Lời thề trước miễu

Tại Sài Gòn, ở phía sau mả của Thánh Gầm, có một cái đường hẻm nhỏ, hai bên có hai dãy phố đâu mặt với nhau, phố thấp thỏi chật hẹp, cửa và vách ngăn bằng ván, mà cho mướn mỗi căn mỗi tháng tới sáu đồng. Ai cũng than tiền phố mắc, mà phố ở đều hết, không bỏ trống căn nào. 

Cô Đào ở một căn bên phía mặt trời lăn với hai đứa con. Thằng Khoa năm nay đã được mười tuổi, còn con Lý thì mới nên bảy tuổi, nó ở nhà với mẹ, cô Đào có đi chợ thì nó coi nhà được. 

Một đêm, tối bảy giờ, cô Đào đốt một cái đèn dầu lửa để giữa bộ ván nhỏ rồi cô lấy đồ may đem lại ngồi gần đèn mà may. Thằng Khoa cũng lấy tập vở đem lại đèn rồi giở ra mà học. Con Lý thì ngồi tại cửa ngó ra đường hẻm mà coi sắp nhỏ trong xóm trửng giởn. 

Cô Đào bây giờ cô ốm, hai má hung vô, cặp mắt có khoen. Cô mặc một cái quần vải đen với một cái áo bà ba vải trắng, quần áo tuy cũ, nhưng mà sạch sẽ. Thằng Khoa ngồi học một lát nó liếc mắt ngó má nó một cái, mà lần nào nó ngó cũng thấy má nó thở ra, tuy chăm chỉ ngồi may, song mặt mày buồn lắm. 

Chị bán chè đậu đen gánh gánh có treo lồng đèn, chị đi vô đường hẻm rao tiếng nghe lảnh lót. Hai ba đứa nhỏ áp lại mua chè mà ăn. Chị để gánh ngay trước cửa cô Đào ngồi múc chè mà bán. 

Con Lý ngồi coi sắp nhỏ ăn, chắc là nó thèm, nên ngó một hồi rồi chạy vô đứng một bên má nó mà nói: "Má cho con một đồng xu đặng con mua chè đậu đen ăn chơi má." 

Cô Đào cứ ngồi may, cô không ngó con, mà cô đáp: "Thôi, con. Mới ăn cơm hồi chiều mà đói khát gì. Để dành xu rồi sáng mai mua khoai lang mà ăn." 

Thằng Khoa thấy em nó thất vọng nên buồn, nó chịu không được, nó mới móc túi lấy một đồng xu đưa cho em nó và nói: "Qua cho em đồng xu đây. Em mua chè ăn đi." 

Con Lý hớn hở, lấy đồng xu rồi chạy ra đường hẻm. 

Cô Đào ngó Khoa mà hỏi: 

– Con làm giống gì mà có xu? 

– Hồi sớm mơi con đi học, má cho con một đồng xu đặng ăn bánh. Con không ăn nên con để dành đó. 

– Con đi học về trưa quá. Con không ăn bánh đói bụng con chịu sao nổi. 

– Không đói đâu. Sớm mơi má không cho tiền cũng được nữa. 

Cô Đào nghe con nói như vậy thì cô ứa nước mắt. 

Khoa thấy má nó buồn thì nó suy nghĩ rồi hỏi: 

– Sao ba đi đâu mất mấy tuần nay, ba không về nhà vậy má? 

– Ối thôi! Còn ba bốn gì nữa mà hỏi. 

– Con muốn ra sở con đón ba, đặng con biểu ba về quá. 

– Thôi, không về đâu mà đón. Đã bỏ mẹ con mình rồi còn đón làm gì. 

– Để con đón con năn nỉ cho ba về. 

– Con làm lộn xộn ba con giận đánh con chết chớ về. 

– Con năn nỉ mà đánh giống gì. Con biết chỗ ba làm, ngoài đường Catinat chớ đâu. 

– Thôi, con đừng có làm lộn xộn, để thử coi chừng nào mới về mà. 

Con Lý ăn chè rồi nó trở vô lấy ve nước lạnh rót ra ly mà uống. 

Thằng Khoa học đã thuộc bài, nên nó xếp vở lại mà cất, rồi dắt em nó đi ra ngoài đường mà chơi. 

Bây giờ cô Đào ngồi mai có một mình với ngọn đèn. Cô đương suy nghĩ việc nhà, nỗi chồng bỏ, nỗi con thơ, nỗi may mướn không đủ tiền trả tiền phố. Thình lình cặp rằn Thới, là người ở một trong một căn phố phía bên kia, anh bước vô cửa tay có ôm một gói đồ. Cô đào ngước lên ngó thấy, thì chào hỏi rồi mời khách ngồi. 

Cặp rắn Thới ngồi cái ghế dựa vách, để cái gói trên bàn rồi hỏi: 

– Lóng này cô có đồ may nhiều hôn cô Hai? 

– Đồ có cũng đử may. 

– Vậy mà tôi tưởng cô không có đồ may nên tôi mua lụa trắng đặng cô may cho tôi một đây. 

– Được. Mà gấp hôn? 

– Không gấp gì. Cô muốn chừng nào tôi lấy cũng được, tự ý cô. 

Cô Đào nghe lời nói có hai ý nghĩa như vậy thì cô phiền lắm, nhưng vì phận nghèo khổ phải làm ngu đặng kiếm tiền nuôi con, nên cô bơ bơ mà đáp: 

– Tôi mắc có đồ gấp một chút, nếu tôi lãnh đồ của anh thì chừng một tuần lễ tôi mới may rồi. 

– Được. 

– Đâu anh đưa hàng cho tôi coi. 

Cặp rằn Thới lấy cái gói hồi nãy mà trao cho cô Đào. Cô đem lại gần đèn mở ra mà coi. Cô bóp xấp lụa, lấy thước mà đo rồi nói: 

– Anh mua dư. Có lẽ cắt bộ đồ rồi còn dư tới năm sáu tấc. 

