Quyển 1 – Chương 31

Vân Thường.

Hà Hiệp đứng sững bên bàn, thong thả đặt tập quân báo vừa đưa tới xuống, quay sang nhìn ái thê.

“Công chúa không cần lo lắng. Đông Lâm chinh chiến liên miên, hao tổn rất nhiều binh lực. Trong khi đó, binh mã của Vân Thường ta đã được nghỉ ngơi dưỡng sức bấy lâu”, Hà Hiệp cười nhạt, giọng chắc chắn.

Diệu Thiên công chúa ung dung ngồi trên ghế, chăm chú nhìn phu quân đã xa cách lâu ngày, khuôn mặt vẫn anh tuấn, khí chất vẫn ung dung, chỉ thêm chút thỏa mãn khó phát hiện nơi đầu lông mày.

“Phải khai chiến thật sao? Khi yêu cầu quân Vân Thường – Bắc Mạc, chàng từng nói, đây là chiêu ép địch khuất phục, tạo thế có lợi cho Vân Thường ta. Trận chiến sẽ dừng lại đúng lúc, không xảy ra cảnh binh đao máu lửa.”

Hà Hiệp quan sát sắc mặt của Diệu Thiên, dịu dàng hỏi: “Công chúa sợ sao?”.

Diệu Thiên khẽ thở dài: “Sở Bắc Tiệp là tướng lĩnh có tiếng, binh lực Đông Lâm hùng mạnh, nay chỉ trong mấy ngày đại quân Đông Lâm đã tập kết tại biên cương Vân Thường, quân địch thế như thủy triều dâng, thiếp sao có thể không sợ? Còn một điểm nữa không thể không lo, Bắc Mạc vương tuy là liên minh, nhưng nếu ông ta không giữ tín nghĩa, nhân lúc chúng ta đối phó với Đông Lâm lơ là biên giới phía nam mà xuất binh tấn công ta”.

“Khiến công chúa lo lắng là lỗi của Hà Hiệp.” Hà Hiệp tiến lên trước, từ trên cao nhìn xuống, ánh mắt cực kỳ yêu thương vuốt ve khuôn mặt ái thê, rồi nói bằng giọng cực kỳ dịu dàng, “Công chúa hãy giao hết ưu phiền cho bản phò mã này. Hà Hiệp đảm bảo sẽ không để Công chúa phải chịu chút uất ức nào”.

Mũ phượng nặng trĩu ngay ngắn trên đầu che mất tầm nhìn lên của Diệu Thiên. Nàng nghển cổ, nhìn sâu vào đáy mắt Hà Hiệp, đôi mắt sáng trong, nụ cười ngọt ngào: “Đã có Phò mã, thiếp còn lo lắng điều gì?”. Nàng chậm rãi cúi đầu, lại bị bàn tay Hà Hiệp nâng cằm lên. Diệu Thiên hơi ngẩng đầu trong lòng bàn tay ấm, bỗng thấy bờ môi nóng hổi, hơi thở mạnh mẽ mà dịu dàng của Hà Hiệp lan tỏa giữa môi răng mình.

Cái chạm môi dần mạnh mẽ.

Diệu Thiên thở gấp, mặt đỏ bừng. Một lúc sau Hà Hiệp mới chịu buông ra, tim nàng vẫn đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Nàng vuốt lại những sợi tóc rối, liếc nhìn mình trong tấm gương xa xa, thấy rõ cả vành tai đỏ lựng thì vừa nũng nịu vừa giận dỗi lườm Hà Hiệp một cái, khẽ khàng: “Phò mã cũng thật là, đây là vương cung, đâu phải phủ phò mã. Nếu bọn thị nữ nhìn thấy, Phò mã bảo thiếp phải làm sao?”.

Hà Hiệp cười vang: “Công chúa thứ tội. Hà Hiệp xa Vân Thường đã nhiều ngày, trong lòng lúc nào cũng nhớ nhung Công chúa nên thật khó kiềm lòng”, Hà Hiệp hạ giọng: “Tối nay Công chúa phụng giá đến phủ phò mã được không? Quân Đông Lâm đang tập kết, mấy ngày nữa bản phò mã phải ra vùng biên cảnh ứng phó với Sở Bắc Tiệp. Trận này không biết sẽ kéo dài bao lâu, cũng chẳng biết bao lâu nữa mới gặp lại Công chúa”.

