Nhìn Lại Những Bến Bờ

Chương Chín


 

Nếu ông Lý Vô Danh chỉ là gã Sơn Đông bán thuốc tầm thường, tôi đã không theo ông ta. Vì ông ta khác thường và vì ông kiếm tôi đúng lúc tôi không muốn định cư đời mình trong trái tim cô Hiên nữa, nên tôi nghe lời ông, dấn thân vào con đường vô định. Sơn Đông bán thuốc sán lãi quả là giang hồ vô định. Tôi không cần tìm hiểu thân thế của ông Lý. Ông ta cũng chẳng thèm tìm hiểu thân thế tôi. Ông già và tôi, trên chiếc xe Đức máy Sachs cũ kỹ, rày đây mai đó. Một tháng liền, chúng tôi qua nhiều xã lớn, nhỏ của quận Trảng Bàng. Chúng tôi thường đến các chợ bán thuốc. Kết quả tốt đẹp. Tôi ôm cây đàn ông Lý mua ở thị xã Tây Ninh hát bài Khúc ca ngày mùa của Lam Phương là bài hát đang thịnh hành từ thành phố lan rộng khắp cùng nông thôn miền Nam. Tôi hát như con vẹt thuộc bài.

Kìa thôn quê dưới trăng vàng bát ngát
Ánh trăng lên chiếu qua làng xơ xác
Chiếu đồng quê bao khúc ca ngày mùa
Mừng trăng lên chúng ta cùng múa hát
Ước mong sao lúa hai mùa thơm ngát
Lúa về mang bao khúc ca tuyệt vời
Lờ lững trôi đi trôi mãi
trong chiều tà
tiếng tiêu buồn êm quá
Lòng ngất ngây theo tiếng hát
ca nhịp nhàng
tiếng chày xôn xao …

Sau Khúc ca ngày mùa là Quê hương tôi:

Quê hương tôi gió chiều về trong nắng vàng
tang tình tang
bên bờ sông
ai chờ mong
bao hình bóng
Quê hương tôi cái màn lại kêu cái mùng …

Chỉ cần hai bài thôi, dân quê đã bu kín quanh tôi. Con khỉ biểu diễn vài trò gánh nước, kéo xe, hút thuốc lá, giả vờ chết là đến lượt ông Lý nói về sự nguy hiểm của bệnh sán lãi. Ông nhắm vào cái bụng ỏng của con nít để cảnh cáo các bậc cha mẹ những biến chứng ghê gớm do sán lãi tác hại cơ thể con nít. Rồi ông giới thiệu môn thuốc trị sán lãi gia truyễn, cam đoan uống ba gói, sán lãi sẽ bị tiêu diệt và bị đẩy hết ra khỏi ruột con nít. Dân quê thật thà tin ngay, tranh nhau xỉa tiền mua thuốc trị sán lãi. Hồi nhỏ, tôi đã đi xem nhiều gánh bán thuốc ê. Tôi thấy ông Lý không khoa trương môn thuốc của ông bằng ngôn ngữ rẻ tiền, khoác lác như bọn thuốc ê miền Bắc. Ông giải thích bệnh sán lãi do đâu mà có, con nít bị bệnh sán lãi thì ra sao và ông khuyên cha mẹ không nên để con cái cởi truồng lê la ngoài đường, sân đất … Thuốc trị sán lãi của ông Lý gói bằng miếng giấy trắng mỏng nhét vào bao. Trên bao giấy đóng con dấu khắc, in mực đen chỉ rõ cách dùng thuốc. Tôi phải đóng dấu và gói thuốc. Con ông lái thuốc Bắc kiêm lang băng đi gói thuộc trị sán lãi thì đúng nghề quá.

– Bác ạ, thuốc của bác thật hay rởm ?

– Thật. Santonine đấy. Mày biết tại sao Cam tích tán nhãn hiệu Cái Xe Đạp của Tầu trị bệnh giun sán con nít rất công hiệu không ?

– Không.

– Nó chế bằng Santonine, Âu dược. Còn Thối nhiệt tán của Tầu trị cảm sốt khỏi liền là gì ? Chỉ là Aspirine tán nhỏ. Chúng ta làm ăn lương thiện mà, thằng nhóc.

– Tại sao mình bán đôc nhất môn thuốc sán lãi ?

– Vì cái ụng của con nít nông thôn chứa nhiều sán lãi. Sán lãi tạo thêm nhiều bệnh. Con nít bị bệnh sán lãi như cây nhung nhúc sâu đục ruột, chậm lớn và không hứa hẹn đơm hoa, kết trái.

– Bác có mục đích ?

– Mục đích bán thuốc. Nông thôn là thị trường tiêu thụ sán lãi. Con nít là khách hàng chính. Do đó, tao nghiền Santonine với đường để quý vị thân chủ uống bớt đắng. Mày nghi ngờ tao ?

– Hơi hơi …

– Thế thì mày cứ việc chọn một nơi nào mày thích, chúng ta ở lại ba ngày chờ dân chúng đến báo cáo kết quả. Sơn Đông bán thuốc dạo không dám đến một nơi hai lần. Tao dám ở một nơi cả tháng.