– Tôi không có vợ nên tôi không hiểu việc mua hàng lụa. Tôi mua nhầu, thà là dư, chớ nếu thiếu thì khó lắm. Cô cắt đi, nếu có dư bao nhiêu, tôi cho cô đặng cô may cho con nhỏ. Hàng đó tốt hôn cô? 

– Không được tốt lắm, có hơi mỏng một chút. 

– Tôi không hiểu. Bậy quá, phải tôi dè như vậy, tôi đưa tiền cậy cô đi mua giùm cho tôi xong hơn. Cô may một bộ đồ cô ăn bao nhiêu tiền công vậy? 

– Anh cho tám cắc cũng như người ta. 

– Cô ăn có tám cắc hay sao? Bộ đồ tôi bận trong năm ngoái, tôi mướn họ may họ ăn tôi tới một đồng, mà cô phải may cho chắc nghe hôn. Nếu cô may thưa thớt, sau nó sút chỉ tôi bắt đền cô a. Tôi không có đờn bà, làm sao nhíp vá cho được. 

– Tôi may chắc lắm, không sút đâu. Sáng mai anh đưa một cái áo với một cái quần kiểu đặng tôi đo tôi cắt. 

– Cô đo tôi đây được hôn? Đo người có lẽ chắc hơn đo áo quần chớ. 

– Tôi không quen đo như vậy, nên đo không được. 

– Tưởng cô chịu đo như vậy thì tiện hơn. Cô không chịu, thôi để mai rồi tôi sẽ đưa đồ kiểu cho. Mấy tháng nay sao ít thấy thầy Hai vậy cô Hai? 

Cô Đào mở tủ áo phía trong mà cất gói hàng rồi cô lại chỗ ngồi may hồi nãy mà ngồi mặt buồn xo, không trả lời câu hỏi của anh cặp rằn hỏi. 

Cặp rằn Thới chúm chím cười rồi hỏi nữa: 

– Thầy không về nữa, vậy mà thầy có cho cô tiền đặng nuôi sắp nhỏ hay không? 

– Mấy tháng trước thì có đưa mỗi tháng năm mười đồng đặng tôi trả tiền phố. Gần hai tháng nay biệt mất, không thèm bước chưn về đây nữa, nên có cho tiền gạo nữa đâu. 

– Nếu vậy làm sao cô nuôi con? 

– Tôi may mướn kiếm tiền đắp đổi cho qua ngày chớ biết làm sao. 

– Cô may vậy mà đủ ăn hôn? 

– Không đủ cũng phải ráng làm cho đủ. 

– Khi nào cô có thiếu hụt, cô cho tôi hay, tôi sẽ giúp cho. 

– Cám ơn anh. Tôi đâu dám. 

– Anh em lối xóm mà ngại nỗi gì. Tôi không có vợ con, mỗi tháng lương tới ba mươi đồng, tôi xài có hết đâu. Nếu cô cho phép tôi giúp cô chút đỉnh mà nuôi cháu, thì tôi vui lòng lắm. 

– Cám ơn anh, ai có phận nấy, giúp như vậy sao được. 

– Tôi thấy phận cô, tôi thương quá. 

– Xin anh đừng có nói như vậy, không nên. Phận tôi có chồng, có con, anh chẳng nên nói chơi. 

– Tôi nói thiệt chớ. Có chi đâu mà không nên. 

Cặp rằn Thới và nói và cười, mắt lại liếc ngó cô Đào mà đưa tình. Cô lấy áo cầm lên mà may, không muốn nói chuyện nữa. Tuy vậy cặp rằn Thới không chịu về, cứ ngồi ngó cô rồi nói: 

– Cô khác hơn người ta quá. 

– Tôi cũng như thiên hạ, chớ khác giống gì. 

– Chồng bỏ mà cô không phiền, không giận, như vậy đó không phải là khác hơn người ta hay sao? 

– Tôi cũng biết giận vậy chớ. Có phải tôi bằng đá hay sao mà không biết giận. 

– Cô biết giận, mà sao mấy tháng nay cô êm ru? Chồng mê vợ bé nó bỏ, ta phải làm sao, chớ nhịn thua như vậy sao chịu được. 

– Người ta ở không phải thì thôi, làm rầy làm rà thiên hạ thêm chê cười chớ có ích gì. Tôi có con tôi lo làm mà nuôi con tôi; ai giỏi đi đâu thì đi, tôi không cần. 

– Cô nói như vậy sao được. Việc gì cũng vậy, phải dứt một lần cho rồi đi chớ. Ta làm một trận cho kịch liệt, rồi rứt ra đặng lấy chồng khác có chỗ nương dựa mà nuôi con. Ở đất Sài Gòn này, đờn bà ở một mình, lại nuôi tới hai đứa con, có phải dễ gì đâu. 

– Thôi, tôi chạy ngay. Lỡ có chồng một lần tôi đã thất kinh rồi, tôi không dám lấy chồng nữa đâu. Huống chi đờn bà may rủi gì cũng một lần mà thôi. Có lẽ nào chồng còn sờ sờ đó, lại đi lấy chồng khác. 

– Chồng còn đó mà nó bỏ mình thì mình đi lấy chồng khác, có hại gì. Hễ ông ăn chả, thì bà ăn nem, dại gì mà nhịn thèm. 

– Xin anh đừng có bày việc quấy. 

– Ở đời thì phải hưởng cái thú của đời. Tôi thấy có nhiều người sang trọng hết sức, chồng họ không ăn chả, mà họ lại ăn nem hoài, có ai nói họ làm quấy đâu. 

– Họ làm sao họ làm, phân bì với họ làm chi. Phận tôi nghèo, dầu chồng tôi hết thương, nó bỏ dứt tôi đi nữa, tôi cũng cứ lo nuôi con, tôi không thể làm quấy. 

– Cô ở theo đời xưa quá!… Thầy Hai ở với cô như vầy, mà cô còn tính thủ tiết với thầy chớ. Cô biết thầy mê con nào hay không? 

– Thầy có nói đâu mà biết. 

– Thầy nhè thầy mô "con Hai Cần Giuộc" mới ghê chớ! Con đó nó giết anh hùng không biết bao nhiêu rồi. Nó xài phí như trời. Thầy ăn lương bao nhiêu mà thầy dám cặp với nó không biết. Cô biết con Hai Cần Giuộc hôn? 

