid vào. Đau đớn thấy tám chín ông trời khi xức thuốc vào chứ không phải chuyện giỡn chơi. Nhất là bị ghẻ lác ngay những chỗ kín. Ba thằng chúng tôi đứa nào đứa nấy cố chịu đựng đau đớn, xức thuốc vào đâu được mấy lần thì chứng ghẻ lác hết tiệt luôn. Quả là hay thật!!! Sau đó chúng tôi cứ kể lại chuyện này mà ôm bụng cười bò càng hoài.
Đó là kỷ niệm của tôi với Lâm Văn Hua, không nhờ có anh chàng Việt lai Miên này nhắn người nhà cứu giúp kịp thời lúc đó, thật không biết chúng tôi phải làm sao với chứng ghẻ lác quái ác đó. Mà nghĩ cũng ngộ, không ai được thăm nuôi gặp mặt khi còn ở Kiên Giam, ngoại trừ vài trường hợp đặc biệt nhưng cũng chỉ giỏi lắm là được một lần. Vậy mà anh chàng Lâm Văn Hua này được thăm gặp mặt mỗi tháng, lại có được ông chú vợ Trung Uý Công An có "bản lảnh" gởi thuốc "đột xuất" vào để cứu nguy ba thằng bị ghẻ lác đúng lúc. Khi nhớ lại điều này tôi cũng lấy làm lạ và số tôi quả thật vẫn còn may mắn lắm.
Sau mấy tháng chuyển vào Kiên Giam 6, Lâm Văn Hua được thả về. Không bao lâu sau thì có một người mới vào thay thế liền. Chúng tôi cũng có một kỷ niệm vui khó quên với người mới đến này như sau:
Tôi còn nhớ lúc đó khoảng 10 giờ sáng, tôi và Trương Phái Hàn đang nằm ngủ (ban đêm thức khuya họp chợ, ban ngày ngủ bù là thời khoá biểu bình thường trong tù) thì cán bộ mở cửa đẩy một người vào. Tôi và Trương Phái Hàn đang ngủ, nghe cửa mở, giật mình dụi mắt ngồi dậy nhìn người mới bước vào còn đang đứng rụt rè gần chỗ cầu tiêu. Có lẽ gương mặt ngái ngủ của tôi và Trương Phái Hàn lúc đó trông "ngầu" lắm hay sao, bỗng dưng anh chàng mới tới này ngồi sụp xuống dưới chiếu của tôi, tay móc trong túi ra một gói thuốc Hoa Mai và một ít tiền, anh ta nói:
– Dạ thưa mấy đàn anh, em mới vào nếu có gì lầm lỗi xin mấy đàn anh chỉ dạy dùm cho em, mấy anh biểu gì em cũng nghe hết. Em chỉ còn có chút đỉnh thuốc và ít tiền ở đây, xin mấy đàn anh nhận cho.
Trời! Chuyện gì nữa đây?? Tôi nhìn Trương Phái Hàn lúc đó cũng đang ngơ ngác nhìn qua tôi. Anh chàng "Gà Mới" thấy chúng tôi im lặng lại càng hoảng hốt hơn, anh ta cuống quít nói:
– Dạ em nói thiệt, em chỉ có bao nhiêu đây thôi, không còn gì khác hơn nữa. Mong mấy đàn anh không chê mà nhận dùm cho em vui.
À, tôi hiểu rồi. Anh chàng "Gà Mới" này ngỡ ở đây có qui chế tù anh chị Đại Bàng này nọ như ở mấy chỗ tù hình sự hoặc tệ đoan xã hội…
Trong bụng tôi vừa tức cười vừa làm bộ nghiêm cầm gói thuốc Hoa Mai lên hỏi anh ta:
– Trong này còn mấy điếu đây?
– Dạ, em mua hồi sáng mới hút có một, hai điếu gì đó nên còn nhiều lắm –Vừa nói anh ta vừa xoa xoa hai bàn tay có vẻ hồi hộp lắm.
Tôi lấy ra một điếu, hỏi:
– Có thuốc mà có lửa không vậy?
Mặt anh ta bỗng đổi sắc nói như mếu:
– Chết rồi! Em quên nói cho các đàn anh nghe. Hồi nãy Công an xét đồ đã tịch thu hộp quẹt của em rồi. Xin mấy đàn anh tha lỗi cho em, chuyện này ngoài ý muốn của em..
Tôi cũng làm bộ nghiêm mặt, không nói gì cả lấy ra một điếu cắm lên môi, một điếu khác đưa cho Trương Phái Hàn rồi nháy mắt với nó. Trương Phái Hàn không biết hút thuốc nhưng lúc đó chắc cũng hiểu sự việc và biết tôi đang muốn đùa cho vui với con "Gà Mới" vào này, nên nó cũng cầm điếu thuốc tôi đưa qua gắn lên môi:
– Trương Phái Hàn! Lấy đồ làm lửa ra đi. – Tôi nói như có vẻ ra lệnh.
Trương Phái Hàn lật đật đứng lên, bước tới bồn rửa mặt lấy cái bàn chải đánh răng có cục đá lửa gắn ở cán bàn chải, sau đó nó lấy một miếng mảnh chai dấu trong kẹt bồn rửa mặt và xé ra một tí xíu bông gòn, sau đó nó dùng miếng mảnh chai nẹt lửa ra từ viên đá lửa trên cán bàn chải. Mấy tia lửa nhỏ xẹt ra bắt vào mảnh bông gòn cháy lên thành lửa ngọn. Thế là Trương Phái Hàn mồi điếu thuốc tỉnh bơ trước cặp mắt vừa ngơ ngác vừa thán phục của anh chàng "Gà Mới". (Cách làm lửa này tôi sẽ kể ở phần tiếp theo).
Sau đó Trương Phái Hàn đưa điếu thuốc cháy qua cho tôi mồi. Tôi khoan khoái rít mấy hơi thuốc rồi đưa gói thuốc lại cho "Gà Mới":
– Lấy một điếu hút đi.
– Dạ em không dám hút đâu, cái này mấy đàn anh để dành hút đi.
Tôi làm bộ gằn giọng:
– Tôi nói hút thì cứ lấy hút đi.
"Gà Mới" hoảng quá:
– Dạ, dạ…
Anh ta lấy ra một điếu, xin phép tôi mồi lửa rồi ngồi xuống khép nép hút điếu thuốc với tụi tôi. Lúc đó không còn nín cười được nữa, tôi nhìn qua Trương Phái Hàn rồi cả hai thằng ôm bụng cười bò lăng bò càng trước cặp mắt ngơ ngác của anh chàng "Gà Mới" tội nghiệp này. Bữa đó chúng tôi được một trận cười nhớ đời.
Sau đó chúng tôi giải thích với người mới vào là ở đây không có chuyện tù anh chị Đại Bàng, Đại Biếc… đàn anh đàn em gì cả… mọi người như nhau thôi… Anh ta cũng bật ngửa ra và cùng vui vẻ cười với chúng tôi.