Bị hơi nóng của Hà Hiệp thiêu đốt vành tai, trái tim loạn nhịp, Diệu Thiên khẽ nói: “Phò mã không mệt sao? Đêm qua vừa về thành đô, sáng sớm nay đã phải vào cung, chắc vẫn chưa ngủ đủ giấc”.

Không khí dịu dàng trong gian phòng đang đến hồi nồng thắm, ngoài rèm bỗng có tiếng bước chân.

Bóng người ngoài rèm càng lúc càng lại gần, rồi dừng hẳn, giọng Lục Y cung kính vang lên: “Khởi bẩm Công chúa, Thừa tướng đại nhân cầu kiến”.

“Mời Thừa tướng vào.” Diệu Thiên lên tiếng, rồi quay sang Hà Hiệp, nụ cười ngọt ngào, hàng mày được chăm sóc kỹ càng hân hoan như hoa nở, giọng trách cứ, “Đều tại Phò mã, khiến mặt mũi thiếp đỏ thế này, lát nữa gặp Thừa tướng thì biết làm thế nào?”.

“Cứ để ông ấy nhìn thấy. Thừa tướng cũng là người từng trải, chẳng lẽ không biết chuyện phu thê ân ái?”, Hà Hiệp nở nụ cười ấm áp, ghé sát nàng, giọng rất khẽ: “Công chúa vẫn chưa trả lời bản phò mã, đêm nay có đến phủ phò mã không?”.

“Chàng thật là…”

“Ai thấy chăng nỗi khổ tương tư?”

Một nam nhân khoáng đạt đến lúc phóng túng càng khiến nữ nhân khó xử.

Diệu Thiên vừa giận vừa buồn cười, mím môi đáp: “Phò mã vừa về, thiếp đã vội vã đến phủ phò mã, quần thần biết được sẽ nghĩ thế nào? Diệu Thiên là phận nữ nhi, xem ra… phải sớm tìm giúp phò mã hai thị nữ xinh đẹp mới được”, ánh mắt giảo hoạt liếc qua Hà Hiệp.

Hà Hiệp vẫn bình thản, cười hỏi: “Đêm nay, ta sẽ chuẩn bị rượu và điểm tâm ở hậu viện phủ phò mã, thế nào?”.

Diệu Thiên cố nhịn cười, lườm Hà Hiệp một cái, rồi giơ tay ngọc khẽ đẩy vai chàng, giục: “Các tướng quân đang đợi bẩm báo việc quân, Phò mã mau đi đi. Cẩn thận gặp Thừa tướng, ông ấy lại góp lời”.

Hà Hiệp phong tình véo nhẹ má Diệu Thiên, rồi lùi lại một bước, nghiêm giọng hành lễ: “Công chúa kim an!”.

Dứt lời, Hà Hiệp vén tấm rèm châu, đúng lúc Quý Thường Thanh rẽ vào hành lang.

“Phò mã.”

“Thừa tướng đại nhân.”

Gật đầu đúng phép, hai người đi qua nhau. Quý Thường Thanh quay người, chăm chăm nhìn theo dáng hình Hà Hiệp tràn đầy tự tin và khí thế, im lặng hồi lâu, mới quay vào phòng, vấn an Diệu Thiên.

“Không cần đa lễ, mời Thừa tướng ngồi.”

Lục Y nhanh chóng dâng loại trà đậm chuẩn bị riêng cho Quý Thường Thanh. Thừa tướng nhận lấy, nhấp một ngụm, ngẩng đầu lên đánh giá vẻ hân hoan ngọt ngào không thể giấu trên khuôn mặt Diệu Thiên, cười nói: “Chẳng trách quần thần đều nói, chỉ cần nhìn tinh thần khí sắc Công chúa cũng biết Phò mã có ở thành đô hay không”.

Quý Thường Thanh làm tướng nhiều năm, chứng kiến Diệu Thiên công chúa trưởng thành, tình cảm hai người như cha con. Bị Thừa tướng chọc cười, Diệu Thiên giận dỗi: “Cả Thừa tướng cũng chê cười Diệu Thiên sao?”.