– Tôi có đi đâu mà biết. 

– Nó đẹp lắm, lại nhỏ tuổi hơn thầy bộn. Cô muốn biết, cô lên nhà thì cô gặp, có khó gì. Thầy dọn phố ở với nó, phía sau chợ Tân Định chớ đâu. Hôm trước tôi thấy thầy ở trong nhà đi ra với nó. Ở đường Faucanlt, số nhà 415, phố đó chắc cho mướn trên hai chục một tháng, chớ không ít đâu. 

– Ở đâu thì ở, tôi không cần biết làm chi. 

– Cô nói xuôi xị như vậy sao được. Cô ở phố đường hẻm, mỗi tháng có sáu đồng, lại phải ngồi may tối ngày đặng lấy tiền nuôi con. Còn con vợ bé của thầy ở phố trên hai chục, lại thoa son dồi phấn, đánh áo đánh quần thả đi chơi. Thầy đãi cô như vậy, thiệt là kỳ quá. Tôi là người dưng, mà tôi thấy trái đời tôi phát ghét. Tôi như cô tôi phá cho tan hoang hết thảy. Thầy dám giết cô hay sao mà cô sợ. 

– Không phải sợ. Đương hồi mê thì để cho thầy mê, nói làm chi. Giỏi nhất chừng ít tháng thầy bỏ nghề, rồi thầy cũng trở về đây chớ gì. 

– Thiệt tôi không hiểu lòng dạ của cô nổi. Thế khi cô là Phật Bà hay sao, nên mới từ bi quá như vậy chớ. 

– Ở đời, nếu mình biết xét, thì mình không nên hờn giận chi hết, cần gì phải Phật mới không biết giận. 

Thằng Khoa với con Lý đi chơi về. Chúng nó thấy cặp rằn Thới ngồi nói chuyện, thì chúng nó ngồi bên ván cứ ngó anh cặp rằn trân trân, làm cho anh khó chịu, nên cáo từ mà về, hứa sáng mai sẽ đưa đồ kiểu. 

Hai đứa nhỏ ngồi chơi một lát rồi dắt nhau vô buồng ngủ. 

Cô Đào đóng cửa lại cho kín đáo, rồi ngồi may nữa. Một mình với một cái đèn, cô ngồi chăm chỉ may hoài, coi bộ không biết mỏi. Tuy vậy mà cô may một hồi lâu rồi cô suy nghĩ thế nào không hiểu, chỉ thấy cô chảy nước mắt, cô phải lấy vạt áo mà lau. Cô bưng đèn vô buồng mà rọi hai đứa con, thấy chúng nó nằm ngủ phê phê, hơi thở khỏe, miệng như cười thì cô bớt buồn, nên trở ra may nữa, may cho đến chừng đồng hồ đàng tiệm ở đầu đường hẻm gõ hai giờ, rồi cô mới chịu dẹp đồ, tắt đèn đi ngủ. 

Một buổi sớm mơi, thằng Khoa ôm sách vở đi học được một lát thì cô Đào mở bét cửa lớn, cửa sổ hết thảy ra, rồi lấy chổi mà quét nhà, quét ngoài quét trong, đâu đó đều sạch sẽ. 

Con Lý rửa mặt rồi, má nó mới đưa cho nó một cái quần vải đen với một cái áo vải trắng có bông xanh mà biểu nó thay, lại lấy lược chảy tóc cho xuôi. Con nhỏ tuy mặc đồ vải bô, song nhờ nước da trắng, gương mặt tròn, tóc hớt bôm bê nên coi rất ngộ nghĩnh.

Thay đồ rồi nó xin phép ra đường hẻm mà chơi. Cô Đào gặc đầu và dặn: "Ở trong đường hẻm mà chơi, chớ đừng có ra lộ, nghe hôn con. Xe cộ lung lắm". 

Cách chừng nửa giờ đồng hồ, con Lý chạy về kêu mà nói: "Má, có ai hỏi ba đây nè, má". 

Cô Đào đương ngồi đo hàng, sửa soạn cắt áo, cô nghe con kêu, cô ngước mặt ngó ra cửa, thì thấy có một người đờn ông, đầu đội nón trắng, mình mặc một bộ đồ Tây bằng kaki vàng, đứng ngoài dòm vô nhà. Người ấy thấy cô, thì cười và bước vô và kêu: "Chị Hai!" Cô Đào ngó sửng rồi la lớn: "Ủa! Em! Dữ ác hôn, đi đâu mà biệt tích mười mấy năm nay, chị trông đợi hết sức không thấy trở về, chị tưởng em đã chết rồi chớ". Cô và nói và buông cây thước, bước chưn xuống đất, nước mắt rưng rưng. 

Người này là Lân, em ruột của cô Đào vì trong dòng chị em đứng về thứ ba, nên từ khi lớn rồi thì xưng là Ba Lân. 

Ba Lân nghe chị nói thì cười, để cái nón trên bàn rồi kéo ghế mà ngồi và đáp: "Em chưa chết đâu chị… Phải, em ra đi đến năm nay là chẳng mười hai năm". 

Cô Đào bước lại dọn dẹp đồ trên bàn và nói giọng rất buồn thảm: 

– Em đi biệt mất, ở nhà má nhớ em, má buồn rầu hoài rồi má chết, mà cũng không thấy em! 

– Em hay rồi. Em đi được năm năm rồi má mất. 

– Sao em hay? 

– Em về ở dưới Mồng Gà mấy bữa rày, thím Cai tuần Tam thuật các việc ở nhà cho em nghe, không sót chỗ nào hết. Em có đi viếng mả của má nữa. Chị để má nằm gần cha thì tiện lắm. 

Cô Đào nghe nói vậy thì bước lại ngay ván mà ngồi ngay mặt em đặng nói chuyện cho dễ. Mà cô chưa kịp nói, thì có một người chà và bước vô, không lột nón, không chào người trong nhà, lại nói nghinh ngang rằng: "Ê! Đóng tiền phố. Tháng trước còn thiếu một đồng. Bây giờ phải đóng bảy đồng. Đóng đủ, không được thiếu nữa". 