Anh chàng mới tới này tên là Lê Thành Cát – trùng tên với tay cua rơ xe đạp của VN, nổi tiếng khắp Đông Dương trước đây – Lê Thành Cát này rất hiền, giọng nói khàn khàn vì cuống họng bị mổ trước đây hay sao đó. Anh ta bị bắt với tội danh "Đánh Cắp Tài sản Nhà Nước XHCN". Tội danh nghe ghê gớm như vậy chứ thật ra có khỉ gì đâu. Anh ta làm công nhân viên, lương hướng chết đói không đủ đâu vào đâu nên chôm lặt vặt mấy món đồ trong xưởng về bán chợ trời kiếm thêm nuôi gia đình chứ đâu có ăn cắp qui mô gì đâu, tội của anh đúng ra nên liệt vào các loại như ăn cắp vặt thôi chứ làm gì mà phán một câu đao to búa lớn đến độ: "Đánh Cắp Tài sản Nhà Nước XHCN" dữ vậy!!
Ở trong XHCN này, cái gì động đến cũng là Tài sản Của Nhà Nước XHCN, còn cái tài sản đó Nhà Nước XHCN "đánh cắp" từ đâu mà ra thì không nghe thấy Nhà Nước nói. Không lẽ Tài sản đó tự dưng ở trên trời rơi xuống cho Nhà Nước?? Nhân Dân cứ cắm đầu cắm cổ làm chết ông chết cha, được bao nhiêu gom vào là thành Tài sản của Nhà Nước XHCN thôi. Người dân đói khổ quá chôm những gì của chính mình đã làm ra thì bị gán cho một cái "nhãn hiệu" đánh cắp tài sản Nhà Nước XHCN ngay.
Điều này làm tôi nhớ lại lúc đi tù cải tạo, mỗi ngày chúng tôi làm lao động cật lực, trồng trọt đủ mọi thứ từ lúa, khoai mì, bắp… Không biết bao nhiêu mẫu mà nói, đứng nhìn vào khu trồng trọt của chúng tôi lúc bấy giờ phải gọi là rộng lớn bạt ngàn, tầm nhìn mút con mắt. Tôi có thể đoan chắc nếu bịt mắt một người bỏ vào một vườn bắp, hoặc vườn khoai mì nào đó là đi lạc không biết đường ra luôn. Chính chúng tôi đi lao động hàng ngày mà còn lạc lên lạc xuống, mỗi khi đi về phải hú gọi ơi ới, hoặc bẻ một cành mì, cây bắp giơ lên cao ve vẩy để người đang làm ở xa biết chỗ mà đến tập họp ra về… Đến kỳ thu hoạch thì khỏi phải nói nhiều không biết đến bao nhiêu mà kể, xe vận tải chở liên tục từ sáng sớm đến tối mịt ngày này qua ngày khác trong suốt mùa thu hoạch… Vậy mà chúng tôi thì đói nhăn răng!!
Tiêu chuẩn ăn của chúng tôi không đủ trám bao tử thì làm sao có sức mà lao động nặng hàng ngày. Vì thế không thằng nào là không bẻ trộm bắp, khoai mì ăn thêm cả. Nhiều khi đang lao động trên đồng thu hoạch khoai mì. Đói quá, chúng tôi phải nhổ củ khoai mì rồi chia nhau canh chừng cho một thằng đốt lửa nướng. Đôi khi có cán bộ quản giáo ở gần không đốt lửa lên nướng được vì sợ lộ, chúng tôi lột vỏ ăn sống tại chỗ. Miệng thằng nào thằng nấy chất sữa của khoai mì sống chảy trắng đầy hai bên mép và chảy xuống rơi vãi lên cả áo quần… Tệ hại hơn nữa, có người ăn khoai mì sống bị "say" sùi bọt ra mép, dẫy tê tê làm cả bọn hết hồn tưởng anh ta trúng độc… Vậy mà khi xui bị bắt gặp thì mấy tên quản giáo chó má lôi chúng tôi ra họp hành kiểm điểm cả đêm về tội "Đánh Cắp Tài Sản Nhà Nước XNCH", tài sản mà chính chúng tôi lao động cật lực tạo ra!!
Lê Thành Cát vào ở chung với chúng tôi khoảng nữa năm thì Trương Phái Hàn được ông chủ người Hoa bên ngoài lo lót nên được về. Đúng ra tội trạng của Trương Phái Hàn đâu có gì quan trọng, anh ta chỉ là thợ làm công cho chủ sản xuất bài Tứ Sắc lậu bán trong dịp Tết, nếu anh khai thật thì chắc đã được thả về lâu rồi, nhưng anh lại đóng vai "Lê Lai cứu Chúa" và đã khai là chủ chốt để ông chủ anh thoát tội, nên mới kéo dài mãi tới ngày về cũng hơn một năm rưỡi ở tù chứ đâu ít ỏi gì. Trương Phái Hàn về rồi, tôi nhớ nó rất nhiều. Suốt hơn một năm trời ở chung với tôi, nó luôn giúp tôi nhiều chuyện, nào là cõng tôi lên song sắt phía sau mỗi ngày, có khi một ngày mấy lần khi tôi còn liên hệ với con Nai… sau đó thì canh me cho chúng tôi nói chuyện liên tục không dám ngơi, sợ rủi cán bộ vào thì chúng tôi bị bắt. Chưa bao giờ nó càu nhàu với tôi tiếng nào cả. Sau này khi về tôi có đi kiếm thăm nó mà không gặp vì nó đi làm nơi khác thỉnh thoảng mới về nhà một lần.
Còn lại tôi và Lê Thành Cát ở chung với nhau khoảng 5, 6 tháng gì đó rồi anh ta cũng được thả về. Khi còn ở chung với nhau Lê Thành Cát có cho biết trước đây anh có học nghề may và sau khi được ra có thể anh sẽ sinh sống bằng nghề thợ may. Nhìn những người ở chung với mình lần lượt ra đi. Người thì ra Toà lãnh án đi lao động hoặc chuyển đi một nơi nào khác… người thì được thả về. Còn riêng tôi thì không ai đếm xỉa gì cả. Tính tới lúc Lê Thành Cát được thả về thì tôi đã ở Chí Hoà cũng hơn 3 năm rồi chứ ít ỏi gì sao!!
Kể từ khi đổi xuống khu Kiên Giam này, cảm thấy ngày về còn đăng đẳng, không hy vọng gì cả nên tôi đâm ra lì lợm và không còn sợ gì cả. Ban đêm tôi hát hò, nói chuyện với những phòng bên cho tới khuya. Tôi lại là một thằng hay hát thật lớn, hình như có hát thật lớn tôi mới có thể vơi bới đi những buồn bực trong lòng. Đối với tôi bây giờ, lỗ cửa gió buổi chiều đám cán bộ và lao động hay đóng kín lại trước khi khoá cửa sắt lại, không thành vấn đề nữa. Bằng một cái móc kẽm gai chúng tôi bẻ trên song sắt ở phía sau, tôi có thể mở lỗ cửa gió từ bên trong và khép kín nó lại như có người đóng nó lại từ bên ngoài. Bởi vậy mỗi đêm sau khi mở ra cho mát, ban ngày trước giờ lao động mở cửa ra lấy nước thì chúng tôi đã đóng cửa gió lại như cũ rồi, nên khi lao động và cán bộ vào vẫn tưởng là cửa gió được gài kín cả đêm.