Và ông ta đã ở Củ Chi tuần lễ. Khách hàng đến cám ơn ông, mua thêm thuốc. Con cháu họ xổ lãi cả chùm, ham ăn ham chạy nhảy, cười nói líu lo chứ không ủ rũ như trước khi dùng thuốc trị sán lãi.

– Nhãi ranh, ông Lý nói, nếu mày thấy nghề này tự do, thích thú, tao sẽ dạy mày vài môn thuốc công hiệu như thần.

– Âu dược … phóng tác ?

– Dĩ nhiên.

– Thế là bịp.

– Là làm phúc cho dân quê ngu dốt. Mày nhớ rằng, dân quê ta tin thầy chùa, thầy chú, thầy pháp hơn là tin bác sĩ y khoa. Sơn Đông bán thuốc có đất sống, nhờ vậy. Thay vì bịp, ta làm phúc. Nhức đầu, đau răng, đau mình mẩy, hai viên Aspirine là chấm dứt. Mụn nhọt làm độc, vài viên trụ sinh là chấm dứt. Kiết lỵ thì vài viên Gagénan. Cầm ngay bệnh té re thì viên sái thuốc phiện nhỏ. Nhuận tràng thì cho uống dầu thầu dầu … Thuốc viên, ta nghiền nát. Thuốc dầu, thuốc nước ta pha mầu vô tội vạ. Nhỏ hai giọt Sulfate de Zinc vô mắt là mắt tự nhiên sáng bừng. Thế là làm phúc hay là bịp ?

Đúng như ông Lý Vô Danh nói, nhờ theo ông, tôi biết nhiều địa danh, địa hình, địa vật và người của những làng xã thuộc vài tỉnh miền Đông. Chúng tôi ăn cơm hàng, ngủ trong quán chợ. Chỗ nào có thể thuê ghế bố hay thuê gian nhà dừng chân ít hôm là chúng tôi thuê. Con khỉ đã có nhi đồng cung cấp chuối và các thứ trái cây. Ông Lý chia tiền lãi cho tôi. Trừ cơm nước, cà phê, thuốc lá, tôi có 500 đồng để dành mỗi tháng. Cung cách làm trò bán thuốc sán lãi thì nó lập đi lập lại mòn teo tẻ nhạt nhưng, dọc đường gió bụi, cảnh trí mỗi nơi mỗi mới lạ, đổi thay khiến tôi nao nức đi xa hơn. Ông Lý Vô Danh uống rượu nhiều. Trong xe của ông có mấy bình nhựa đựng rượu đế. Ông ta uống ở quán đã đời, về chỗ ngủ uống tiếp. Ông ta mang một tâm sự u ẩn hay một niềm bí ẩn nào đó, tôi không biết và ông ta không bộc lộ.

Một buổi chiều mưa, trong gian nhà trọ lụp xụp, ông Lý hỏi tôi:

– Mày đã đọc nhiều sách chưa ?

– Khá nhiều. Bây giờ cháu chán đọc.

– Tại sao ?

– Đọc nhiều vô ích, mệt óc suy nghĩ.

– Tại sao mày nghĩ thế ?

– Vì tương lai cháu mù mịt.

– Mày sai lầm. Cháu ạ, không một cố gắng nào không dẫn đến kết quả tốt đẹp cả. Người có văn hóa không cần thiết có bằng cấp cao. Người có bằng cấp cao chưa chắc đã là người có văn hóa. Văn hóa của kẻ giang hồ là kiến thức nó thu nhận từ sách, truyện và đời sống nó trải qua. Nếu nó chịu khó suy nghĩ những gì nó thu nhận, kiến thức của nó sẽ sâu sắc. Một phu xe xích lô có văn hóa vẫn hơn những phu xích lô thiếu văn hóa. Văn hóa của con người xác định giá trị của nó, dù nó làm bất cứ nghề gì. Cháu phải đọc sách, đọc nhiều. Sách là nhà trường, là thầy giáo bất hủ. Để viết một cuốn sách về xã hội học, chẳng hạn, tác giả của nó đã đọc hàng trăm pho sách, đã nghiên cứu hàng mấy nghìn vấn đề, đã viết hàng mấy năm. Mày đọc vài tuần và tóm tắt vài trang. Trường nao, thầy nào hơn sách ? Đọc sách là đâu tư vào tương lai. Cháu ơi, cái công thức này gần như là chân lý: Thành công = Khả năng + May mắn. Có may mắn mà thiếu khả năng thì chỉ múa may vẩn vơ. Có khả năng mà thiếu may mắn thì vất vưởng hóa ẩn sĩ gàn dở. Nhưng muốn chờ đợi may mắn, phải trau dồi khả năng, phải chuẩn bị văn hóa, kiến thức nghề nghiệp …

Ông Lý Vô Danh là con người lạ lùng. Ông ta dấu diếm một hành tung nào chăng ? Tôi không nên biết. Điều tôi cần biết, điều quan trọng đối với tôi là ông Lý thương yêu tôi tận tình, săn sóc tôi từng chút.

– Bác ạ !

– Gì ?

– Bác có mấy bồ văn hóa ?

– Không có bồ nào cả. Cao Bá Quát kiêu mà dở. Sự học như biển rộng mênh mông. Cao Bá Quát khoe mình chiếm 2 bồ, ít quá.

– Bác thiếu may mắn ?

– Tao thích giang hồ. Giang hồ với mày thú vị vô cùng.