Cô Đào móc túi lấy ra một đồng bạc giấy với một mới bạc cắc. Cô điếm bạc cắc được hai đồng hai. Cô lấy hai cắc mà bỏ lại vô túi rồi đưa đồng bạc giấy với hai đồng bạc cắc cho người chà và mà nói. 

– Bữa nay tôi chưa có đủ tiền. Anh làm ơn lấy ba đồng đây, cũng như tôi trả một đồng thiếu tháng trước, và tôi trả tháng này được hai đồng. Còn thiếu bốn đồng nữa, xin anh huỡn cho tôi chừng một tuần lễ, đợi họ lấy áo rồi tôi có tiền tôi trả cho anh. 

– Không được. Phải trả đủ. Không cho thiếu nữa. 

– Tội nghiệp mà, anh. Chớ chi tôi có đủ tiền thì tôi trả cho anh, để thiếu làm gì. 

– Tháng nào chị cũng thiếu hoài. Thôi, dọn đi chỗ khác mà ở, không cho ở đây nữa. Mai chị phải dọn đi. Nếu chị không dọn, Trưởng tòa lại đuổi, chị phải chịu sở phí nữa, biết hôn? 

Con Lý nghe người chà và nói lớn tiếng, lại thấy huynh tay, thì nó sợ, nên lật đật lại đứng một bên má nó. 

Ba Lân mở nút áo, móc túi trong mà lấy ra một cái bóp thiệt lớn và óc nóc rồi hỏi người chà và: 

– Còn thiếu bao nhiêu nữa mà ào ào dữ vậy? 

– Bốn đồng nữa. 

– Dữ hôn! Đưa biên lai đây. 

Ba Lân lấy bốn đồng bạc mà đưa cho người chà và rồi lấy biên lai trao lại cho chị. Người chà và lấy tiền rồi thì đi, không thèm chào ai hết. 

Ba Lân ngó chị mà nói: "Chị ngồi đặng em hỏi thăm một chút". 

Cô Đào ngồi lại trên ván, con Lý theo ngồi một bên. 

Ba Lân hỏi: 

– Chị nghèo lắm hay sao? Vậy mà em về dưới họ nói ảnh làm việc ăn lương lớn lắm. 

– Ăn lương lớn thiệt chớ, một tháng tới tám mươi chớ phải ít ỏi gì. 

– Vậy mà sao chị nghèo, ở phố có mấy đồng bạc một tháng mà trả không nổi? 

– Việc nhà của chị buồn lắm, em ơi! Cha sắp nhỏ mê vợ bé, nó bỏ mẹ con chị mấy tháng nay bơ vơ, nó có cho bạc tiền gì nữa đâu. Chị phải may mướn kiếm tiền mà nuôi con, bởi vậy nên thiếu trước hụt sau, cực khổ hết sức. 

Cô Đào nói tới đó rồi khóc. 

Ba Lân hỏi nữa: 

– Phải anh Hai là thầy giáo Bính, hồi trước dạy tại trường Cần Giuộc đó hay không? 

– Phải a. Mà hồi cưới chị đó thì đã đổi xuống trường chợ Trạm rồi. Sao em biết? 

– Em nghe thím Cai tuần nói. Em nhớ ngày em đi đó, em đón chị tại mả cha. Chị em ngồi nói chuyện tới sáng rồi dắt nhau đi lên chợ. Đi ngang trường học, thầy giáo Bính kêu chị mà mua bánh đó chớ ai. 

– Phải. Em nhớ giỏi quá. 

– Em không quên việc gì hết. Chị cùïng ảnh mười mấy năm nay sinh được mấy đứa con?

– Có hai đứa. Con nhỏ này, với thằng lớn, năm nay mười tuổi, nó đi học chưa về. 

– Con cháu nhỏ đây được mấy tuổi? 

– Nó mới bảy tuổi. 

– Nó giống chị quá. Từ ngày em đi rồi, công việc ở nhà ra sao đâu chị thuật hết cho em nghe thử coi. Thím cai tuần có nói, mà thím nói sơ lược, nên nghe không rõ. 

– Em đi rồi, má cứ theo nhắc em hoài. Má nói em đi thi sao không thấy về. Chị phải lén mà nói thiệt cho má hiểu và khuyên má đừng buồn. Tuy vậy mà má nhớ em, má lo không biết em đi ra có no ấm hay không, nên má buồn dữ lắm. Còn cậu Hương trưởng, cậu không thấy em về thì cậu cứ theo cằn nhằn má hoài. Cậu nói chớ chi má nghe lời cậu để cho em ở đợ thì xong quá, tại má bày cho em đi học, nên em mới theo du côn đi hoang đàng như vậy. 

– Phải, ở đợ cho cậu lấy tiền mới là tử tế; còn gỡ cái ách khắc bạc của cậu mà quăng đi, rồi xuất thân kiếm thế làm ăn thì là hoang đàng, thì là du côn. Em tiếc ngày nay em về, má không còn đặng em trả thảo cho má, mà cậu cũng không còn đặng cho cậu thấy em không phải là du côn… Còn tại sao chị làm bạn với anh hai? Em coi ảnh lớn tuổi hơn chị bộn mà. 

– Phải, anh Hai em lớn hơn chị tới mười tuổi. Anh Hai em muốn chị đã lâu rồi, hồi còn dạy trên Cần Giuộc hễ gặp chị đi bán bánh thì cứ theo chọc ghẹo chị hoài. Em đi được ít tháng, kế thầy đổi xuống chợ Trạm. Thầy biết ý cậu ưa rượu, nên mua rượu đem lên mà dụ cậu gả chị cho thầy. Chị biết thầy đã có một đời vợ rồi, lại thầy ham chơi bời mèo chó bài bạc lắm, nên chị không ưng. Cậu mê rượu, nhứt là mê năm mươi đồng bạc của thầy đem lên xin làm lễ cưới, bởi vậy cậu ép mà gả bướng. 