Sau khi chuyện liên hệ với mấy tù nữ ở dưới khu Xưởng may bị bể, tôi bị đổi vào trong Kiên Giam 6 này, tại đây tôi học được thêm nhiều chuyện mới. Vấn đề làm ra lửa không còn khó khăn đối với tôi nữa, nay tôi đã biết cách lấy lửa từ bóng đèn. Bằng một nhúm vải mỏng thật khô, như vải mùng chẳng hạn… chúng tôi bọc bóng đèn đang cháy lại, để phần bóng đèn tiếp giáp với nhúm vải khô đó, đợi đến khi nó nóng đến bốc lên khói, chúng tôi chỉ cần giở ra và thổi nhẹ vào nhúm vải khô lúc đó đã cháy đen thui thì lửa ngọn sẽ bốc lên. Cách này có hơi mạo hiểm và dễ làm cháy bóng đèn. Mỗi khi bóng đèn bị cháy chúng tôi phải sống trong bóng tối một thời gian thật lâu trước khi được thay bóng khác, nên từ từ chúng tôi không dùng cách này nữa. Thay vào đó, một cách "văn minh" hơn, chúng tôi mua chuộc lao động Xáng mang vào cho chúng tôi mấy viên đá lửa loại xài trong mấy hộp quẹt máy. Sau đó chúng tôi dùng một cọng kẽm bẻ trên song sắt dùi vào đầu cán nhựa của bàn chải đánh răng đã được hơ lửa nóng cho mềm sẵn, sau đó nhét viên đá lửa vào đó, khi đầu cán nhựa của bàn chải đánh răng khô, nó sẽ co thắt lại giữ viên đá lửa nằm cứng trong đó. Chúng tôi chỉ cần dùng một mảnh chai nhỏ đập bể từ một hủ chao mua hàng tháng và dùng một tí bông gòn kê sát vào cán bàn chải đánh răng nơi có viên đá lửa gắn trong đó, một tay dùng mảnh chai nẹt lên viên đá lửa bắn toé ra mấy tia lửa và thế là đủ để đốt miếng bông gòn nhỏ đã xé tưa ra sẵn. Cách này mau chóng trở thành một cách phổ biến trong đám đám tù chúng tôi và mỗi khi bị xét phòng, đám cán bộ không phát giác ra được và điều quan trọng là chúng tôi không còn phải xé vải áo quần, mùng mền để xe cúi giữ lửa nữa.
Chúng tôi đã biết cách làm ra mực, bằng cách lấy các bao nylon thăm nuôi mỗi tháng cuộn lại thành những que nylon mà ở đây tù gọi là "hỏa tốc", sau đó chúng tôi đốt lên và kê ngọn lửa ngay dưới cái bồn rửa mặt bằng xi măng, khói bốc lên đen thui bên dưới đáy bồn rửa mặt, sau đó chúng tôi cạo lớp khói đen này, trộn chung với một tí kem đánh răng và nước, quậy lên thật đều, tùy theo số lượng khói cạo ra được mà gia giảm số lượng giọt nước và thế là chúng tôi có một loại mực viết thật tốt. Ngòi viết thì sau khi xài hết kem đánh răng, chúng tôi xé tung cái vỏ không của kem đánh răng ra và chế thành ngòi viết từ mảnh nhôm kem đánh răng này.
Ngoài ra chúng tôi còn có thể đi "xe" chở hàng lên đến tầng lầu 3 qua đường… lỗ cầu tiêu và sau đó người trên lầu sẽ đi xe tiếp chuyền đến những phòng khác. Đây là điều chính tôi khám phá ra được.
Chuyện là như vầy:
Sau khi bị chuyển qua Kiên Giam 6, tôi cũng thường liên lạc nói chuyện với Kiên Giam 5 và phòng trên lầu ngay trên phòng tôi, cũng bằng cách dộng gót chân vào tường gọi nhau làm tín hiệu và sau đó nói vào ống nước "truyền tin" trên bồn rửa mặt.
Có ba người ở phòng trên tầng 3 ngay trên phòng chúng tôi, đó là: Bác Ba Thuyền Trưởng xà lan chở hàng trên sông đi khắp các tỉnh miền Tây, bị bắt về tội "Âm Mưu Đánh Cắp Tài Sản Nhà Nước XHCN", người thứ hai là một Kỷ Sư Công chánh trước 75, tội xê tê. Khi bị bắt xét nhà có chứa nhiều vũ khí, bị bắt với tội danh "Âm Mưu Lật Đổ Chính Quyền Cách Mạng", còn người thứ ba thì bị bắt với tội danh "Tuyên Truyền Thơ Ca Phản Cách Mạng" giống như tội danh của tôi. Sau khi hỏi kỹ ra thì Trời Đất ơi! Đó là Cảnh bạn của thằng Hồng Vân (Nguyễn Sĩ Trí), cũng bị bắt giống y chang như tôi vì bị thằng Hồng Vân ngu xuẩn khai ra tên nên bị dính chấu y như tôi vậy. Anh chàng Cảnh này cũng là bạn đi tù cải tạo với thằng Hồng Vân, tôi chưa hề biết qua trước đây ở bên ngoài. Điều khác nhau giữa tôi với anh chàng Cảnh này là trong khi đi "làm việc" với cán bộ chấp pháp (hỏi ra thì cũng đúng là 3 thằng công an đã bắt và làm việc với tôi trước đây), khi bị "quay" quá. Cảnh đã khai thật là: Một hôm khi Nguyễn Sĩ Trí tới nhà Cảnh chơi, cũng đã đưa cho Cảnh đọc bài thơ này, anh ta đã khai cũng vô tình đọc qua chứ không có tuyên truyền cho ai cả. Cảnh cũng hy vọng là thành thật khai như vậy sẽ được cứu xét thả ra. Ai ngờ vẫn bị nhốt mút chỉ.
Khi nghe như vậy thì tôi thấy rằng mình cương quyết chối lúc trước là quá đúng. Chúng nó có nhốt tôi tới đâu thì tới chứ tôi không thể tin được tụi CS này, bằng chứng rõ ràng là Cảnh đã khai thật mà tới giờ vẫn bị nhốt (vào thời điểm tôi biết Cảnh thì chúng tôi đã ở đây hơn 2 năm rưỡi rồi). Tôi không thể khai thật để chúng vin vào đó lập hồ sơ kết án tôi được. Tôi cũng dấu Cảnh là tôi không có đọc và không biết gì về bài thơ đó hết.
Sau đó tôi liên lạc cho thằng Hồng Vân biết là Cảnh đang ở phòng trên phòng tôi. Từ đó chúng tôi vẫn liên lạc nói chuyện đỡ buồn với nhau hằng ngày cho đến khoảng gần nữa năm sau thì Hồng Vân và Cảnh bị đưa ra Toà: Hồng Vân bị kết án 11 năm, chuyển đi lao động cải tạo với tội danh "Tuyên Truyền Thơ Ca Phản Cách Mạng", còn Cảnh bị kết án 6 năm, chuyển đi lao động cải tạo với tội danh đổi lại là: "Che chở Không Khai Báo Cho Chính Quyền Cách Mạng Người Đã Tuyên Truyền Thơ Ca Phản Cách Mạng". Có nghĩa biết mà không khai báo!! Thiệt đúng là khôi hài!!!