Ông Lý nhai rau ráu miếng ổi xanh, rót thêm rượu đầy ly tôi.

– Mày uống rượu cũng khá nữa.

Tôi câm ly rượu trút sang ly của ông Lý.

– Cháu đủ rồi.

– Mày sợ say ?

– Dạ, cháu sợ.

– Tại sao phải sợ ?

Ông ta nâng ly nốc cạn.

– “Trượng phu chơi rượu như chơi máu. Sợ say không uống, sợ máu không giết người”.

Nhìn tôi, ông ta hỏi:

– Biết thằng nào nói câu đó không ?

Tôi lắc đầu:

– Không ạ !

– Mày đọc Thủy Hử chưa ?

– Dạ rồi.

– Thằng cu Võ Tòng nói ở quán rượu dưới chân núi Cảnh Dương đấy.

– Bác nhớ ghê.

– Trí nhớ thấp lắm, thua trí tuệ ngàn bậc. Tao thuộc câu nói của Thị Nại Am mớm cho Võ Tòng, có chi là hay. Câu nói do tao nghĩ ra mới hay. Người có trí nhớ chỉ đáng khen. Người có trí tuệ mới đáng phục.

– Trí nhớ và trí tuệ cách nhau xa quá.

– Vì khác nhau vời vợi. Đọc sách thuộc sách đến nô lệ sách, dẫn chứng từng chương, từng đoạn, từng số trang không sai mảy may là trí nhớ. Đọc sách quên sách, để tinh hoa của sách thấm vào máu mình, tim mình rồi sáng tạo cái của mình hay hơn sách, không giống sách là trí tuệ. Trí tuệ hạng trung. Trí tuệ thượng hạng là nghệ sĩ sáng tác. Trí tuệ ngoại hạng là tư tưởng gia, triết gia. Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Thích Ca, Jesus, Marx, Engels là trí tuệ thượng đẳng. Môn đệ của Khổng, Lão, Trang, các ông sư, các ông cố đạo, các ông cán bộ cộng sản chỉ là những kẻ có trí nhớ để nhai lại lời Thầy. Đức Giáo Hoàng cũng thế, Lénine, Staline cũng vậy. Mày muốn làm kẻ có trí nhớ hay làm kẻ có trí tuệ ?

– Cháu muốn làm kẻ có trí khôn.

– Trí khôn thì dễ.

– Cần gì ?

– Ngu nhiều và biết mình ngu thì sẽ khôn. Ngu mà không biết mình ngu thì suốt đời ngu.

– Bác ngu lần nào chưa ?

– Ngu nhiều.

– Bác đã khôn chưa ?

– Chưa. Vì thế tao thèm đọc sách và giang hồ.

– Bao giờ mình khôn ?

– Lúc mình nằm dưới huyệt sâu.

– Thưa bác, như vậy, trí khôn cao hơn trí tuệ.

– Mày nói sao ?

– Thưa bác, ông Khổng, ông Lão, ông Marx, ông Engels thừa trí tuệ sáng tạo chủ nghĩa, học thuyết mà khi chết vẫn không hiểu mình khôn hay mình ngu khi để lại đời sống học thuyết của mình. Nếu các ông ấy có trí khôn các ông ấy phải biết khi mình chết không có ai chống đối mình, nguyền rủa sự nghiệp của mình chứ ? Và, nếu có trí khôn, các ông ấy đã không lập thuyết.

– Mày cù nhầy. Nói tiếp đi !

– Thưa bác cháu đọc Đông Chu liệt quốc nhớ được chuyện Vệ Ưởng. Ông ta có trí tuệ chứ ạ ?

– Hẳn nhiên.

– Có trí tuệ mới dám luận bàn Đế đạo, Vương đạo, Bá đạo. Có trí khôn mới được vua Tần áp dụng Bá đạo. Biết Bá đạo dở mà cứ hung hăng thi thố để chết thảm vì cái đạo của mình. Vệ Ưởng thật ngu. Có trí tuệ, trí khôn mà vẫn ngu. Theo cháu, cái trí ngu mới là chân lý. “Ngu si hưởng thái bình”. Bởi vậy, cháu không đọc sách, không muốn làm kẻ có trí nhớ, trí tuệ và trí khôn.

– Hay lắm. Tao tưởng mày ngu, ai de mày khôn hơn tao. Mày có thể lập thuyết ngu đấy. Nhưng tại sao đã không, quá khôn để hiểu rằng “Ngu si hưởng thái bình”, mày còn theo tao, không ở lại lấy vợ sinh con ở Trảng Lớn ?

– Vì nhờ theo bác cháu mới khôn.

– Khôn và Ngu như Mâu và Thuẫn của anh chàng Hàn Phi Tử. Thế giới, loài người đầy rẫy mâu thuẫn. Mày có tính trở lại Trảng Lớn không ?

– Có.

– Mày thích ngu mà mày thèm khôn. Mày mâu thuẫn với chính mày. Mày không bao giờ trở lại Trảng Lớn đâu, cháu ạ ! Mày sẽ trở thành con người tổng hợp trí nhớ, trí tuệ, trí khôn và trí ngu. Rốt cuộc, mày là đứa đối địa nghịch thiên, chung thân bất mãn, chồng chất oan khiên. Mày sẽ giống Nễ Hành, không chết bởi tay Tào Tháo, Lưu Biểu mà bị bêu nhục bởi đám vô lại Hoàng Tổ. Tao yêu mày …

– Cám ơn bác.

