Lão Thày Bói

4 – Khách Lạ


Khách lạ 
 

Từ ngày ông lão bỏ đi, Mơ có cảm tưởng đời sống mình như chậm lại, thời gian dài ngoẵng ra, không gian hình như ngày càng thênh thang hơn. Hiển nhiên, Mơ rất buồn. Nàng nhớ ông, nhiều lần rấm rứt khóc thầm vào những lúc chạng vạng tối. Hình ảnh ông ngồi bên ngọn đèn lù mù đọc những trang kinh cứ in sâu trong tâm nàng như một dấu ấn chẳng thể nhạt phai…. 

Dù ông đã bỏ đi và chẳng biết bao giờ gặp lại, nàng cũng vẫn giữ thói quen sáng sớm ra hồ ướp trà vào các búp sen lấy hương, phòng khi ông trở về. Khoảng thời gian đầu ngày trong những buổi sáng tinh sương ấy là khoảng thời gian Mơ thích nhất. Các hạt sương còn long lanh đọng trên những cành lá, đêm vẫn còn quyến luyến chưa muốn rời ngày. Nhưng chim rừng đã bắt đầu líu lo cất tiếng hát chào đón một ngày rất tinh khôi. Mơ bắc lên bếp một ấm nước, bỏ một ít trà sen cùng hai tách nhỏ uống trà rồi đem cả bộ ra hồ. Nàng thong thả rót trà ra hai tách nhỏ, vừa uống trà, vừa tưởng tượng ông lão cũng có mặt và cùng uống với nàng…. "Mời ông dùng trà con mới ướp hương sen…" Mọi động tác thi vi của nàng làm thong thả như một người cực kỳ nhàn rỗi, bắt đầu hưởng trọn vẹn hương vị của một đêm tàn đang bịn rịn chia tay với ngày mới… Nàng nhớ ông, nỗi nhớ rất nhẹ nhàng, mênh mang, loang dần trải dài theo ký ức. Từng ngụm trà nóng, thơm phà theo hơi thở, quyện với màn sương lảng bảng chung quanh…. Cũng hên, công việc hằng ngày của nàng khá nhiều, từ làm rẫy, trồng rau, hái trà, phơi khô v.v.. Lại kiêm thêm vụ niệm Phật mỗi tối nên dần dần, nỗi nhớ thương cũng tạm nguôi ngoai… 

Một buổi sáng. 
Khi ánh nắng sớm mai vừa chênh chếch ló lên gần tới bụi cây hồng. Mơ đang loay hoay làm rẫy ở mảnh vườn con bên hông, thì bỗng thấy một bóng người đi như bay về hướng nhà mình. Gã khoác trên người một tấm poncho đen, hai tay vung vẫy, trông xa tựa như hai cái cánh đang vỗ nhịp nhàng. Thoáng chốc đã thấy gã vào tới tận sân nhà. Giọng ồm ồm, gã nói lớn đầy khích động: 

"Lão ấy đâu rồi?" 

Giọng nói phá tan không gian tịnh mịch. Một vài chú chim ngơ ngác, sợ hãi vụt cất cánh bay đi. Nghe tiếng người, Mơ giật mình nhìn ra mới biết nhà vừa có khách lạ ghé qua… Nàng vội quẹt hai cánh tay đầy bụi đất vào vạt áo, lật đật bước ra chào. 

Đó là một người đàn ông trạc trung niên, tướng mạo thật kỳ dị. Khuôn mặt gã từa tựa như hình tam giác. Phần trán nở rộng rồi teo dần xuống phía cằm. Điểm đặc biết nhất là các cơ quan trên mặt (mắt, mũi, miệng) đều xúm xít, túm tụm lại một chỗ làm cho vầng trán đã rộng lại càng thêm rộng. Hai má bớt ra phía sau, cánh tai nhỏ dán sát với da đầu. Tấm poncho rộng thùng thình phủ từ cổ xuống quá đầu gối, chỉ thò ra ngoài hai bàn tay và hai cẳng chân khẳng khiu, lều khều. Nhìn thoáng, trông gã từa tựa như một loài chim lạ nào đó. 

Mơ há hốc miệng nhìn gã như bị thôi miên. Bốn mắt nhìn nhau. Một thoáng. Gã lập lại câu hỏi lúc nãy – vẫn là câu hỏi trống – nhưng giọng đã bắt đầu bớt khích động và trùng xuống một nấc: 

"Lão ấy đâu rồi?!" 