Riêng tôi, chúng không đá động gì tới nhưng vẫn bị nhốt tại chỗ. Những điều này tôi chỉ biết sau này khi vợ tôi gởi được thư vào báo. Còn lúc bấy giờ tôi chỉ biết Hồng Vân và Cảnh bị đưa ra Toà và chuyển đi mà thôi, chứ không biết mỗi người bị kết án bao nhiêu năm. Trường hợp của Cảnh cũng là một bài học cho những ai còn tin tưởng vào chế độ khoan hồng của CS khi họ bảo mình cứ khai thật đi sẽ được khoan hồng!!
Trở lại chuyện ở Kiên Giam 6 của tôi lúc bấy giờ, hàng ngày tôi vẫn liên lạc với Kiên Giam 5 lúc đó Hồng Vân còn ở và với 3 người trên lầu với nhau để tiêu khiển giết thời giờ đỡ buồn. Vào những lúc cuối tháng gần như mọi nơi đều hết thuốc hút, riêng Công Chánh (biệt danh của anh chàng Kỹ Sư Công Chánh tội Chính Trị ở phòng trên lầu) lại luôn luôn còn dư rất nhiều, vì anh là người rất ít hút thuốc mà tháng nào người nhà của anh cũng gởi vào cho anh một bịch thuốc rê thật lớn. Bởi vậy trên tầng 3, anh được mệnh danh là Mạnh Thường Quân chuyên tiếp tế thuốc rê cho các anh em ở các phòng khác. Lúc đó bên dưới chúng tôi đang "vả" thuốc quá, anh muốn tìm cách gởi xuống cho chúng tôi mà không biết cách nào.
Ban đầu tôi đề nghị anh thử leo lên song sắt phía sau rồi đi dây thòng xuống từ phía tường đàng sau, trong khi đó tôi sẽ đón bắt ở song sắt phía dưới. Nhưng sau khi Cảnh chuyền cho Công Chánh leo lên song sắt phía sau, anh ta đã cố đạp bùi nhùi vẹt qua một bên tìm chỗ trống rồi thử đi xe xuống phòng tôi thì lại bị đám kẽm gai bùi nhùi trên song sắt phòng tôi cản lại không thòng xuống tới chỗ tôi được, thử mấy lần cũng không được nên đành bỏ cuộc.
Cuối cùng nhìn lỗ cầu tiêu, tôi chợt nãy ra một ý. Vì cầu tiêu ở phòng trên lầu sử dụng chung một hệ thống ống thoát thẳng đứng rất lớn, nên nếu ở bên trên dùng bao nylon gói hàng cẩn thận lại trong nhiều lớp và từ trên thòng dây xuống, ở bên dưới tôi sẽ dùng một đoạn dây kẽm dài uốn cong một đầu làm thành hình một cái móc và thọc xuống lỗ cầu tiêu móc sợi dây kéo lên. Tôi bàn với anh kế hoạc này và cả hai đều thấy có lý. Thế là tôi nói với Trương Phái Hàn cõng tôi leo lên song sắt phía sau bẻ một cọng kẽm gai dài, sau khi lấy hết các mắt gai nhọn trên cọng kẽm, chỉ còn lại hai sợi kẽm xoắn vào với nhau, tôi tách chúng ra và chỉ cần một cọng kẽm là đủ, sau đó bẻ một đầu cong lại như cái móc. Tôi báo cho Công Chánh trên lầu chuẩn bị đi hàng xuống. Lúc đó anh ta đã sửa soạn hàng gói trong nhiều lớp nylon thật kỹ rồi thòng dây xuống qua lỗ cầu tiêu, tôi ở bên dưới chờ sẵn và lấy cọng dây kẽm móc dưới lỗ cầu sau đó từ từ kéo lên.
Chuyến đưa hàng thành công mỹ mãn và dễ dàng hơn chúng tôi đã nghĩ. Sau khi lấy hàng xong, tôi thả dây lại vào lỗ cầu tiêu và báo cho Công Chánh cứ thế kéo trở lên lại. Trong khi đó tôi rửa sạch gói hàng sạch sẽ rồi gỡ từ từ các lớp bao nylon ra, hàng bên trong không hề hấn gì cả. Cả đám chúng tôi vui mừng với khám phá mới và lối chở hàng thành công này.
Kể từ đó chúng tôi có thể đi xe chở hàng khắp nơi giữa các tầng lầu với nhau. Nhờ phương pháp này, chúng tôi đã giúp cho biết bao trường hợp mới bị bắt vào liên lạc được với người cùng trong "vụ" và chuyền thư giúp họ thông tin với nhau để lời khai được ăn khớp khi bị gọi lên "làm việc". Đồng thời chuyền thức ăn, đồ tiếp tế cho những người không được thăm nuôi. Danh hiệu "Sáu Khổ, 
Hai Ga, Ba Long, Ba Thanh…" của tôi lúc bấy giờ ở khu Kiên Giam ED được anh em tù thương mến lắm. Bất cứ việc gì khó và có tính cách mạo hiểm nếu làm giúp được cho các anh em tù thì "Sáu Khổ" tôi làm liền.
Tuy nhiên vần đề cũng không phải là đơn giản, phải có sự hợp tác một lòng của anh em các phòng khác chứ không phải ai cũng sẵn lòng liều lĩnh như chúng tôi. Sau một thời gian dài ở chung, cuối cùng chúng tôi cũng gạn lọc được những tay "chiến đấu" hết mình và sẵn sàng giúp đỡ các anh em khác. Đa số là các người bị tù chính trị và những tay đứng đầu "vụ", ở tù mút chỉ không thấy ngày về nên đâm liều mạng, không màng gì tới bị phạt phiết gì cả. Ở Kiên Giam tầng 2 chúng tôi lúc đó có: Sáu Khổ (Tôi), Hồng Vân (Nguyễn Sĩ Trí), Gió (Phan Đình Tố), Thanh Đa (Phan Văn Ty), Kim Cương (Tên Nhẫn, tôi quên họ của anh chàng này rồi) là những thằng bạt mạng ở Kiên Giam ED tầng 2 mút chỉ. Trên tầng 3 lúc đó tôi quen với Công Chánh (Anh chàng kỹ sư tội chính trị), bác Ba và Cảnh, từ đó họ chuyền đi các phòng khác.
Đối diện với Kiên giam 6 là 2 phòng Kiên Giam 8 và 9. Tù thay đổi liên miên từ khi tôi ở khu Kiên Giam này. Cứ hết người này đi, lại có người mới vào trám chỗ ngay. Tôi chuyển vào Kiên Giam 6 đước mấy tháng thì Kiên Giam 8 đối diện dành để nhốt những tù bị bệnh… cùi. Lúc bấy giờ có 3 người ở Kiên Giam 8. Nghe nói họ bị bệnh cùi nhưng nhìn bề ngoài thì tôi không thấy gì đặc biệt hết. Mỗi tối tôi vẫn hay nói chuyện với họ trên song sắt. Tuy nhiên họ cũng tỏ vẻ mặc cảm khi sinh hoạt chung mỗi tối. Có một thanh niên khoảng 27, 28 tuổi ở đó với biệt danh là Hoàng Đen, tôi không biết anh ta bị tội gì mà phải vào đây. Anh ta hát những bài nhạc của Chế Linh rất hay. Có lần anh nghe tôi hỏi Hồng Vân ở Kiên Giam 5 còn thuốc rê không, tiếp tế qua cho tôi. Hồng Vân trả lời:
– Tao cũng hết thuốc hai bữa nay rồi.