– Mày yêu tao không ?

– Cháu yêu kính bác.

– Vậy phải đọc sách, suy nghĩ và chiêm nghiệm đời sống.

– Cháu vâng lời bác.

o O o

Tôi chỉ mơ hồ đoán rằng Lý Vô Danh là cái tên giả của một người không muốn tiết lộ tung tích của mình và cái nghề Sơn Đông bán thuốc trị sán lãi của ông ta nhằm ngụy trang một hành động nào đó. Tôi theo ông Lý ngót 4 tháng rồi. Chưa đọc thêm một cuốn sách, cũng chẳng thiết đọc báo. Ông Lý dạy tôi nhiều bài học thấm thía. Bài học giá trị nhất ông phả vào chuỗi ngày giang hồ của tôi là: “Cháu phải nghiến răng chịu đựng mọi nghịch cảnh, mọi nhục nhằn của đời sống. Đã lưu lạc giang hồ thì ví như trái hoang. Trái hoang mà chín sẽ ngon, lạ và ngát hương”. Tôi định, sẽ có một hôm, hỏi rõ thân thế ông Lý Vô Danh. Vào thời gian này, tình hình chính trị miền Nam đã ổn định. Các giáo phái hoặc đã quy thuận, hoặc bị quân chính phủ đánh tan tác chim muông. Ngôi vị của chí sĩ Ngô Đình Diệm vững chắc. Quân đội viễn chinh Pháp đã rời hết khỏi Việt Nam từ cuối 1955. Ông Diệm đã truất phế quốc trưởng Bảo Đại bằng cuộc trưng cầu dân ý, lên ngôi Tổng thống, tuyên bố thành lập nền đệ nhất Cộng Hòa, chọn ngày 26 tháng 10 làm ngày Quốc khánh. Nước Việt Nam có thêm một cuộc cách mạng … buồn cười do Hội đồng nhân dân cách mạng Việt Nam vận động lật đổ ông vua phong kiến thất thời, thất thế và thất nghiệp. Cách mạng 23 tháng 10 là cách mạng không cần cướp chính quyền vì quyền bính đã nằm gọn trong tay “cách mạng” từ 7 tháng 7 năm 1954. Cách mạng tháng 10 rất … nhân vị, khác hẳn cách mạng tháng 8, chỉ hơi giống nhau ở chỗ này: Cách mạng tháng 8 “thề phanh thây uống máu quân thù”, còn cách mạng tháng 10 thì “thề phanh thây quân xâm lăng!”. Dân gian rộn ràng khúc ca “Suy tôn Ngô tổng thống”. Đàng ngoài “Hồ Chí Minh muôn năm”. Đàng trong noi gương, “Ngô Đình Diệm muôn năm”. Nhân dân hai miền méo xệch miệng vì cái muôn năm lãng nhách, cái muôn năm không quá 40 năm và không quá 10 năm ! Văn nghệ ở giai đoạn này, từ hoài hương lấp sông Bến Hải chuyển sang tố cộng theo đúng chính sách của Bộ thông tin. Tố cộng vung vít. Thanh minh cũng tố cộng. “Thanh minh trong tiết tháng ba, Lệ là tảo mộ hội là đạm thanh” được sửa lại câu dưới là “Lệ là tố cộng, hội là suy tôn”… Ngô tổng thống.

Xe Sơn Đông bán thuốc trị sán lãi của chúng tôi, sau khi in dấu trên các đường làng Bà Rịa, Biên Hòa thì về Gia định. Chúng tôi bán thuốc ở các xã thuộc quận Bình Chánh. Dạo này, ông Lý thường đi uống rượu ngoài quán. Ông về nhà trọ thật khuya. Chúng tôi neo xe tại đây hàng tuần không thèm mưu sinh. Đã đến lúc tôi phải biết thân thế ông Lý Vô Danh rồi. Một đêm, thức đợi ông về, tôi nắm tay ông ta:

– Thưa bác, cháu có chuyện muốn nói.

– Chuyện gì ?

– Thân thế bác.

– Để làm gì ?

– Để theo bác hay bỏ rơi bác.

– Tại sao ?

– Vì mâu thuẫn Khôn Ngu. Và vì khi nào nên Khôn, khi nào nên Ngu, khi nào nên hy sinh và khi nào không nên hy sinh.

– Hay lắm.

– Thưa bác, câu này của ai ?

– Câu nào ?

– Câu cháu sắp đọc.

– Đọc đi !

– “Trượng phu trên đời, miếng cơm hớp rượu phải minh bạch”.

Ông Lý ôm lấy tôi:

– Bác hiểu rồi. Mày bắt đầu muốn trí nhớ. Mày mượn lời Võ Tòng.

Tôi nói:

– Thị Nại Am. Cháu xin lỗi bác.

– Mày hỏi, bác trả lời.

– Bác không buồn chứ ?

– Không.

– Thưa bác, tên thật của bác là gì ?

– Nguyễn Trọng Bình.

– Bác quốc gia hay cộng sản ?

– Quốc gia.

– Bác chống lung tung ?

– Diệm và Hồ Chí Minh thôi.