Mơ rụt rè hỏi lại: 

"Có phải….đại…nhân muốn… hỏi thăm thày tôi?" 

"Ta hỏi lão thày bói đâu rồi?" 

"Thày tôi đã bỏ đi từ hai, ba tháng trước. Xin hỏi…. Đại nhân… là ai thế?" 

Gã kêu lớn: 

"Hả?…. Mi nói sao? Lão ấy bỏ đi rồi hả?" 

Niềm thất vọng ánh lên khoé mắt, miệng gã méo xệch đi như mếu, trông lại càng dị dạng hơn. Lão dẫm bành bạch hai bàn chân khẳng khiu xuống đất rồi ré lên khóc lớn: 

"Ta biết ngay mà!Ta biết ngay mà! Rõ ràng lão ấy tránh ta. Lần nào ta đến tìm, lão cũng đều bỏ đi trước đó vài ngày hay vài tháng rồi….hu…hu…hu…" 

Thấy lão khóc lóc thảm thiết quá, Mơ đâm ái ngại. Nàng rụt rè an ủi: 

"Đại nhân không nên bi thương quá thế. Cháu nghĩ, thể nào một ngày kia Đại nhân sẽ gặp được thày cháu mà…" 

Nghe Mơ nói vậy. Gã lập tức ngừng khóc. Nhìn Mơ với đôi mắt ráo hoảnh, tựa như chưa từng khóc bao giờ: 

"Ý mi muốn nói, lão sẽ về đây lại?" 

"Cháu…không biết…. Vì thày cháu có thể về, mà cũng có thể chẳng trở về…" 

"Đấy! Mi cũng lại nói giọng ỡm ờ y hệt như thày mi. Y hệt như cái giáo lý mà lão ấy đã vất vào mặt ta gần hai mươi năm trước. Hai mươi năm, ta ngồi suy nghiệm muốn vỡ óc mà chỉ nhìn thấy lờ mờ…." 

Sau vài câu đối thoại. Mơ nhận ra rằng, tuy gã có một hình tướng dị dạng, nhưng tâm hồn như trẻ, như già. Hình như những gì hắn nói, hành động đều hồn nhiên móc trực tiếp từ cái tâm mênh mang ấy. Mơ lại rụt rè mời: 

"Thôi thì Đại Nhân đã đến đây rồi. Xin mời quá bước vào nhà dùng chén trà đã…." 

Gã yên lặng theo chân Mơ bước vào hẳn gian trước, nơi có đặt một chiếc bàn nhỏ bằng trúc và hai chiếc ghế. Mơ gợi chuyện: 

"Chẳng hay quý danh đại nhân là chi và gặp thày cháu trong trường hợp nào thế? " 

" Ta tên là Vô-Khứ-Vô-Lai-Duy-Hữu-Hiện-Tại Đại Bà La Môn

Thấy Mơ ngớ ra với đám từ loảng xoảng gã vừa phun. Gã lại phải dài dòng giải thích: 

" Thường những hành giả Bà La Môn chúng ta hay tự đặt cho mình một danh xưng dựa trên chủ thuyết mà mình đang tu tập. Nên đôi khi có những tên dài thậm thượt như một tờ kinh. Ta là một đại hành giả Bà La Môn chủ trương không có quá khứ, không có vị lai chỉ tin vào hiện tại mà thôi… (thở dài) Chính vì cái tên dài lòng thòng này mà ta mới gặp được thày người đó…" 

" Thế Đại….Bà La Môn (nàng đổi lối xưng hô thay vị gọi là Đại Nhân) gặp thày cháu trong trường hợp nào mà thở dài có vẻ…bi ai thế?" 

"Thì có gì đâu. Trước đó, ta rất hãnh diện và thích chí với danh xưng và chủ thuyết của ta. Đi đâu, tới chỗ nào, ta cũng đều tranh luận và dùng đủ mọi lý luận thế gian để bẻ tất cả những lý luận ngoại đạo khác. Dĩ nhiên ta chưa bị thua ai bao giờ. Cho đến một hôm…." 