Quý Thường Thanh nhìn nàng đầy yêu thương, rồi đổi sang vẻ mặt hoàn toàn nghiêm túc, trầm giọng hỏi: “Công chúa đã nói với Phò mã chưa?”.

Vừa nghe đến lời này, ý cười trên khuôn mặt Công chúa bỗng chốc biến mất.

“Hỏi rồi,” nàng thở dài, chau mày, “Phò mã hoàn toàn không để ý đến việc đội quân hùng mạnh của Đông Lâm đang uy hiếp biên giới, cũng chẳng hề có ý định giao ra Bạch Sính Đình để ngăn chặn cuộc chiến này”.

“Công chúa, nếu xảy ra giao tranh với Đông Lâm, đối thủ lại là Sở Bắc Tiệp, thì dù Phò mã đích thân dẫn binh, cũng là cục diện thảm bại của hai bên, không có lợi gì với Vân Thường ta.”

“Ta có thể có cách gì?”, Diệu Thiên chau mày, “Lúc nãy nói về quân của Đông Lâm, Phò mã không nhắc một tiếng nào đến cái tên Bạch Sính Đình, có thể thấy Phò mã chẳng có ý giảng hòa với Sở Bắc Tiệp”.

Quý Thường Thanh không nói gì, lặng lẽ mở nắp và gạt mặt nước trà, rồi nhìn chăm chăm những gợn sóng trong đó, mặc kệ ánh mắt Công chúa đang hướng về mình. Một lúc lâu, hai tay mới đặt chén trà ngay ngắn xuống bàn, ngữ điệu chân thành: “Công chúa dùng kế của Phò mã, phái cả đại quân mạo hiểm tiến đến biên giới Đông Lâm, là để Sở Bắc Tiệp vì Bạch Sính Đình mà đoạn tuyệt với vương thất Đông Lâm”. Quý Thường Thanh ngừng một chút, mắt nhìn Diệu Thiên công chúa.

Diệu Thiên bảo: “Thừa tướng nói tiếp đi”.

“Qua hành vi không màng đại cục, mạo hiểm tập hợp quân sĩ tấn công Vân Thường của Sở Bắc Tiệp, có thể thấy Sở Bắc Tiệp và vương tộc Đông Lâm sẽ không còn đồng tâm hợp sức nữa. Chúng ta đã đạt được mục đích của mình, Bạch Sính Đình không còn giá trị. Phò mã giữ Bạch Sính Đình có hại mà chẳng có lợi”.

“Ý của Thừa tướng là…”

“Công chúa không những phải lo xa, mà phải phòng cả họa gần.” Ánh mắt cương trực của Quý Thường Thanh nhìn về phía Công chúa Diệu Thiên, trầm giọng: “Hiện Phò mã sắp xếp Bạch Sính Đình ở trong phủ phò mã. Thần nghe nói, Phò mã đã dặn, ngoài việc không cho ra ngoài một mình, Bạch Sính Đình còn được đối đãi chẳng khác gì chủ mẫu của phủ đệ”.

Hàng rèm châu trên mũ phượng khẽ động, Diệu Thiên tránh ánh nhìn của Quý Thường Thanh, trầm ngâm không đáp.

Hồi lâu, Diệu Thiên mới thờ ơ: “Ta biết rồi”.

Quý Thường Thanh lui ra, Lục Y bẩm báo: “Ngọ thiện[1] đã chuẩn bị xong”.

[1] Bữa ăn trưa của vua chúa.

“Ta không đói, bảo họ mang đi.”

Lại đuổi hết Lục Y và đám thị nữ ra ngoài, Diệu Thiên ngồi yên lặng trong phòng, cúi đầu suy nghĩ. Gió thổi hàng rèm châu, những viên đá quý sáng lấp lánh thỉnh thoảng va vào nhau phát ra tiếng leng keng.

Diệu Thiên bỏ mũ phượng trên đầu xuống, ngắm nghía hồi lâu rồi mới đặt lên bàn. Nàng lần lượt tháo nốt những thứ còn lại, mái tóc đen xõa dài, đổ trên vai. Diệu Thiên ngắm mình trong gương, khuôn mặt thon hơn một chút, càng thêm phần diễm lệ.

Nàng soi gương, nhẫn nại nhếch môi, đổi mấy nụ cười, đều vô cùng xinh đẹp. Đột nhiên, Diệu Thiên thu lại nụ cười, tiện tay úp mặt gương xuống bàn, gọi, “Lục Y!”.