– Bác khỏi cần nói tên Đảng của bác. Cháu cũng từng theo Duy Dân, chưa tuyên thệ và đã bỏ cuộc.

– Duy Dân gần gũi bác lắm. Thế này …

Ông Nguyễn Trọng Bình bí danh Lý Vô Danh kể: Đảng của ông, ngoài Trung, bị mật vụ của Ngô Đình Nhu bắt bớ, thủ tiêu, giam cầm và truy nã. Đảng Cần Lao muốn trở thành một Đảng chuyên chế như Đảng Lao Động. Đồng chí của ông tản mạn khắp nơi, cơ sở của Đảng bị phá vỡ và chiếm lĩnh. Ông ta đã lưu lạc bên Tầu ít năm, biết nhiều cách mưu sinh tự túc. Do đó, ông giả vai giang hồ Sơn Đông bán thuốc ở các làng mạc miền Đông một thời gian rồi mới trở về quanh Sài gòn tìm lại các đồng chí.

– Bác đã gặp ai chưa ?

– Vài người, cấp thừa hành.

– Bác cần gặp cấp lãnh đạo ?

– Đúng.

– Vì thế bác đi uống rượu khuya.

– Đúng.

– Bác đang gặp khó khăn ?

– Sao cháu biết ?

– Thấy bác mất cái vẻ thản nhiên.

– Cháu sợ bác không ?

– Đáng lẽ cháu phải hỏi bác có sợ cháu không, vì cháu đã biết rõ bác.

– Không, bác không sợ cháu.

– Tại sao ?

– Vì bác biết xem tướng người và cũng đã đến lúc chúng ta chia tay.

– Tức là bác sợ cháu ?

– Không đâu. Bác chơi kịch mới. Đời sống luôn luôn thay đổi mà cháu.

– Bao giờ mình chia tay ?

– Ngay bây giờ.

Bây giờ là giữa tháng 12-1956. Tôi xa Sài gòn đã gần một năm. Tính ra, tôi đàn thuê, hát mướn cho ông Nguyễn Trọng Bình đúng 4 tháng 13 ngày. Ông đã trả tôi 2 ngàn đồng. Tôi hoàn lại ông Bình khoản tiền ông bảo chia lãi bán thuốc cho tôi.

– Bác đang gặp khó khăn.

Ông ta lắc đầu:

– Không phải khó khăn vì tiền. Cháu cần tiền ăn học nên người.

Tôi cười:

– Chẳng ai nên người nhờ tiền bạc cả, bác ạ ! Nếu sau này cháu nên người là nhờ những ngày theo bác.

– Cháu sẽ nên người.

– Cám ơn bác.

Ông Bình nhất định không nhận tiền của tôi. Ông dặn tôi để nguyên đồ nghề Sơn Đông trên xe rồi ôm chặt tôi, nói với tôi câu cuối cùng trước khi giã biệt:

– Hy vọng bác cháu mình sẽ gặp nhau. Đừng bao giờ quên, cháu chưa khôn lớn.

– Cháu nhớ.

Ông Bình rời nhà trọ. Đợi một lúc khá lâu, tôi mới đeo túi hành lý đơn giản ra đi, vất lại chiếc xe giang hồ, con khỉ, cây đàn và thuốc sán lãi. Tôi thèm chiếc xe Đức máy Sachs mà chẳng dám gỡ đem theo. Lầm lũi cuốc bộ tới Phú Lâm thì trời đã vỡ sáng. Tôi leo chuyến xe ô tô buýt sớm nhất, về Sài gòn.

o O o

Túi có hai ngàn tiền đàn thuê hát mướn công thêm hơn ba ngàn tiền kéo cưa xẻ gỗ, tôi trở lại Sài gòn lần này vững vàng. Làm con tính nhẩm, nếu ăn tiêu dè sẻn và nếu có chỗ ngủ nhờ, tôi có thể sống được 6 tháng yên ổn. Xuống bến xe Bến Thành, tôi luôn xe đi Hòa Hưng. Đường phố Sài Gòn đã đổi tên anh hùng, liệt sĩ, danh nhân Việt Nam hết. Tôi về Xóm quốc tế tìm Đặng Xuân Côn. Nó đã dọn nhà. Tôi lên Phủ đặc ủy định cư, Đặng Xuân Côn đã kiếm việc mới ở ngân hàng ngoại quốc nào đó. Tôi kiếm Nguyễn Xuân Nhân, nó cũng hết cư ngụ tại Trần Quang Khải. Tôi bối rối. Chưa đầy một năm giang hồ mà “dâu biển” quá xá.