Hoàng Đen bên Kiên Giam 8 nghe được nên nhảy lên song sắt nói tôi:
– Bên đây còn nè Sáu Khổ. Đi xe qua tui chuyền cho mấy điếu.
Thật không thể từ chối được. Nếu tôi kiếm cách từ chối thì Hoàng Đen và hai người trong phòng sẽ lại càng mặc cảm thêm. Mà nếu nhận lời giúp thì thành thật mà nói tôi cũng hơi ơn ớn, cuối cùng tôi trả lời anh ta:
– Cám ơn trước nghe. Vậy thì tôi đi xe qua ngay.
Anh ta chuyền cho tôi mấy điếu thuốc rê vấn sẵn. Tôi đã hút tỉnh bơ trước mặt anh bên kia song sắt. Từ đó Hoàng Đen thích tôi lắm.
Một lần khác khi tôi ra lấy nước, nhìn không thấy cán bộ, tôi chạy qua mở cửa gió phòng Kiên Giam 9 hỏi thăm Kiều Mi đang bị bệnh mấy câu. (Cô Kiều Mi này là em gái kết nghĩa của tôi). Lao động Xáng cự tôi quá trời và đuổi tôi vào lại phòng Kiên Giam 6 không cho lấy nước nữa. Lao động ở đây có quyền lắm, tuy không làm gì được mình, nhưng có thể chọt cán bộ đi kỷ luật như chơi, hoặc chọt cho cán bộ vào xét phòng tịch thu mấy món "đồ chơi" rồi đi biệt giam, nên nói chung không ai sợ lao động Xáng, nhưng cũng không muốn đụng chạm tới hắn.
Tôi đang cự nự với lao động Xáng tại sao không cho tôi lấy nước, lấy quyền gì mà không cho tụi tôi lấy nước… lao động Xáng cũng nạt lại tôi. Hai bên còn đang cãi qua cãi lại thì Hoàng Đen bên Kiên Giam 8 nhảy lên song sắt, chỉ tay ngay hắn nói:
– Đ.M. mày nghe Xáng. Mày làm quá là chết mẹ mày bây giờ. Mày có ngon thì đi báo cán bộ đi. Tao hứa với mày nếu mày cà chớn với tù ở đây thì đừng bao giờ mày mở cửa phòng này nữa nghe chưa? Nếu không tao sẽ cho mày biết, dù mày mở cửa có cán bộ đứng đó, tao cũng "chơi" mày liền. Mày cũng là tù như người ta, nhờ đút lót ra được lao động rồi hạnh hoẹ với anh em hả? Mày là cái gì mà không cho tù tụi tao lấy nước.
– Tôi đang nói với người ở Kiên Giam 6 chứ không phải nói với mấy anh. – Lao động Xáng trả lời.
Hoàng Đen không chịu thôi:
– Tao không cần biết mày đang nói với phòng nào. Mày cũng là tù mà có thái độ ăn hiếp tù là tao đục mày liền. Cán bộ có tới tao cũng sẽ hỏi cán bộ coi mày là cái gì mà dám cấm tù khác không được lấy nước.
Lúc bấy giờ mấy phòng kia nghe ồn cũng có người leo lên song sắt ngó ra. Thấy ồn quá, lao động Xáng nhẹ giọng:
– Mấy anh em cũng hiểu cho, làm cái gì cũng vừa vừa thôi chứ. Nếu để anh em muốn làm gì thì làm, cán bộ thấy được họ sẽ "xì nẹt" tôi chứ đâu phải là không. Thôi tất cả leo xuống đi, anh em có chút hiểu lầm thôi. Leo xuống ngay đi để rủi cán bộ thấy thì phiền lắm. Còn mấy anh ở Kiên Giam 6 ra lấy nước tiếp tục đi.
Thế là tôi và Lê Thành Cát ra lấy nước trở lại.
Đúng ra lỗi cũng ở tôi thật! Không hỏi anh ta một tiếng nào lại chạy ngay đến mở cửa phòng nữ ra nói chuyện với bên trong. Điểm thứ nhất làm như vậy có vẻ như coi thường và chạm tự ái anh ta. Thứ hai nếu cán bộ bắt gặp, riêng tôi đi biệt giam kỷ luật không nói gì, anh chàng lao động Xáng chắc chắn cũng bị dũa. Nghĩ lại như vậy nên tôi đến bắt tay anh ta thông cảm và nói "Xin lỗi" với anh ta. Lao động Xáng cũng nói xin lỗi tôi về hành động đuổi tôi trở vào phòng lúc nãy…
Như vậy là chuyện được giải quyết êm đẹp, nhưng có hai điều tốt xảy ra sau đó:
– Các phòng khác tỏ vẻ thân thiện hơn với anh em bên Kiên Giam 8, nhất là với Hoàng Đen. Những cuộc nói chuyện cởi mở hơn từ các phòng bên ngoài thỉnh thoảng gọi vào hỏi thăm anh em Kiên Giam 8 và cuối tháng khi các giỏ đồ thăm nuôi các nơi cạn hết, anh em bên ngoài, người nào còn dư giả vẫn đi xe chuyền vào tiếp tế cho anh em Kiên Giam 8.
– Ngoài ra sau vụ đó, Lao động Xáng dễ giải với anh em chúng tôi hơn trước nhiều, thậm chí chuyền đồ "lậu" dùm cho chúng tôi đến những phòng khác, những khi cần thiết mà chúng tôi bị canh me quá đi xe không được.
Tôi viết lại điều này mục đích cũng để nói lên cái tình người tù đối với nhau trong hoàn cảnh khốn khó. Nhất là những người bất hạnh vì bệnh tật… nhưng họ cũng là con người và đôi khi là những người tốt, dám đứng ra bênh vực cho những người khác khi cần, trong khi những người bình thường khác lại không dám.
Bên Kiên Giam 9 thì nhốt toàn tù nữ đa số là vượt biên, trong đó có cô gái bị bắt về tội Kinh Tế, khoảng 22, 23 tuổi rất dễ thương mà thằng Hồng Vân đặt cho một cái tên để gọi khi sinh hoạt với nhau là Kiều Mi vì cô này có đôi lông mi rất dài và cong vút. Cô này cùng chồng có một chiếc xe Lam, sinh sống bằng cách chở hàng cho người khác… trong những chuyến hàng đó, hai vợ cồng cũng chở thêm một số hàng lậu thuế để kiếm thêm… khi thì vải vóc, khi thì hàng lậu thuế từ Thái Lan có người chuyển về… Nói chung ai đi buôn lúc bấy giờ mà không là buôn lậu! Trót lọt thì ăn mà rủi bị bắt thì chịu đóng phạt, chịu tịch thu… vậy thôi! Nhưng hai vợ chồng cô Kiều Mi này đi chuyến chót lớn quá. Chở nguyên một xe Lam vải nhập cảng và sau khi bị bắt lại lòi ra thêm nhiều số hàng quan trọng khác… và thế là cả hai vợ chồng bị bắt vào Chí Hòa.