– Ủa! Ép sao được. Cậu có quyền gì mà ép? Vậy chớ má không chống cự hay sao? 

– Má buồn về nỗi em, nên má xuôi xị, má có nói gì đâu. Chị có than phiền với má, thì má nói má muốn cho chị thoát khỏi cái nhà đó cho rồi. Má như vậy, mà chị chống cự giống gì cho được, bởi vậy chị đành để cậu bán chị cậu ăn. 

– Nếu vậy thì trong mười hai năm nay thân chị khổ lắm? 

– Tuy vậy mà không khổ. Nói cho phải, tuy anh Hai em ưa chơi bời, song cưới chị về thì ăn ở với chị cũng tử tế. Đến năm đẻ con Lý đây, má đau thầy lo chạy thuốc hết lòng, chừng má mất thầy lo chôn cất tử tế; tốn hao của thầy bộn, mà thầy không phiền hà. Má mất mấy ngày kế có giấy quan trên bãi chức thầy. May có cho thầy lãnh tiền cứu giúp được ba tháng lương, thầy mới tuốt lên Sài Gòn kiếm việc mà làm. Kiếm được chỗ làm, ăn lương được năm mươi thầy mới về rước mẹ con chị lên mướn phố mà ở. Ở Sài Gòn bảy năm nay chị tiện tặn, nên tuy không dư dả, song đắp đổi cũng đủ ăn. Thầy làm việc tử tế, ông chủ thương, nên cho thầy ăn lương lên lần lần, năm nay thầy ăn tới tám mươi. 

– Ảnh làm sở nào. 

– Làm hãng rượu ngoài đường Catinat. Lãnh phần đi đòi tiền, bởi vậy mỗi ngày cứ ôm toa cỡi xe máy đi hoài, ít ở tại hãng. Vợ chồng chị lên trên này đâu được chừng một năm kế cậu Hương trưởng mất. Em biết cậu chết về bệnh gì hay không? 

– Em có nghe nói rồi. Cậu đi ăn giỗ, cậu uống rượu say mèm, ban đêm về cậu té xỉu nằm dựa bờ nhiễm gió mà chết. 

– Phải. Thiệt như vậy, song cậu chết được chục tháng rồi chị mới hay. 

– Theo lời chị nói hồi nãy, thì anh Hai ăn ở với chị mười mấy năm nay cũng là tử tế quá, có con trai con gái đủ hết, bây giờ đã trọng tuổi rồi, sao lại sanh sứa cưới vợ bé mà bỏ chị? 

– Đờn ông đến hồi quỷ giục, biết đâu mà ngăn ngừa. Thầy có tánh ưa chơi bời. Lên Sài Gòn mấy năm nay, thầy quen tánh cũ, nên cũng chơi bời chút đỉnh. Chị thấy thầy đi làm cực khổ, nên chị để cho thầy thong thả mà chơi với đàn em. Tuy là chơi, song mấy năm nay cũng lo cho vợ con. Cách năm sáu tháng trước, thầy gặp "con Hai Cần Giuộc" rồi thầy mê mết, thầy mới bỏ vợ con hết. 

– "Con Hai Cần Giuộc" là con gì? 

– Chị có biết đâu. Chị nghe người ta nói vậy, thì hay vậy, chớ chị có thấy mặt nó đâu mà biết. 

– Té ra năm sáu tháng nay ảnh không có về đây nữa hay sao? 

– Có. Mấy tháng trước thì mười lăm hoặc hai mươi ngày có về thăm một lần. Mỗi tháng có cho mẹ con chị năm mươi đồng. Gần hai tháng nay không về nữa, mà cũng không cho tiền bạc chi hết. 

– Nếu vậy thì ảnh bỏ dứt rồi chứ gì. Chị phải lo phận chị, chớ ở như vầy sao được. 

Cô Đào ngồi lặng thinh một hồi rồi hỏi em: 

– Còn phận em đi mấy năm nay em ở đâu? Có vợ con hay chưa? 

– Em ở nhiều chỗ lắm. Mắc lo làm ăn bù đầu, có giờ đâu mà tính tới việc vợ con. 

– Dầu có lo làm ăn đi nữa, lâu lâu cũng phải về thăm bà con một lần, chớ sau lại đi biệt.

– Ngày em ra đi, em có vái linh hồn cha phò hộ em làm ăn cho khá. Em tự quyết chừng nào em làm giàu rồi em sẽ trở về rước má với chị đến chung hưởng sung sướng với em. Chưa làm giàu thì em về sao được. 

– Nếu vậy thì ngày nay em trở về đây, chắc em đã giàu rồi? 

– Em không dám khoe giàu, nhưng bây giờ em đủ sức nuôi má với chị trọn đời, nên em mới về đây. Chẳng dè về rước má, má đã mất rồi, thiệt tức quá. 

Ba Lân nói tới đó thì đau đớn trong lòng, nên chảy nước mắt. Cô Đào thấy vậy cô động nên cô cũng khóc. 

Ba Lân thở ra mà nói: 

– Mười mấy năm nay hết sức lo làm cho có tiền. Chừng có tiền rồi, kẻ chết mất, người xiêu lạc, vậy thì có tiền có ích gì đâu! 

– Bây giờ em ở đâu? 

– Em ở trên Lèo. 

– Dữ hôn! Lên ở chi tới trển lận! 

– Thì đi làm ăn, chỗ nào làm ăn được thì mình ở, chớ phải đi chơi sao mà mình lựa. 

– Té ra ngày em đi đó, thì em đi thẳng lên Lèo mà ở cho tới bây giờ hay sao? 

– Không. Em mới lên ở trên Lèo sáu bảy năm nay. Ngày em từ giã chị tại chợ Cần Giuộc mà đi, thì em lên Sài Gòn. Ở đó mấy bữa em coi thế khó kiếm công việc làm, em mới thả xuống Mỹ Tho. 

– Chị nhớ em có mấy cắc bạc, làm sao mà em đi xa như vậy đươc. 