Thế thì tôi đành đáp xe nhân dân lên Sài gòn, vào hẻm Casino ăn cơm sườn nướng, uống cà phê đá quán nhà cô Cúc. Ăn no căng rốn, lãng tử xách túi hành lý tới rạp xi nê ma Long Thuận, mua cái vé 5 đồng vào coi phim cũ. Năm đồng bạc vừa được đi cầu, rửa tay, rửa mặt, thưởng thức nghệ thuật thứ bẩy và ngủ thì rẻ quá. Thuở cầu tiêu Nhà Hát Tây mọc núi phân, dân di cư có máu mặt thường mua vé vô Long Thuận, bình dân hơn thì mua 2 cắc giấy vô cầu tiêu công cộng chợ Bến Thành. Dân di cư đến đâu là gây phiền toái ở đó. Tôi xem xi nê “pẹc ma năng”, ngủ “pẹc ma năng”. Thức ngủ, ngủ thức. Cho đến vãn xuất cuối cùng mới ra. Trước khi ra còn gỡ gạc màn đi tiểu, rửa tay, rửa mặt. Ăn một tô mì hai vắt, uống thêm ly đậu đỏ bánh lọc, tôi tới của ga Sài gòn đóng vai khách bộ hành chờ tàu sớm. Đã quen ngủ đường, ngủ chợ, tôi dùng túi hành lý làm gối, nằm duỗi chân thoải mái. Tiền bạc lần này cẩn thận lắm, phải thửa một thứ ruột tượng nhét vô rồi buộc chặt quanh bụng. Cứ mỗi lần trở giấc lại rờ rẫm kiểm soát xem còn hay mất. Tôi để riêng vài trăm bạc tiêu vặt ở ví, ở túi áo, túi quần. Phân tán mỏng “lực lượng” để bảo toàn “lực lượng”.

Tôi vụt thức vào giờ khởi hành của chuyến tầu ra Trung sớm nhất. Ga bến tấp nập, còi tầu thét muốn xé tan sương mù khiến hồn tôi gợn những đợt sóng giang hồ vặt. Tôi chưa được đi tầu hỏa. Tôi rất mong, ngày nào đó, thẩy cho ông soát vé tàu chút tiền để được nằm gối đầu lên túi hành lý ở toa chở hàng hóa, theo con tàu tới nhà ga xa nhất.

Mặc còi tầu thét, hành khách hối hả ra vô, tôi vẫn nằm bắc chân chữ ngũ, hút thuốc và nhớ lại những vần thơ tả cảnh tiễn đưa của Tế Hanh, Nguyễn Bính. Rồi tôi nhớ ông Nguyễn Trọng Bình có vẻ như là chiến sĩ cách mạng của Việt Nam quốc dân đảng. Tôi thích cái bí danh Lý Vô Danh của ông ta hơn tên thật. Mới xa người khách giang hồ già mà tôi tưởng đã xa ông ta lâu lắm. Tôi có nhiều kỷ niệm với ông ta. Kỷ niệm tôi nhớ nhất là buổi chiều ở Long Thành, ông ta bảo tôi hát bài Khúc ca ngày mùa cho ông ta nghe, rồi hỏi:

– Mày có nhận xét gì ?

Tôi thuộc bài của “sư phụ” Nguyễn Thịnh, đáp ngay:

– Lời ca của nhạc sĩ này thiếu chất thơ và không chịu ngậm chữ nghĩa.

– Loại nhạc này cần chi thơ và chữ nghĩa. Phổ thông là đủ rồi. Tao muốn mày nhận xét phần tả cảnh thôi.

– Thì tả cảnh thôn quê dưới trăng ngày được mùa.

– Thế thôi à ?

– Vâng.

– “Kìa thôn quê dưới trăng vàng bát ngát” là đêm hay là chiều ?

– Đêm ạ !

– “Ánh trăng chiếu” và “mừng trăng lên” càng là đêm chứ gì ?

– Vâng.

– Ấy thế mà đang đêm lại hóa chiều. “Lờ lững trôi đi trôi mãi trong chiều tà tiếng tiêu buồn êm quá”. Mừng trăng lên để giã gạo buổi chiều tà!

– Bác chẻ sợi tóc làm mấy ?

– Tao dạy mày nhận xét. Nghệ thuật còn đêm, chiều không phân biệt thì phân biệt sao nổi đen, trắng trong cuộc đời. Đen trắng, trắng đen trong cuộc đời lẫn lộn. Có khi đen hóa trắng, có khi trắng hóa đen. Không phải cuộc đời đâu. Thói đời đấy. Bởi thế, khi cần phẫn nộ thì chỉ phẫn nộ thói đời. Chứ cuộc đời rất đáng thương xót. Này cháu …

Ông ta chuyển mục:

– Bây giờ người ta dùng chữ nghĩa lung tung xòe.

Tôi hỏi:

– Thí dụ ?

– Mày học Truyện Kiều chưa ?

– Học lơ mơ.

– Kiều cắt tóc trao cho Kim Trọng là Kiều thề nguyện chung tình trọn kiếp với Kim Trọng. Tóc của người tình nữ trao tặng người tình nam gọi là tóc thề. “Tóc thề đã chấm ngang vai”, Nguyễn Du viết thế. Các ông thi sĩ, nhạc sĩ hôm nay lại tưởng tóc chấm ngang vai của thiếu nữ là tóc thê. Nên mới ông ổng hát: “Tóc thề thả gió lê thê, hãy tin ngày ấy anh về”, mới rên rỉ ngâm “Em tôi có mái tóc thê, ngày mai anh sẽ trở về cưới em”…

– Bác dạy cháu điều này nhằm mục đích gì ?

– Mục đích đọc sách, nhìn đời, nhận xét và chiêm nghiệm.