Mơ im lặng hồi hộp lắng nghe. Nàng rót trà vào chén cho gã, nhìn gã chờ đợi. Gã ngừng lại một hồi, như để nhớ rõ lại mảnh quá khứ của hai mươi năm trước. Giọng buồn buồn, gã tiếp: 

Cho đến một hôm… Đó là một buổi chiều gần tàn. Lúc đó ta cảm thấy đói bụng, bèn xuống chợ kiếm một mua một món gì đó để nhét vào bụng. Đang đi lơ ngơ thì bỗng dưng ta vấp phải một cây gậy trúc bị té đùng… Chẳng hiểu sao cái cú té của ta mạnh đến thế, nó làm ta dập mặt xuống đất, súyt bể cả mũi…. Nhìn ra, thấy thầy người đang nhìn ta chăm chú, trên tay lão còn cầm thanh trúc nhịp nhịp… Cáu sườn, ta lồm cồm ngồi dậy, hét toáng lên: 

"Lão làm cái gì thế? Sao đương không lại khèo cho ta ngã súyt dập mũi hử?" 

Thày ngươi vẫn nhịp nhịp cây gậy trúc xuống mặt đất, khuôn mặt tỉnh bơ, hỏi lại: 

" Mi mới thật là người ăn nói hồ đồ. Ta gạt cho ngươi té hồi nào?" 

Ta càng cáu tiết khi thấy thày ngươi nói dối một cách trắng trợn đến thế, nên vỗ ngực bảo rằng: 

" Tên ta là Vô-Khứ-Vô-Lai-Duy-Hữu-Hiện-Tại Đại Bà La Môn. Đại Bà La Môn ta không thèm nói dối như lão đâu nhé. Rõ ràng hồi nãy chính lão đã khoèo ta té bằng cây gậy trúc này!!" 

Nghe xong, thày mi cười lên khanh khách: 

"Chà… Đại hành giả Bà La Môn Vô Khứ Vô Lai ư? Nếu ngươi chấp không có quá khứ thì cái hành động "hồi nãy" của ta cũng là không có. Sao ngươi lại ăn nói hồ đồ mà dám lộng ngôn đổ cho ta là người nói dối? Chính ngươi mới hồ đồ, mù mịt, ăn nói chẳng có trước sau…" 

Nói rồi. Lão lại nhịp nhịp cây gậy trúc. Nhanh như chớp, lão vung cây gậy lên và phang thêm cho ta mấy cú nữa… 

Đau quá, ta nhảy lên, la oai oái: 

"Đó, rõ ràng là lão vừa đánh ta thêm. Chẳng chối cãi vào đâu đấy nhá!" 

Thày mi cười khành khạch: 

"Cái hành động "vừa" đánh đó nó đã chạy tuốt vào quá khứ rồi mà sao mi cứ lôi thôi cãi cọ mãi? Nếu ngươi đã chấp nhận là có quá khứ thì sao không đổi tên, cởi áo, về nhà đuổi vịt cho vợ có hơn không?" 

Nghe thày mi nói thế, ta như người vừa bị một kẻ nào đó đập tan hoang những gia tài kiến thức mà ta có từ xưa tới giờ, ta có cảm tưởng mình bị lột trần, như một người phá sản nhẫn đến không còn tới một đồng xu nhỏ. Ta nghe một làn hơi lạnh toát chạy thằng từ gáy dọc theo sống lưng làm ta bàng hoàng như muốn ngất đi. Ta cứng họng. Thừ mặt một lúc nhưng vẫn cứ cãi bướng: 

"Ta chỉ không chấp nhận cái "quá khứ có kiếp trước", và không chấp nhận có "kiếp vị lai" thôi. Còn những hành động nào của đời này, ta còn nhớ được thì dĩ nhiên phải chấp nhận chứ!" 

Thày mi gật gù: 

"Hóa ra là thế! Như vậy mi có thật nhiều "quá khứ". Cái cú ngã hồi nãy là một quá khứ. Cái trận đòn mới xảy ra cũng là một "quá khứ". Là "Những-quá-khứ-nhớ-được" (Tắc lưỡi) Chậc! Chậc…. Nói như thế lại càng không ổn. Vì những gì ngươi nhớ được thì mới gọi là quá khứ, còn những gì cóc nhớ được thì tất cả những thứ đó đều không có… Vô lý! Thậm vô lý! Này nhé. Nếu hồi nãy ta đánh ngươi mạnh tay hơn chút nữa tới độ ngươi bị ngất đi, thì chắc lúc đó không nhớ được rồi, nên hành động đánh kể như không có. Tới khi tỉnh dậy, thân thể vẫn đau nhừ thì mi giải thích ra sao? Có chăng? Không có chăng? Lại nữa, giả dụ đêm qua mi nằm mộng, lấy vợ, sinh con v.v.. Sáng thức dậy còn nhớ rành rành thì mi cho giấc mộng ấy là thực chăng? Nếu là thực thì vợ đâu? Con đâu? (thở dài). Ôi, con người cứ điên đảo mãi với chính những ngôn từ mà họ đã bày vẽ… 