Thằng Hồng Vân quen với cô lúc tôi còn ở Kiên Giam 1 bên ngoài và đã giúp cho cô liên lạc tin tức với chồng cô đang bị nhốt trên tầng lầu trên. Đến khi tôi vào Kiên Giam 6, mỗi tối cô hay ngồi vắt vẻo trên song sắt nghe tôi kể chuyện. Cô rất thích thú với những chuyện của các nhà văn nổi tiếng như "The Old Man and the Sea", "Farewell my arm" của Earnest Hemmingway, hoặc "Đôi bạn chân tình", "Sói Đồng Hoang", "Câu Chuyện Giòng Sông" của văn hào Đức Herman Hess mà tôi đã có dịp đọc qua kể lại cho cô nghe và phân tích những điều hay mà tôi lãnh hội được. Kiều Mi coi tôi và Hồng Vân như hai ông anh, chuyện gì cũng kêu tôi hoặc Hồng Vân hỏi và mỗi khi đau bệnh cô sợ lắm, cứ khóc tối ngày. Nói chung một cô gái mới lớn, lấy chồng không được bao lâu lại phải vào một nhà tù dữ dằn như Chí Hòa này bảo sao không sợ, nên tôi cứ an ủi cô hoài.
Tôi nhận được khoảng hơn 36 giỏ thăm nuôi thì Hồng Vân và Cảnh ở phòng trên lầu ra Toà. Tin Hồng Vân và Cảnh ra Toà mang tới cho tôi nhiều cảm nghĩ mâu thuẫn:
Bọn Chấp Pháp rõ ràng không đủ yếu tố đúc kết hồ sơ đưa tôi ra Toà. Cùng chung một vụ mà hai người kia bị đưa ra Toà xét xử, còn tôi thì không… Như vậy thì hy vọng về của tôi cũng gần kề, vì không ghép tội được thì phải thả tôi ra chứ không lẽ nhốt hoài? Tôi cũng đã ở đây 3 năm rồi còn gì. Tuy nghĩ vậy nhưng cái cảm giác bị nhốt mút chỉ cho bõ ghét của tụi Chấp pháp vẫn không thoát ra được đầu óc tôi. Chúng nó có quyền hạn trong tay, cứ ếm tôi lại và nhốt hoài không thèm cứu xét gì cả thì cũng làm gì tụi nó bây giờ?
Tiếp theo đó 1 tháng sau, bà Mẹ nuôi của tôi được về. Bà về được làm cho tôi mừng vô cùng, như vậy hai chân của bà có điều kiện chăm sóc thuốc thang tốt chứ ở đây tình trạng sức khoẻ của bà sa sút quá, đồng thời tôi cũng an tâm vì bà về được thì cuộc sống vật chất của vợ con tôi bên ngoài sẽ không còn khó khăn nữa. Tuy nhiên tôi cảm thấy cô đơn trở lại.
Sau khi Hồng Vân ra Toà rồi, tôi trở thành thằng tù thâm niên nhất ở khu Kiên Giam tầng 2 này. Bao nhiêu người kể cả Kim Cương, Thanh Đa, Sáu Thạnh, Bồ Câu … đều đã lần lượt chuyển đi hết. Chỉ còn có Gió ở Kiên Giam 2 là kiên trì với tôi thôi. Thằng Hồng Vân đi rồi, tôi buồn và nhớ nó lắm. Tuy nó là thằng đã hại tôi vào chốn tù hãm này. Nhưng chuyện đã qua có trách cứ hoài cũng chẳng được gì. Dù sao nó cũng nhìn nhận lỗi lầm của nó và ăn năn lắm rồi, vả lại hai đứa ở chung trong tù với nhau tính ra đã 3 năm, đã chịu chung bao nhiêu khổ cực và có biết bao kỷ niệm. Đã từ lâu lắm, tôi không còn giận nó nữa. Kẻ thù của tôi, những người đã hành hạ tôi, tôi còn không giận thì làm sao tôi có thể giận bạn tôi mãi cho được! Với lại tôi tự an ủi, biết đâu nhờ chuyện tôi vào Chí Hòa này, mới có cơ duyên gặp được Mẹ tôi.
Thằng Hồng Vân trước đây là thông dịch viên cho Mỹ. Sau thời Mỹ rút quân, nó đi học khoá Sĩ Quan đặc biệt. Trong đám bạn bè quen biết, ngay cả những thằng bạn Pilot đi du học ở Mỹ trước đây, không thằng nào tiếng Anh giỏi bằng nó lúc bấy giờ. Cách phát âm và giọng nói của nó hay đến độ nếu chỉ nghe tiếng nói mà không thấy mặt, ai cũng nghĩ đó là một người Mỹ đang nói chuyện. Nó lại đàn hay hát giỏi. Những bài nhạc của Lobo hoặc country music như Heart of Gold, Take Me Home Country Road… và đặc biệt nhạc tiền chiến VN nó hát truyền cảm lắm. Trước đây tôi quen nó qua một người bạn thân của tôi, có lẽ vì hợp tính tình văn nghệ với nhau nên chúng tôi dễ dàng thông cảm nhau…. Sau này vợ tôi viết thư vào cho biết nó ra Toà bị kết án 11 năm, nhưng chắc có lẽ được giảm án khi ra lao động, nên về trước thời hạn. Sau này được thả về khi lấy vợ nó có gởi hình và thiệp mời qua cho tôi bên Mỹ. Sau đó nghe nói đi diện HO 18 hoặc HO 19 nhưng không biết bây giờ ở đâu, tôi vẫn mong tìm nó hoài mà chưa gặp được.
Còn thằng Kim Cương ở Kiên Giam 3, cũng là một thằng ngổ ngáo ở khu Kiên Giam lúc bấy giờ. Lý lịch của thằng này lại khác bọn tôi. Nó là Công An Khu Vực ở gần đường Tô Hiến Thành, chợ Hoà Hưng. Là Công An khu vực nhưng nó lại nằm trong đám tổ chức vượt biên. Nó khoảng 25, 26 tuổi, người ốm, nhỏ con.. nhưng rất chịu chơi. Nó cũng là thằng bị cán bộ Hùng chiếu cố đì mút chỉ. Tôi hay giỡn với nó:
– Tại hồi mày còn làm công an khu vực, thằng Hùng này đến khu vực của mày cua gái ở đó bị mày làm khó dễ đuổi đi chớ gì, bởi vậy bây giờ nó đì mày là phải rồi.
Nó chỉ cười rồi nói:
– Bây giờ em vô đây nằm rồi, nó có quyền hành trong tay muốn đì em thế nào thì đì. Chứ nói xin lỗi, khi em còn ngoài đời, đến khu vực của em mà cái kiểu này, nội mấy đàn em của em chơi nó cũng đủ chết rồi.
Nó còn nói thêm:
– Nói thiệt với anh Sáu Khổ, hồi em làm công an khu vực, em chưa bao giờ biết làm khó dễ ai hết. Gia đình em sống trong cùng một xóm đó từ hồi em nhỏ xíu đến bây giờ. Bà con trong khu vực của em, ai cũng thương em. Ngày em bị bắt cả xóm không ngờ và nhiều người chạy đi báo dùm gia đình cho em, khi công an dẫn em đi bà con còn chạy theo khóc lóc nữa. Nói thiệt anh chứ, em làm công an là để che mắt thiên hạ và dễ bề tính chuyện của em thôi chứ em ghét mấy đám công an lắm. Là công an chứ em không có chơi với thằng công an nào hết. Không tin mai mốt về em mời anh đến nhà em chơi, coi lối xóm của em đối với em và gia đình em như thế nào?