– Có người ta cho em mượn tiền. Xuống Mỹ Tho thấy có một chiếc tàu đi Nam Vang đậu, em mới xuống đứng lại cầu tàu coi chơi. Ông Cò tàu thấy em thì hỏi em chịu theo tàu mà làm bồi hay không, ăn cơm dưới tàu, mỗi tháng ổng cho em ăn lương sáu đồng. Em mừng quá, nên chịu liền. Em theo tàu cứ lên Nam Vang rồi trở xuống Sài Gòn. Em biết tiếng Tây nên ở được ít lâu ông Cò tàu thương em lắm. Em mới xin phép ổng mua chút đỉnh đồ Sài Gòn chở lên Nam Vang và mua đồ Nam Vang chở xuống Sài Gòn mà bán. Em làm như vậy té lời quá khá, bởi vì đồ em chở khỏi tốn tiền tàu. 

– Mua bán như vậy không khá sao được. 

– Em làm bồi dưới tàu được ba năm, kế ông Cò tàu về Tây. Ông Cò khác đổi lại thế, ổng không cho em chở hàng nữa. Em phiền lắm em xin thôi. Lúc ấy em có được vài trăm đồng bạc vốn, em mướn phố lập tiệm tại Nam Vang mà bán rượu lẻ. Chớ chi em có vốn nhiều, em mua khô, mua bắp chở xuống Sài Gòn. Chợ Lớn mà bán chắc là khá lắm. Vì vốn ít nên phải bán rượu Xứ, thổ dân cứ uống rượu trắng chớ ít ưa rượu Tây, bởi vậy em buôn bán không khá tính dẹp tiệm đặng đi chỗ khác làm ăn. May lúc đó có một ông Sứ sửa soạn đổi lên Lèo. Ổng quen với chủ em hồi trước, hay xuống tàu hoặc uống rượu hoặc ăn cơm chơi, nên ổng biết em. Ổng gặp em, ổng nói chuyện ổng hay em buôn bán không khá, ổng mới khuyên em đi theo ổng lên Lèo rồi ổng giúp đỡ cho em làm ăn. Em đương tính dẹp tiệm, nên nghe như vậy thì em chịu liền. Em sang tiệm cho họ, em lấy có một trăm đồng bạc, rồi em theo ông Sứ mà đi lên Lèo ở cho tới bây giờ đây. 

– Ở trển bây giờ em làm việc gì? 

– Việc gì em cũng làm hết thảy, bán nhà hàng, nuôi bò, trồng vanilla, làm không hở tay.

– À, nãy giờ quên hỏi: sao em biết chị ở đây, nên lại đây mà kiếm? 

– Ở dưới chợ Trạm, Cần Giuộc, có nhiều người biết chỗ anh Hai ở; họ chỉ chừng cho em, nên em mới biết chớ. 

– Phải, thầy gặp mấy người quen, thầy hay mời về nhà chơi, nên họ biết. Em về dưới Mồng Gà em ở bao lâu rồi, mà em hỏi thăm nên biết hết công chuyện của nhà vậy? 

– Em về ở dưới gần mười bữa rày. Em có kêu thợ mà đặt cho họ làm mả cha với má. Em đặt mả đá xanh. Họ có làm tờ giao kèo với em chắc chắn, hứa qua sang năm, đến ngày thanh minh, họ sẽ trở lại mà dựng. 

– Cha chả! Em có đặt làm mả nữa? Em đặt bao nhiêu tiền. 

– Hai cái một ngàn hai. 

– Dữ hôn! 

– Vì ở xa nên em cho lãnh trước tám trăm, có người bảo kiết chắc chắn. Chừng khép xong rồi, em về em sẽ chồng thêm bốn trăm nữa cho đủ số. 

Cô Đào ngần ngơ, không dè em có tiền đến dám làm mả bạc ngàn cho cha mẹ. 

Ba Lân thấy bộ chị, thì hiểu ý, nên nói: 

– Khi ra đi em có vái linh hồn cha phò hộ em làm ăn cho khá. Nay em khá rồi, em phải lo trả thảo cho cha mẹ chớ sao. 

– Em ở như vậy thì phải lắm. Chắc cha với má phò hộ cho em làm ăn khá hơn nữa. Năm nay em đã gần ba mươi tuổi, lại em cũng làm ăn khá rồi, sao em không tính cưới vợ như người ta? 

– Em về đây, em cũng có ý đó. 

– Em muốn cưới vợ dưới này hay sao? 

– Vậy chớ ở trển Annam có ít quá, vợ đâu mà cưới! Không lẽ chị muốn cho em cưới Lèo. 

– Dưới mình bây giờ coi có con ai? …Chị lên ở trên này đã bảy năm rồi, nên bây giờ có biết ai có con mà xứng với em đâu. 

Cô Đào suy nghĩ. 

Ba Lân ngồi châu mày lặng thinh một lát rồi nói: 

– Em nói thiệt với chị, hồi nhỏ em có tình với cô Thinh, là con của Ban Liềm ở chợ Cần Giuộc. Trước khi ra đi, em có thề nguyền với cô chừng em làm ăn khá em sẽ trở về cưới cô. Cô cũng nguyện ở nhà chờ em. Bữa em đi, cô có cho em ba đồng bạc với một chiếc đồng. Nhờ tiền ấy em mới xuống Mỹ Tho được. Nay em về, em tính cưới cô, rồi rước hết má, chị và cô lên Lèo ở với em. Chẳng dè về Cần Giuộc thì có không có ở đó nữa. Em hỏi thăm thì họ nói hồi cô mới lớn lên cha mẹ ép gả cô cho chệt. Cô không chịu cô bỏ nhà ra đi, từ hồi đó tới giờ cô không có về, có lẽ cô ở đâu trên Sài Gòn đây. Em đặt mả cho cha mẹ rồi, em tuốt lên đây kiếm chị mà cũng kiếm cô Thinh nữa. Chị biết cô hôn? 

– Con Ban Liềm thì chị biết. Mấy năm chị bán bánh, chị thấy nó hoài. Con nhỏ tròn trịa ngộ lắm. 

– Từ ngày chị lên ở trên này chị có gặp cô hay không? 