Giá đàn anh Nguyễn Văn Luyện của tôi từng trải và hào sảng như ông Lý Vô Danh, tôi đã không bỏ rừng Ban Mê Thuột. Tôi không cần triết học nhập môn, không cần Chu tri lục. Tôi cần những gì thiết thực cho đời sống luân lạc của tôi. Ông Lý Vô Danh chỉ mong tôi trở thành một người có văn hóa, dẫu tôi làm bất cứ nghề gì trong xã hội, cho dù là phu xích lô, tài xế tắc xi, tùy phái hay thợ hồ … Bất hạnh cho người tuổi trẻ là không được bậc thầy đời chân thật, chí tình hướng dẫn. Càng bất hạnh cho người tuổi trẻ bị đàn anh cấy vào tâm hồn những ảo vọng cách mạng. Nhiều tuổi trẻ ễnh ương đã biến thành bò tội nghiệp vì ảo vọng cách mạng, văn nghệ, chính trị của đàn anh. Bất hạnh cho tôi đã không được theo ông Lý Vô Danh đến khi ông nói “cháu khôn lớn rồi” khi chúng tôi chia tay nhau. Nếu cách mạng còn trong tôi hình ảnh nào đẹp nhất, hình ảnh ấy chỉ là ông Lý Vô Danh.

Nhưng tôi không thể nằm mãi ở cửa nhà ga Sài Gòn thương nhớ người chiến sĩ cách mạng giang hồ. Trời sắp sáng rõ. Tôi ngồi dậy, đeo túi hành lý bên vai, đi tìm cái máy nước công cộng ở đường Lê Lai, gần rạp hát Aristo, đánh răng rửa mặt. Rồi tôi ghé vào quán cà phê bình dân, gọi ly cà phê sữa nhấm nhá, hút thuốc và uống gỡ cả bình trà rẻ tiền. Sài gòn, hầu như, không có thư viện công cộng, tự do vào đọc sách. Có mỗi Thư viện trung ương ở đường Gia Long, đối diện Bộ Kinh tế thì phải có thẻ mới được vào. Muốn được cấp thẻ lại phải có bằng Trung học phổ thông. Thời kỳ này, thư viện Abraham Lincoln của Mỹ ở góc đường Lê Lợi và Nguyễn Huệ chưa mở. Tôi thiếu chỗ nghỉ chân để noi gương ông Châu Trí. Đành đi lang thang “trên vỉa hè Sài gòn” đọc bích chương quảng cáo dán tường và nhặt những tờ bươm bướm ngồi ghế đá công viên nghiền ngẫm văn chương mở quán, giới thiệu thành tích của Madame Vũ Nhân “hổ phù Ai cập, nước hoa tình ái” và đại nhạc hội do quái kiệt Trần Văn Trạch tổ chức, chờ trưa vào quá cô Cúc ăn cơm rồi mò về xi nê ma Long Thuận.

Tôi có một kỷ niệm thê thảm “công viên ghế đá” hồi tôi sống ở Nhà Hát Tây. Chúng tôi thường ra công viên trước của Nhà Hát Tây “Pháp ngữ thực hành” với lính Tây, lính Ma rốc, lính An giê ri … Một hôm, tôi gặp thằng Tây dân sự dắt con chó bec giê ngang qua. Con chó nhìn tôi mừng quýnh khiến chủ nó ngạc nhiên. Thằng Tây dừng lại chào tôi. Tôi chào nó. Nó lại gần tôi, giới thiệu tên nó là Louis, chủ Sporting bar ở đường Catinat, gần hiệu đàn Au Ménestrel. Nó rủ tôi đến bar của nó. Tôi đến. Nó cho tôi uống sirop soda và vặn đĩa Ngựa phi đường xa do ban Thăng Long hợp ca mà nó bảo nó thích lắm. Nó cho phép tôi rủ bạn bè đến Sporting bar chơi. Tôi rủ cả bầy Nhà Hát Tây. Một buổi chiều, nó mời riêng tôi ăn cơm ở nhà hàng Majestic rồi dẫn tôi về nhà nó trên lầu ba bin đinh Eden. Nhà thằng Louis sang trọng quá. Nó bảo tôi tắm gội, ngủ nhà nó đêm nay nói chuyện, nghe nhạc. Tôi tưởng bở ngủ lại. Đêm nó mò ra “ca na pê”, chỗ tôi nằm, ôm chặt tôi. Nó trần truồng như nhộng, lông lá gớm ghiếc. May cho tôi, nó ôm tôi và ngỡ tôi là con gái, do đó, tôi chưa bị ca bài “ai đau khổ vì bệnh trĩ !”. Tôi mở cửa chạy vội. Từ đó, hết dám “phờ răng xe pờ ra tic” và luôn luôn đề cao cảnh giác bọn da trắng.

Cứ kể ra, cuộc đời tôi cũng đã khối lâm ly. Qua ba ngày, sáng công viên ghế đá, chiều xi nê ma Long Thuận, đêm cửa nhà ga Sài gòn cũng chán, tôi qua xi nê ma Lê Lợi. Phim ở rạp Lê Lợi hay hơn nhưng vé đắt tiền gấp đôi. Ở rạp Lê Lợi, tôi được xem những phim đen trắng thật hay nhưng đau túi tiền, vì vậy tôi phải trở về Long Thuận, mỗi xuất hai phim, mỗi ngày thay phim mới. Có một tối, buồn vã vô cùng, tôi chui khỏi rạp Long Thuận sớm, lang thang ra bờ sông Sài gòn ngồi ngắm sông nước. Ngồi chán chê, tôi “nhổ neo”, tới xe bán sữa đậu nành định ăn cái bánh ngọt, uống ly sữa nóng rồi về Hôtel de la gare. Người bán sữa đậu nành ngó tôi chằm chằm:

– Cậu Long, hả ?