Sau này khi tôi về tôi hay ghé đến nhà Kim Cương uống cà phê với nó, vì nhà Má vợ tôi ở gần khu nhà nó. Gặp tôi nó mừng lắm, lăng xăng mời mọc đủ thứ. Quả đúng! cái xóm nơi nó ở bên hông chợ Hoà Hưng mọi người có vẻ thân mật lắm. Nó cho tôi biết nó đang tính chuyện đi vượt biên, không biết cuối cùng nó có đi thoát không?
Phòng trên lầu Công Chánh đã ra toà trước Cảnh và Hồng Vân và đã lãnh án nặng nhất: Tử hình. Tối hôm trước khi ra toà, Công Chánh và tôi đã thức nói chuyện qua đường dây ống nước tới khuya. Anh đã bình tĩnh đoán trước cái án dành sẵn cho anh: May lắm mới bị Chung thân còn không thì cầm chắc là Tử Hình. Tôi đã bùi ngùi an ủi anh và nói với anh ngày mai ráng liên lạc cho tôi hay, vì tôi biết sau khi ra Toà về, anh sẽ không nói chuyện được với ai hết, công an sẽ kè theo sát anh khi anh gom góp đồ đạc di chuyển qua nơi khác. Anh nói anh sẽ làm tín hiệu dộng gót chân xuống sàn nhà "Binh" một cái có nghĩa là Tử hình, hai tiếng "Binh Binh" sẽ là Chung Thân.
Đêm hôm đó tôi đã âm thầm cầu nguyện cho anh. Qua hôm sau khoảng 3 giờ chiều, chúng tôi đang ngồi nói chuyện trong phòng, bỗng nghe trên phòng trên có một tiếng dộng "Binh" xuống. Tôi lặng người đi, lòng buồn vô cùng. Như vậy Công Chánh đã bị án Tử Hình rồi!!! Tôi im lặng một lúc thật lâu ngoài âm thầm cầu nguyện cho anh ra, tôi còn làm được gì khác hơn!!!.
"Anh Công Chánh ơi, tôi sẽ nhớ mãi những kỷ niệm trong tù với anh dù chưa bao giờ biết mặt anh một lần. Những kỷ niệm mà hai đứa lui cui chuyển hàng qua đường cống cầu tiêu. Những điếu thuốc rê anh tiếp tế đúng lúc trong những ngày cuối tháng cũng qua đường ống cống cầu tiêu này mà chúng tôi ở phòng dưới này đã chia nhau hút "ngon" chi lạ, cũng như tôi sẽ nhớ hoài có hôm bị đứt dây, nguyên một đòn bánh tét rơi xuống ống mất tiêu… và đã mấy lần "xe" bị trục trặc giữa đường như vậy, đến nổi Kiên Giam 6 tụi tôi bị nghẹt cầu tiêu và phải lánh nạn tại Kiên Giam 3 một thời gian. Cầu xin cho anh được giảm án xin Phật Trời hộ độ che chở cho anh".
Kể từ khi mấy bạn tù thân ra toà hoặc đổi đi nơi khác và Mẹ tôi về rồi. Tôi đâm ra ít nói, ít tham gia sinh hoạt họp chợ ban đêm. Thỉnh thoảng mới leo lên song sắt nói chuyện với Kiều Mi bên Kiên giam 9 hoặc hát một vài bản nhạc cho đỡ buồn, ngoài ra tôi cứ nằm trong phòng. Kiên Giam 6 lúc đó cũng đã nhiều lần "ra, vào" thay đổi người mới hoài, chỉ có một mình tôi là còn dậm chân tại chỗ: Trương Phái Hàn, Lê Thành Cát cũng đã được về từ lâu, những người đến sau như một ông tham gia tổ chức vượt biên chuyên đánh vùng Phú Xuân Nhà Bè biệt danh Ba Thời Tiết đến ở chung Kiên Giam 6 với tôi được mấy tháng cũng ra Toà đổi đi mất tiêu. Hai người mới là 2 thanh niên trẻ tên Nguyễn Văn Hai và Tám (tôi quên họ) vào lúc này đang còn ở chung với tôi.
Lúc đó, ở Kiên Giam 5 sau khi Hồng Vân ra toà đổi đi không bao lâu thì bên đó có người mới vào. Sau khi liên lạc qua đường ống nước hỏi thăm, chúng tôi được biết ông này là một giáo sư Trung Học Đệ Nhị Cấp dạy môn Việt Văn từ trước 1975 mãi tới khi bị bắt. Tôi không biết và cũng không hỏi ông ta tội gì mà bị bắt vào đây. Sau một thời gian nói chuyện qua lại, hình như "hợp gu" hay sao bỗng trở thành thân. Mỗi ngày chúng tôi nói chuyện qua đường ống nước trên cái bồn nước rửa mặt bằng xi măng, tâm sự hoàn cảnh gia đình và đủ thứ chuyện trên đời.
Ông cho biết tên thật là Lâm Vị Thủy dạy môn Việt Văn, đồng thời cũng làm thơ viết văn. Trước năm 1975 có xuất bản tập thơ tình: "Sao em không về làm chim thành phố". Tôi còn nhớ một bài thơ của ông trong tập thơ này:
 Hình như kỷ niệm.  
Buổi sáng trời mưa tôi trở dậy 
Soi mặt mình bằng phiến gương đen 
Chợt thấy hình em sầu đóng bụi 
Nỗi đau này em nghe chăng em?  
Thành phố chừng như quên giấc ngủ 
Tôi đi không kỷ niệm che đầu 
Không em làm ấm vòng tay lạnh 
Không cả ngày chưa quen biết nhau  
Tôi dẫn tôi vào trong lớp học 
Mây lên màu trắng áo thiên thần 
Bàn tay e ấp trên trang sách 
Trông dáng ai mà thương cố nhân  
Sao em không là em thuở ấy 
Để mỗi chiều tôi đón cổng trường 
Đường xưa còn dấu chân em đấy 
Gót nhỏ giờ vui mộng viễn phương  
Nghìn thu còn mưa bay mãi đây 
Xa nhau không một ánh trăng gầy 
Nửa đêm nghe tiếng xe về vội 
Tôi đốt đèn lên ngồi ngắm tay  
Ôi tình yêu đã về hay chưa 
Còn đây từng tháng đợi năm chờ 
Còn đây một nét môi cười đó 
Em vuột tầm tay tôi bơ vơ

Người yêu, người yêu, người yêu ơi 
Mùa thu, mùa thu, mùa thu rồi 
Hồn tôi muốn khóc làm sao dỗ 
Em của người ta, tôi của tôi. 
Thơ Lâm Vị Thủy

 
Một bài thơ 5 chữ nữa của ông khi cảm khái thân phận mà tôi chỉ còn nhớ 4 câu sau:
Nhớ chuyện người Trang Tử. 
Thương khúc "Vỗ Bồn Ca" 
Nhìn trời qua lỗ gió. 
Ta càng thương thân ta… 
Thơ Lâm Vị Thủy  
Cũng như rất thích 4 câu thơ sau đây trong một bài thơ khác của ông:
Tôi đã về, tôi đã về đây, 
Thềm sương mù tỉnh giấc chưa gầy 
Dấu chân xưa mất trong màu cỏ. 