Lục Y từ hành lang bước vội vào: “Có nô tỳ, Công chúa có gì dặn dò”.

“Ta muốn tắm gội.”

“Vâng, nô tỳ sẽ bảo người chuẩn bị ngay.”

Giọng ôn hòa vô cùng chắc chắn của Diệu Thiên vọng ra từ trong rèm: “Nhớ rắc thêm cánh hoa thất hương[2] hái trên núi tuyết vào nước tắm”.

[2] Một loài hoa thuộc họ Cửu lý hương hay họ Vân hương.

“Vâng”, Lục Y đáp.

Như chợt nghĩ ra việc gì, Diệu Thiên hỏi: “Loại phấn son mà tháng trước viên quan Hậu Thành dâng lên dịp sinh thần của ta, gọi là gì?”.

“Bẩm Công chúa, gọi là Phương Nhưỡng. Loại phấn son này được chế từ cánh loài hoa vô cùng quý hiếm, thoa lên mặt vừa mịn vừa đều, quan Hậu Thành nói, thoa thứ ấy, da dẻ sẽ mềm mại tựa hài nhi.”

Diệu Thiên chăm chú nghe, khẽ “ừ” một tiếng, rồi dặn: “Tắm gội xong, mang Phương Nhưỡng qua đây cho ta thử”.

“Vâng, thưa Công chúa.”

Nói xong, Lục Y đi chuẩn bị các việc.

Diệu Thiên đứng dậy, cúi nhìn chiếc váy công chúa muôn hồng ngàn tía trên người. Đây là chiếc váy do thợ may giỏi nhất Vân Thường làm, hoa cỏ muông thú trên đó cũng do mấy chục thợ thêu giỏi nhất trong cung bận rộn cả tháng trời tạo nên.

Tay rộng vạt dài, những chùm tua rua màu tím bạc rủ xuống chân, phong thái ung dung, quý phái vô cùng.

Đôi mắt đen láy của Diệu Thiên bỗng ánh lên tia chờ đợi và kiêu ngạo.

Hai vị danh tướng đương thời, tiểu Kính An vương và Trấn Bắc vương luôn bị người đời đem ra so sánh.

Nàng đường đường là Công chúa Vân Thường, là thê tử của Hà Hiệp.

Vậy hình dáng của Bạch Sính Đình đã cướp đi trái tim Sở Bắc Tiệp sẽ như thế nào?

Bộ dạng lúc này của Bạch Sính Đình, Túy Cúc là người biết rõ nhất.

Hai người tay không đến đây, chỉ với hai bộ quần áo, chặng đường dài vất vả, vừa bẩn vừa mệt. Khi họ tới đây, mọi thứ trong phủ phò mã đều đã được chuẩn bị sẵn. Những đồ dùng hàng ngày nằm ngay ngắn ở nơi dễ lấy, không cần phải hỏi tới.

Trên bàn đặt chiếc gương đồng và lược ngọc Sính Đình vẫn dùng ở vương phủ Kính An. Trong tủ là những chồng y phục ngay ngắn, toàn những màu Sính Đình yêu thích, kích thước vừa vặn với nàng.

Trên chiếc bàn trong phòng đặt cây đàn cổ ngàn vàng khó kiếm, bên cạnh là lọ mã não đựng đầy những viên sỏi nhỏ đủ màu, tựa như một lọ đá quý.

Mùi hương ấm nồng đượm mà không hề ngột ngạt tỏa khắp gian phòng.

Bình hoa bên cửa sổ nghiêng nghiêng cành mai trắng mới cắt, vài nụ hoa e ấp điểm xuyết bên cạnh những đóa hoa nở rộ.

Tất cả hoàn mỹ đến độ khiến lòng người se lạnh.

Như thể Sính Đình đã ở đây từ rất lâu, một suy đoán khác khiến lòng người băng giá, rằng Sính Đình sẽ ở đây, ở đây mãi mãi.

Từ sáng sớm Hà Hiệp đã vào cung, để lại hai con chim nhốt trong lồng đang dần làm quen với môi trường mới.