– Không có gặp. Sợ nó có chồng rồi xiêu lạc xứ khác chớ. 

– Có người nói năm ngoái có gặp cô ở tại Sài Gòn đây, cô ăn mặc đứng đắn lắm, song không biết nhà cô ở đâu. 

– Không hiểu. Mà bây giờ nó đã lớn rồi, dầu chị có gặp, sợ chị cũng không nhớ. 

Con Lý thấy thằng Khoa đi học về thì lật đật chạy ra cửa mừng anh. Thằng Khoa bước vô, thấy Ba Lân không biết là ai, nên đứng khựng lại mà ngó. Cô Đào nói: "Cậu ba của con đó. Xá cậu ba đi." 

Thằng Khoa lột nón mà xá, rồi đi vô trong cất sách vở. 

Ba Lân kêu hết hai đứa nhỏ lại, cho mỗi đứa hai cắt bạc, rồi biểu chúng nó đi mua bánh mà ăn. Hai đứa nhỏ lấy tiền rồi xá mà đi. 

Cô Đào nói: 

– Đã mười giờ rồi, thôi em ở nhà chơi, để chị đi chợ mua đồ về nấu cơm cho em ăn. 

– Xin chị đừng lo. Em không ăn cơm đâu. Em phải đi gấp. 

– Lên đây thì em ở đây mà nghỉ, chớ em đi đâu? 

– Em có mướn phòng ở ngoài khách sạn. Đồ đạc của em nhiều, lại em còn phải đi nhiều chỗ, nên ở ngoài cho thông thả. Công việc làm ăn của em ở trên Lèo bề bộn lắm. Em vắng mặt lâu không tiện. Bây giờ em phải đi kiếm cô Thinh cho gấp. Hễ kiếm được cô rồi thì em trở lên Lèo liền. Em sợ không có giờ rảnh vô nói chuyện dài với chị nữa. Vậy em xin hỏi rút chị một điều này: chi có chồng, mà bây giờ chồng chị bỏ chị rồi, vậy chị chịu đi theo em lên Lèo mà ở với em hay không? Em hứa sẽ nuôi chị chọn đời, nuôi cách sung sướng, chứ không phải mỗi ngày thí hai bữa cơm mà gọi rằng nuôi đâu. 

– Đi với em rồi sắp nhỏ làm sao? 

– Thì chị đem chúng nó đi theo, em nuôi luôn hết thảy. 

Cô Đào ngồi suy nghĩ. 

Ba Lân hỏi: 

– Thân chị bây giờ bơ vơ khổ quá. Sao chị còn dục dặc không chịu theo em? 

– Bề nào cha con nó cũng thương nhau. Nếu dắt sắp nhỏ đi xa, nó nhớ cha nó tội nghiệp. 

– Trời ơi! Vậy chớ ảnh bỏ con ảnh mấy tháng nay, ảnh có nhớ chúng nó hay không, mà chị sợ chúng nó nhớ ảnh? Chồng đã phụ bạc, theo vợ bé bỏ mẹ con bơ vơ, mà chị còn thương nữa chớ! 

– Vợ chồng ăn ở với nhau đã mười hai năm rồi, có tới hai mặt con, không thương sao được. 

– Ảnh đã bỏ chị, thì chị bỏ ảnh, có lỗi gì đâu. 

– Hồi má đau, cha sắp nhỏ lo thuốc men, chừng má mất cũng một tay lo chôn cất. Cái ơn ấy chị không thể nào quên được. Dầu bây giờ có phụ bạc chị đến chừng nào đi nữa, chị cũng không nỡ đổi lòng. 

Ba Lân lắc đầu thở ra rồi hỏi: 

– Chị nói anh Hai theo ở với vợ bé, mà chị biết ở chỗ nào hay không? 

– Nghe họ nói ở phía sau chợ Tân Định, mướn phố ở đường Faucault, số nhà bốn trăm mười lăm. Họ nói như vậy thì chị hay vậy, chớ chị có đến đó làm chi mà biết. 

– Vì chị còn thương ảnh quá, nên em không nỡ ép chị bỏ ảnh. Vậy em sẽ ráng sức gỡ rối cho chị rồi em sẽ trở lên Lèo. 

Ba Lân đứng dậy, móc bóp phơi ra, đếm đưa cho chị một trăm đồng bạc và nói rằng: "Xin chị lấy lần chút đỉnh tiền đây đặng may áo quần cho chị với sắp nhỏ bận cho lành lẽ. Thế nào trước khi em đi lên Lèo, em cũng trở vô đây mà từ giã chị. Vậy chị hãy suy nghĩ lại cho kỹ lưỡng coi có nên đi theo em hay không. Như chị bằng lòng đi, thì chị sửa soạn cho sẵn, rồi chừng em trở vô em dắt chị đi." 

Cô Đào cầm một trăm đồng bạc trong tay, cô rưng rưng nước mắt, không nói được. Trong lòng cô bối rối quá, nên Ba Lân cáo từ mà đi, cô không cầm em, mà cũng quên hỏi em ngụ ở khách sạn nào. 

Trưa cô Đào đương ngồi ăn cơm với hai con. Tuy bây giờ cô có tiền, khỏi lo thiếu hụt nữa: tuy bây giờ cô chắc ý có chỗ săn cho mẹ con cô nương dựa, khỏi lo bơ vơ vất vả nữa, nhưng mà chị em cách biệt nhau mười mấy năm cô không còn trông đợi, thình lình em cô về kiếm cô, lại nói đã giàu rồi, bởi vậy cô ngẩn ngơ trong lòng, rồi lững đững lờ đờ, đã quên buồn nỗi chồng bỏ, mà cũng không biết vui sự gặp em. 

Ngồi ăn cơm cô không nói tiếng chi hết, duy có hai đứa nhỏ nói chuyện với nhau tía lia. 

Thằng Khoa muốn ghẹo cho má nó nói chuyện nên nó hỏi: 

– Cậu Ba hồi nãy đó có bà con với mình hay không má? 

– Em ruột của má đó, cũng như con Lý với con vậy. 