Tôi vẫn còn đây, vẫn trắng tay. 
Thơ Lâm Vị Thủy.
Trong khi nói chuyện tâm sự hàng ngày, tôi được biết ông có nghiên cứu về môn Tử Vi. Thú thật trước đó tôi chưa bao giờ biết qua về môn này, cũng không thấy hứng thú gì hết mỗi khi nghe ai đề cập tới. Nhưng khi nói chuyện với giáo sư Lâm Vị Thủy, ông giải thích tôi nghe về Tử Vi Nghiệm Lý, những lý giải hay ho mà ông từng biết qua. Đang lúc ở tù rỗi rảnh nên tôi đã chịu khó.. nghe và cuối cùng thì thấy thích. Ông ngỏ ý sẽ chỉ tôi cách an sao trên lòng bàn tay theo phương pháp riêng của ông sau khi nghiên cứu và đúc kết lại thành những bài thơ, phú dễ hiểu…Tôi hoan hỉ nhận lời học.  
Phải công nhận thầy chịu khó kiên nhẫn dạy, và trò cũng chịu khó học hỏi… trong một hoàn cảnh hạn hẹp như vậy. Không thấy mặt nhau, ở cách một bên vách tường và chỉ nói chuyện với nhau qua một cái ống nước, lại không có điều kiện giấy bút ghi lại những điều đã học. Tất cả chỉ bằng hình thức học thuộc nằm lòng…Vậy mà sau mấy tháng miệt mài, ông cũng đã chỉ cho tôi thuộc lòng được các sao trong môn Tử Vi và cách an sao trên lòng bàn tay.
Tôi còn nhớ bài đầu tiên ông dạy tôi là cách định vị trí các cung Tí, Sửu, Dần Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dâu, Tuất, Hợi trong lòng bàn tay trái. Bắt đầu là cung Tí ở dưới đốt thứ 3 của ngón đeo nhẫn đếm theo chiều thuận kim đồng hồ mỗi khoảng hoặc đốt là một cung cho đến giáp vòng là đúng 12 con giáp… Rồi thì 10 can Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỹ Canh Tân Nhâm Quí … v…v… và bài thơ tính Mạng, Cục …:
Hải, Lư, Lâm, Lộ, Kiếm-Phong oai. 
Sơn, Giáng, Thành- Đầu, Bạch, Liễu sai 
Tuyền, Ốc, Tích, Tòng, Lưu-Thủy mạc 
Sa, Sơn, Bình, Bích, Bạch-Kim bài. 
Phúc,Thiên, Đại -Trạch, Thoa, Tang mộc. 
Khê-Thủy, Sa, Thiên, Thạch, Hải lai 
Hải Thử, Tuyền Hầu, Sơn khuyển hội 
Mã Sa, Khê Hổ, Phúc long hoài  
… cho đến bài thơ chỉ cách an vòng sao Thái Tuế như sau:
Thái Tuế quan chiêu, Thiên, Thiếu khuynh. 
Tang Môn bi táng, Thiếu Âm bình. 
Quan phù khẩu thiệt, Tử Phù bỉ. 
Tuế Phá hoại vong, Long Đức ninh.
Bạch Hổ thương phòng, Phúc Thiên hảo. 
Điếu phòng tiểu cố, Trực vô tình.  
Rồi đến bài thơ an vòng sao Lộc Tồn:  
Bác sĩ ( Lộc Tồn ) thông minh, Lực Sĩ quyền.
Thanh Long hỉ khí, Tiểu Hao tiền.
Tướng Quân uy vũ, Tấu Thư phúc 
Phi Liêm chủ cô, Hỉ Thần viên. 
Bệnh Phù đới tật, Hao khói toả 
Phục Binh, Quan Phủ khẩu thiệt triền
Rồi thì 14 chính tinh… các phụ tinh, những Cát tinh, bộ Tứ Linh… Lục đại sát tinh… Ngũ Hành: Kim Thủy Mộc Hỏa Thổ… và nhiều câu phú, nhiều "cách" tượng trưng cho một lá số mẫu như các cách: Tử Phủ Vũ Tướng, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Sát Phá Tham, Sát Phá Liêm Tham, Cự Cơ Mão Dậu Ngộ Song Hao, Nhật Nguyệt Chiếu Bích, Nhật Nguyệt Chiếu Hư Không Chi Địa, Vô Chính Diệu…V…V… Ôi thôi quá nhiều luôn.
Ban đầu tôi cảm thấy khó thiệt, nhưng càng vào sâu càng thấy khoái và nhiều khi ông thấy tôi mê mãi quá ông cũng hứng chí thức tới gần sáng để chỉ cho tôi… Đến khi tôi đã thuộc lòng hết các câu thơ phú và đã an sao trên bàn tay một cách chính xác và rành rẽ rồi, ông bắt đầy dạy tôi những ý nghĩa căn bản của từng sao trên Tử Vi và các ý nghĩa của những "bộ" sao khi chúng kết hợp với nhau… đồng thời chỉ cho tôi căn bản cách đoán một lá số Tử Vi qua các đại hạn, tiểu hạn. Lưu niên đại hạn, lưu niên tiểu hạn … Nhờ những căn bản này sau khi tôi được về, khi tìm những sách vở về Tử Vi nghiên cứu thêm, tôi đã dễ dàng lãnh hội được những gì trong sách một cách nhanh chóng.
Đó là kỷ niệm nhớ đời của tôi đối với giáo sư Lâm Vị Thủy. Nhờ có ông khai lối chỉ đường mà tôi được biết đến môn khoa học huyền bí này.
Sau này khi về, tôi có đạp xe từ Saigon lên Hốc Môn Bà Điểm để tìm ông. Ông cảm động lắm khi biết tôi đã đạp xe lòng vòng hỏi thăm nhà ông cả buổi trời. Hai chúng tôi ra chợ Bà Điểm ăn sáng và tâm sự một lúc thật lâu. Được biết ông không còn đi dạy được nữa và đang thất nghiệp, hoàn cảnh rất khó khăn, tôi rất là bùi ngùi. Không bao lâu sau thì tôi đi vượt biên. Trước khi đi, tôi có gặp ông lần chót và nói thật cho ông biết là tôi sắp đi vượt biên. Tôi đã gởi ông một bao thư biếu ông ít tiền trước khi đi. Thú thật ngoài cách này ra tôi không còn biết cách nào khác có thể giúp ông được, vì thực tế hoàn cảnh ông lúc đó khó khăn quá. Từ đó tôi mất liên lạc với ông luôn.
Sau khi định cư ở Mỹ, tôi đã nhiều lần đăng tìm ông trên internet nhưng không ai biết tin ông ở đâu cả. Khi tôi về VN lần đầu năm 2001, tôi đi lên Hóc Môn Bà Điểm hy vọng kiếm được ông, nhưng chỉ biết ngậm ngùi khi đứng tại Bà Điểm mà không nhận ra đâu là đâu nữa, tất cả đều thay đổi hoàn toàn. Hỏi thăm cũng không ai biết. Tôi chỉ đành buồn bã trở về và chỉ biết thầm cầu xin cho ông luôn được bình an mà thôi.

Trích: www.phodatron.com