Sính Đình ở hậu viện, khuôn mặt nàng đã không còn nỗi đau cùng cực của đêm mồng Sáu khi trăng sắp ẩn sau tầng mây. Thay vào đó là sự thản nhiên đến mơ hồ, như ngọn núi chìm trong sương mù, người ngoài chỉ nhìn thấy một khoảng xanh nặng nề, mà chẳng nhận ra đường nét bên trong.

Sự thản nhiên cổ quái đó khiến Túy Cúc không dám lại gần, chỉ lặng lẽ đứng bên lan can gỗ cách một dãy hành lang, dõi theo bóng dáng nàng.

Biết ruột gan Sính Đình đã đứt thành từng khúc, mà sao lưng vẫn thẳng thế kia, Túy Cúc khẽ thở dài.

Túy Cúc không thể hiểu được, ngoài bản thân Bạch Sính Đình ra, liệu còn ai có thể hiểu được nàng?

Túy Cúc lại thở dài. Gần nhau là thế, có thể nhìn rõ khuôn mặt, mà chẳng thể thấy rõ trái tim Sính Đình.

Cách một dãy hành lang, Túy Cúc thở dài đến rớt nước mắt, bất giác giơ tay lên lau. Đúng lúc ấy, Sính Đình quay lại, khẩn thiết vẫy tay với Túy Cúc.

Túy Cúc sững người. Từ lúc đổ bát thuốc, gục xuống đất khóc, Sính Đình như đã biến thành một linh hồn, hoặc một pho tượng gỗ, ánh mắt vô cùng mơ hồ, sâu xa khó hiểu chẳng nói một lời. Suốt chặng đường đến đây, Túy Cúc vẫn chưa thấy hành động nào của Sính Đình có sinh khí như lúc này.

Tuy chỉ là một cái vẫy tay, nhưng nó cũng khiến người ta quá đỗi vui mừng.

Túy Cúc vội vàng vòng qua hành lang, đến bên Sính Đình: “Bạch cô nương sao thế? Cô nương muốn ăn gì không?”.

Sính Đình lắc đầu, cảnh giác nhìn xung quanh, thấy không có ai, bèn hạ giọng: “Đang đạp ta đây này”, khuôn mặt nhợt nhạt ánh lên nét cười dịu dàng.

Sau bao ngày tuyệt vọng bi thương, đây là nụ cười đẹp nhất của Sính Đình mà Túy Cúc từng thấy.

“Nhanh thế sao?”, Túy Cúc chau mày, “Chắc cô nương nhầm rồi, mới được bao lâu chứ, tháng này thai chưa thể máy được đâu”.

“Ta không nhầm”, Sính Đình cắn môi, “Rõ ràng đang cử động mà”. Biểu cảm tinh tế trong thoáng chốc khiến Túy Cúc nhớ về giai nhân thanh tú từng vô cớ gây sự trong lòng Sở Bắc Tiệp.

Hồi ức không hẹn mà đến. Sau một đêm tuyệt vọng đó, đây là lần đầu tiên ký ức trở lại không nhuốm màu đau khổ…

Biệt viện ẩn cư thoang thoảng hương mai. Hồng Tường cứ hay chạy tít đi đâu. Thị vệ trông coi khắp nơi, hễ gặp nhau là họ thường chào hỏi mấy câu. Mạc Nhiên lúc nào cũng lãnh đạm, nhưng bụng dạ rất tốt, còn tỉ mỉ dịu dàng. Các đại nương bên nhà bếp mỗi lúc đưa cơm qua, lại thân thiết hàn huyên đôi ba lời. Mỗi khi Bạch Sính Đình ăn được chút gì, bước chân trở về bếp của họ cũng vui vẻ nhẹ nhàng hơn.

Hình bóng Sở Bắc Tiệp ở đâu, trái tim Bạch Sính Đình ở đó. Nàng gảy đàn, chàng đứng lặng một bên, khi nàng ngẩng lên, ánh mắt hai người chạm nhau, ngọt ngào đến mức không thể chia xa.

Sắc tuyết đẹp tựa trong tranh.

Giờ hồi tưởng lại, Túy Cúc mới biết những ngày tháng trong biệt viện ẩn cư thật đáng quý biết chừng nào…

Bàn tay ngọc khẽ huơ trước mặt, Túy Cúc mới sực tỉnh: “À… Cô nương…”.