– Em ruột của má mà sao từ hồi nào đến giờ không đến nhà mình? 

– Cậu của con ở xa lắm, từ hồi đẻ con cho tới bây giờ mới về đó. 

– Cậu Ba ở đâu lận má? 

– Ở trên Lèo. 

– À! Con biết, Lèo là Laos đó; con học địa dư nên con biết. Hồi nãy cậu Ba cho con với con Lý mỗi đứa hai cắc. Con với con Lý ăn hết hai đồng xu xôi, hai đồng xu cà rem. Bây giờ con còn một cắc sáu, còn con Lý còn nguyên hai cắc. Để con gởi cho má cất giùm rồi thủng thẳng má phải lại cho con ăn bánh, nghe hôn má? Lý đứa hai cắc của em cho má cất đi. Em lộn trong lưng rớt mất đa. 

Hai đứa nhỏ đưa tiền ra. Cô Đào lấy bỏ vô túi, mà cô cũng không nói chi hết. 

Ăn cơm rồi, cô Đào bưng chén đĩa vô phía sau mà rửa. Hai đứa nhỏ ở phía trước mà chơi. 

Thầy Bính tay dắt xe máy thủng thẳng đi vô đường hẻm, trên ống tube xe có máng một cái cặp da đựng giấy tờ óc nóc. Hai đứa nhỏ vừa thấy cha thì chạy túa ra mà mừng, thằng Khoa vịn xe, còn con Lý nắm áo. Thầy Bính trợn mắt nạt răng: "Dang ra coi nào! Làm giống gì vậy? Nắm lấm áo ta còn gì!" 

Hai đứa nhỏ sợ dang ra. 

Thiệt thầy Bính mặc một bộ đồ Tây trắng giặt ủi lắn cón thằng băng. Thầy mang một đôi giày trắng cẩn da đen, có thắt một cái régate xanh thêu bông đỏ, đầu đội nón trắng, mắt mang kiến đen, bởi vậy tuy thầy đã trên bốn mươi tuổi rồi, mà cách ăn mặc cũng như trai mới lớn lên. Thầy dựng cái xe máy dựa cửa rồi bước vô nhà, nón cứ đội trên đầu chứ không chịu lột. 

Thằng Khoa đi theo hỏi: "Ba đi đâu lâu quá, ba không về nhà vậy ba? Con muốn đi đón ba mà má không cho". 

Thầy nạt rằng: "Ê! Đừng nhiều chuyện nà! Đón làm gì?" 

Thằng Khoa thấy cha giận, nó hết dám nói chuyện nữa. 

Con Lý chạy vô trong kêu: "Má, má có ba về đây má." 

Một lát, cô Đào rửa chén rồi, cô bước ra thấy chồng ngồi day mặt ngó ra đường hẻm, cái nón với cái kiếng còn cầm trong tay, thì cô cười và hỏi: "Dữ hôn! Bữa nay sao lại về đây? Tôi tưởng mình không về nữa chớ!" 

Thầy Bính day vô hỏi lại: 

– Không muốn cho tôi về nhà này nữa hay sao? 

– Về hay là không về cũng tại ý mình, chớ phải tôi muốn mà được đâu. 

– Hễ đút đầu về nhà thì nghe cái giọng dễ ghét quá. 

– Tôi cũng biết như vậy, bởi tôi ghét, nên mình không về nhà nữa. Mà phận tôi mình ghét đã đành, còn hai đứa nhỏ, là con của mình, nó có làm cực lòng mình về chỗ nào đâu, sao mình cũng ghét mà bỏ nó? 

Thầy Bính ngồi lặng thinh. 

Cô Đào bước lại đầu ván mà ngồi rồi nói nữa: 

– Mình muốn làm giống gì mình làm, song mình cũng nghĩ lại mà thương hai đứa nhỏ chớ. Mình tệ chi lắm vậy, gần hai tháng nay mình không cho được một đồng xu nhỏ, tôi biết làm sao mà nuôi con cho nổi. 

– Hễ thấy mặt thì cứ hỏi tiền. Biết có bấy nhiêu đó! 

– Có tiền mẹ con tôi mới sống, không hỏi sao được. Lớp trả tiền nhà, lớp mua gạo, nước mắm, dầu lửa; phận tôi là đờn bà, tôi làm sao mà lo một mình cho kham. Mấy tháng nay tôi ngồi may tối ngày sáng đêm mà cũng không đủ tiền nuôi con. Thiếu tiền phố, chà và nó mắng nhiếc mà xấu hổ hết sức. 

Cô Đào nhắc những nỗi khổ, thì cô uất ức, nên cô khóc. 

Thầy Bính châu mày xụ mặt, thầy chống tay lên bàn mà ngó ra cửa, không câu mâu nữa. 

Cô Đào và khóc và nói tiếp: "Mình ăn lương một tháng tới tám mươi đồng bạc. Chớ chi mẹ con tôi chừng mười lăm đồng, đặng tôi trả tiền phố sáu đồng, còn chín đồng tôi mua gạo với thịt cá cho sắp nhỏ ăn, thì tôi đâu dám phiền mình. Tại mình bạch tuột, không cho đồng nào hết, biểu tôi đừng nói sao được. Tôi thấy con thiệt tôi đứt ruột, quần áo rách rã, không tiền mua vải cho nó bận. Có bữa thằng Khoa nhịn đói mà đi học, không có một đồng xu mà cho nó ăn bánh, khổ không biết chừng nào. Mình có ở nhà đâu mà thấy những chuyện ấy". 

Thầy Bính đứng dậy rồi đi vô đi ra, sắc mặt coi buồn bực lắm. 

Vợ thấy vậy không muốn nói nữa, cứ ngồi khóc rấm rứt. Còn hai đứa nhỏ thì trong mắt ngó theo cha, cha đi đâu ngó theo đó, chớ cũng không dám nói một tiếng. 

Thầy Bính vô nhà sau đứng chần ngần một hồi, rồi trở ra đội nón lên, lấy kiếng nhét vô túi và dắt xe máy ra đi. 

Mấy mẹ con cô Đào ngó theo, buồn thảm hết sức.