Thày ngươi càng nói, ta càng mù mịt. Nhưng trong cái mù mịt ta lại thấy thấp thoáng những điều gì vừa kỳ, vừa diệu. Ta đứng ngẩn ngơ, quên mất cái đau do trận đòn lão đánh hồi nãy. Tiếng lão lại cất lên, lần này như một lời chỉ dạy: 

"Ta có mấy câu kệ. Ngươi nghe xong rồi ráng mà suy ngẫm. Khi nào hiểu được một phần nhỏ thì hãy đến tìm ta: 

"Hiện tại thành quá khứ, 
Quá khứ vòng vị lai…. 
Ba thời đều dung thông vô ngại.."
(*)
 

Nói rồi, lão bỏ đi. Còn ta ở lại một mình, ráng lẩm bẩm câu kệ lão vừa đọc. Chợt giật mình, phóng tầm mắt về hướng lão thày bói la oai oái: 

"Không. Không, lão không thể bỏ đi được. Ta còn rất nhiều điều để hỏi…" 

Nhưng trễ quá rồi, bóng lão đã biệt tăm ở cuối đường… 

Từ đó. Ta ôm lấy ba câu kệ thày mi để lại như một mũi tên đâm vào trái tim làm ta nhức nhối đêm, ngày. Rút ra chẳng được, mà để yên đó cũng chẳng xong. Ta tư duy một cách khổ đau. Một vài lần, ta chợt có cảm giác mình hiểu được phần nào thâm ý của bài kệ, và có cảm tưởng rằng, pháp giới thật trùng trùng biến hiện, hình như nó được thành lập bởi một chuỗi dài của nghiệp lực khởi lên liên miên vô tận. Nhưng những ý nghĩ ấy chỉ loé lên như ánh chớp trong đêm tối mịt mùng. Sau đó, ta lại rớt vào trong những ý tưởng nông cạn, loay hoay với mớ ngôn từ giữa Hữu và Vô… Nhiều lần, khổ sở quá, không thày dạy, không người hướng dẫn, cũng không có lấy một tờ kinh để đọc. Muốn phát điên lên. Ta đâm oán trách thày ngươi, sao lại chỉ để cho ta có mấy chữ và bỏ đi như thế? Mấy lần, ta đi kiếm thày mi, nhưng không gặp. Chắc cơ duyên chưa chín mùi. Lần này cũng thế. Thày ngươi vẫn không chịu gặp ta… 

Càng nói, gã càng thổn thức. Đôi vai gã rung rung. Lần này, Mơ thấy những giọt nước mắt trong vắt như thủy tinh rơi rớt đầy trên má gã… 

Không gian rơi vào một sự yên tĩnh lạ lùng. Mơ có thể nghe rõ được tiếng lá xào xạc qua những cơn gió và hơi thở của mình cùng tiếng nấc của vị Bà La Môn. Nàng chẳng biết nói gì hơn là im lặng và chia sẻ. Một lúc, cơn xúc động cũng đã nguôi ngoai. Gã uể oải đứng dậy nói với Mơ như một lời cầu xin khẩn thiết: 

"Suốt đời ta chỉ mong gặp được thày ngươi thêm một lần. Một lần thôi, có chết ta cũng đã mãn nguyện lắm rồi!" 

"Chắc chắn rồi Đại Bà La Môn sẽ được gặp thày cháu. Vì cháu biết rõ một điều rất thật, hiển nhiên như hơi thở. Thày cháu chẳng bỏ ai bao giờ!" 

"Vậy thì rất tốt. Ít nhất, trong cuộc sống của ta còn có một niềm tin.." 

Nói rồi, gã trở bước. Bóng gã nhòa dần theo những cơn nắng quải. Xa xa, hình như có tiếng một loài chim đang hót đâu đây… 

(Còn tiếp) 

(*) Kệ trích trong kinh Hoa Nghiêm, viết theo trí nhớ của TG