“Ta không thể ở lại chỗ này”, giọng nói nhẹ nhàng của Sính Đình ẩn chứa quyết tâm sắt đá.

Không thể để Hà Hiệp biết đến sự tồn tại của hài nhi.

Nhưng giờ hai người đang bị giam giữ ở đây, bụng Sính Đình cũng ngày một lớn, chắc chắn Hà Hiệp sẽ phát hiện ra.

“Cô nương, chắc chắn Vương gia sẽ đến cứu cô nương sớm thôi”, lời vừa dứt, Túy Cúc đã hối hận.

Biểu cảm của Sính Đình như tầng băng mỏng kết trên mặt sông vào ngày đông, đột nhiên bị người ta giẫm mạnh, nát tan trong phút chốc.

Sính Đình quay lại, ngồi xuống chiếc ghế đá trong hậu biện. Nàng cúi đầu khiến Túy Cúc không nhìn rõ sắc mặt, hồi lâu mới lên tiếng, giọng xa xăm: “Túy Cúc, cầu xin ngươi một việc…”.

Túy Cúc rất hối hận vì đã lỡ miệng nên vội hạ giọng: “Túy Cúc sai rồi, sau này Túy Cúc sẽ không nhắc đến nam nhân đó trước mặt cô nương nữa”.

Lúc này, Sính Đình mới ngẩng lên nhìn Túy Cúc, hồi lâu, nàng chậm rãi đưa tay về phía Túy Cúc.

Túy Cúc nắm chặt tay Sính Đình, quỳ xuống, ngẩng đầu bảo: “Cô nương không cần nói gì cả, Túy Cúc hiểu rồi”.

Hai bàn tay mềm yếu trắng nõn nắm lấy nhau, càng nắm càng chặt.

Tuyết bay bay, hoa rơi lệ.

Càng sợ đau lòng, lại càng bị người khác làm cho đau lòng.

Cây đàn cổ Phượng Đồng đã không còn nữa, bàn tay ấm áp vuốt mái tóc đen đến nay đã chẳng còn ấm áp.

Chàng vẫn là bảo đao, cung khỏe, chí ôm toàn thiên hạ, thiếp đã không còn là thân bồ liễu hồng nhan mơ với gió trăng.

Trăng đã chếch, đã nghiền nỗi tương tư khắc cốt ghi tâm tan thành tro bụi.

“Sẽ có một ngày, nàng biết thế nào là nỗi đau xuyên tim.”

Nàng đã biết rồi.

Chỉ cần đau một lần, nàng đã biết.

Đau nhưng chẳng phải hoàn toàn không có kết quả, ít nhất trong bụng nàng giờ đã có thêm một sinh linh bé nhỏ. Trong hình dáng mỏng manh của nàng, một trái tim đã vỡ lại có một trái tim khác hình thành.

Trái tim đó tuy nhỏ, cũng có thể vẫn chưa hình thành toàn vẹn, nhưng nhịp tim khỏe mạnh nhường ấy, sẽ không ai ngăn nổi sức sống mãnh liệt này.

“Dù thế nào cũng phải bảo vệ hài nhi”, Túy Cúc khẽ nói, “Cô nương đi cả chặng đường xóc, lại đau lòng sầu muộn, trước hết phải vứt bỏ muộn phiền, ăn ngủ cho tốt. Để Túy Cúc đi làm chút canh dưỡng thai cho cô nương”.

“Tuyệt đối không được”, Sính Đình phản đối, “Hà Hiệp tinh thông y thuật, nếu biết ngươi nấu loại canh này, chắc chắn sẽ hiểu ra mọi chuyện. Việc quan trọng trước mắt là phải tìm cách trốn đi”.

Mắt Túy Cúc sáng lên: “Cô nương đã nghĩ ra cách rồi?”.

Sính Đình chau mày, khẽ lắc đầu: “Hà Hiệp không phải nhân vật tầm thường, muốn ra tay ngay tại nơi của Hà Hiệp, thực rất khó…”.

“Vậy…”

“Nhất định phải nghĩ cách”, ánh mắt Sính Đình khẽ chuyển, dừng bên chiếc bàn đá.

Trên viền chiếc bàn đá có khắc ba chữ thể Triện nho nhỏ, “Phủ phò mã”.

Phủ phò mã. Phò mã Vân Thường.