– Phải.

– Cậu cũng di cư à ?

– Vâng.

– Bấy lâu nay ở đâu ?

– Giang hồ đây đó.

– Cậu nhận ra tôi không ?

– Không, xin lỗi anh là ai ?

– Tôi là Đường, Lại Văn Đường, thiếu nhi thôn Tường An dạo nào ấy mà.

– À, Đường. Tôi nhớ rồi.

– Cậu lên thị xã, đi trọ học Hà nội quên hết và không biết thêm chuyện gì .

– Chuyện gì ?

– Tôi là rể ông lang Tặng, tôi lấy Thảo.

– Thế à !

Ông lang Tặng là bác rể của tôi. Chị Thảo, vợ anh Đường, là chị em con cô con cậu ruột thịt của tôi. Anh Đường kể, hồi tôi trọ học Hà nội, anh ta làm công cho ông bác rể tôi ở thị xã Thái Bình rồi lấy bà chị họ của tôi. Anh ta có người anh ruột, tên Lại Văn Xuân, vào Sài gòn năm 1940 làm cu ly đồn điền cao su Hớn Quản. Vì còn nghèo, chưa dám hồi hương, anh Xuân cho vợ về Bắc đưa anh Đường vô Nam.

– Chị Thảo có vào Sài gòn không ? Tôi hỏi.

– Tôi vất lại ngoài ấy, anh Đường đáp.

Anh ta nhìn tôi:

– Cậu không thay đổi gì mấy. Tôi hỏi cầu âu mà đúng. May quá xá. Hiện nay cậu ở đâu ?

– Lung tung.

– Chắc cậu đi một mình ?

– Phải.

– Nếu cậu không chê …

– Chê gì, anh Đường ?

– Chê anh em tôi nghèo.

– Tôi đang nghèo.

– Vậy cậu uống sữa, ăn bánh đi. Rồi tôi chở cậu về khoe với anh Xuân. Chắc anh ấy mừng lắm.

– Anh ở đâu ?

– Khánh Hội.

Tôi như ăn mày vớ được chiếu rách, như kẻ sắp chết đuối chớp được mảng mục, chẳng cần suy nghĩ, tôi nhận lời ngay. Và tôi vẽ tương lai tôi trên chiếc xe bán sữa đậu nành.

– Bán sữa khá không, anh Đường ?

– Khá lắm.

– Vốn liếng cái xe bao nhiêu ?

– Sáu bẩy ngàn.

– Tôi bán được không ?

– Không.

– Tại sao ?

– Cực lắm. Nghề này mạt rệp, cậu ham chi ?

– Tôi cực hơn một năm, quen rồi.

– Để anh Xuân kiếm nghề giùm cậu. Cậu có học, làm nghề nhẹ nhàng thôi.

Người anh em của tôi vẫn tưởng tôi là con ông Cả Hùng buôn bán phát đạt ngày xưa. Anh ta chưa biết tôi đã từng “chém tre đẵn gỗ trên ngàn”, đã từng cắt tranh xước máu tay; đã từng vác nứa chạy băng ba9ng qua cầu khỉ; đã từng gánh nước, tưới rau, bổ củi; đã từng kéo cưa xẻ gỗ; đã từng đàn thuê hát mướn dọc đường gió bụi. “Cậu không thay đổi gì mấy”. Anh Đường nhận xét thế. Tôi hãy còn như “ngày xưa còn bé”. Ông Lý Vô Danh nhắc nhở tôi: “Đừng bao giờ quên, cháu chưa khôn lớn”. Tôi mới 22 tuổi thiếu 8 tháng vài ngày. Nếu tôi muốn trở thành nhà văn viết tiểu thuyết, tôi phải đợi 18 năm nữa. “Ông đang sống đấy, tận hưởng cuộc sống đi ! Bốn mươi tuổi hãy viết tiểu thuyết. Cái hôm nay, ông viết vội, sẽ chỉ là bút ký, phóng sự tầm thường. Để nó thấm vào máu, nó gạn lọc qua thời gian, lúc ấy nó là tiểu thuyết”. Đoàn Trọng Thu nói vậy. 18 năm nữa, lâu quá. Có lẽ, tôi khó lòng chịu đựng nổi sự vất vưởng 18 năm. Do đó, tôi không mơ ước trở thành nhà văn làm gì, dù tôi vẫn thích hai câu thơ của Đoàn Trọng Thu:

Ồ, hai mươi tuổi, hai mươi tuổi
Vời ước mơ và ngẩn ước mong

Tôi rất tiếc đã không ngỏ ý với ông Lý Vô Danh về mộng ước văn chương của tôi.

– Tôi biết tôi đủ sức đạp xe sữa đậu nành, anh Đường ạ !

– Mình tính sau.

Thế là tôi sang Khánh Hội, chấm dứt những ngày “vương giả” ngày Hotel Long Thuận*, đêm Hotel de la gare…


Nhờ tôi, rạp Long Thuận sau biến thành khách sạn Long Thành.