Binh quyền của Hà Hiệp ở Vân Thường đều nằm ở hai chữ “phò mã” này.

Nhìn chăm chăm vào ba chữ ấy, hàng lông mày đang chau từ từ giãn ra, Sính Đình thở phào một hơi, lẩm bẩm: “Không biết Công chúa Vân Thường là người như thế nào…”.

Nghe nói, Công chúa của Vân Thường khuê danh là Diệu Thiên.

Xán lạn tựa hoa xuân, đoan trang kiều diễm.

Năm xưa khi còn nhỏ, Sính Đình được đọc sách cùng thiếu gia, thỉnh thoảng thầy giáo có việc ra ngoài, họ cũng tìm đủ mọi cách để được đi chơi. Họ thường sang phủ vương tử của Hà Túc, gặp gỡ, tám chuyện cùng đám con cái các vị trong vương tộc. Thỉnh thoảng họ cũng nhắc đến những chuyện phong lưu của vương tộc Vân Thường, cuối cùng luôn kết thúc bằng hai tiếng: “Đáng thương”.

Nghe nói số mỹ nhân trong vương cung Vân Thường luôn ít hơn so với vương cung bốn nước. Đại vương và Vương hậu không được tùy ý thân mật. Vương cung rộng lớn như vậy, nhưng nơi duy nhất họ có thể ân ái cùng nhau lại là cung điện riêng của Vương hậu. Ra khỏi cái tổ ấm cỏn con này, dù có thân mật đến cỡ nào họ cũng phải ngồi đoan trang, tách thành hai phía.

“Thật đáng thương, chẳng trách Vân Thường vương chỉ có một công chúa.”

“Kìm nén như thế, có được một nàng công chúa đã là tốt lắm rồi.”

Đám con cháu quý tộc vừa hiểu chút chuyện đời nên nói năng chẳng hề kiêng dè, xuýt xoa cảm thán. Nghĩ mình sống trên đất Quy Lạc phong tục phóng khoáng, tình chàng ý thiếp, nước đến thành dòng, thì cảm thấy may mắn.

“Công chúa cũng là mệnh khổ. Quy Lạc chúng ta, Công chúa xuất giá đều ở trong phủ phò mã, phu thê sớm hôm cận kề, muốn làm gì thì làm. Vân Thường không thế, sau khi xuất giá, Công chúa sẽ vẫn ở trong vương cung, chỉ khi nào muốn làm cái chuyện phong hoa tuyết nguyệt kia mới thông báo cho phò mã, nói rõ đêm nào sẽ qua.”

“Ha ha! Vậy một tháng mấy lần, chẳng phải đều bị người ngoài biết hết sao? Chỉ cần đếm số lần xe ngựa của Công chúa đến phủ phò mã là đủ biết.”

Sính Đình đứng sau thiếu gia, nghe bọn họ cợt nhả bỗng vô cùng xấu hổ. Nàng kéo Dương Phượng ra sân tìm nơi liễu rủ xanh biếc, chọn tảng đá lớn ngồi xuống, tâm sự chuyện nữ nhi.

Chuyện xưa đã không còn. Quay đầu nhìn lại, cảnh vẫn đây mà người chốn nao.

Giờ Sính Đình chỉ có thể nhìn về phía trước. Thiếu gia khi xưa còn cười đùa tán chuyện Công chúa Vân Thường đáng thương, nay đã trở thành chủ nhân của phủ phò mã Vân Thường.

Có điều, phò mã đến từ Quy Lạc và Vân Thường công chúa chốn vương cung kia, rốt cuộc ân nghĩa phu thê thế nào?

Dẫn binh ra tận biên cương, xâm phạm Đông Lâm, bao vây biệt viện ẩn cư, đưa chiến lợi phẩm quay về… Tính ra, Hà Hiệp đã xa Công chúa nhiều ngày rồi.

Phu thê xa nhau, còn hơn cả tân hôn.

Liệu có tương tư?

Nếu là người đó, xa một ngày trở về, giống như cả đời chưa được gặp nhau, phóng khoáng chiếm đoạt, khiến nàng cả đêm không thể ngủ yên, xin tha mà vẫn bị chìm trong ân ái.

Người đó…

Tim nàng bỗng quặn thắt, tựa như hàng ngàn mũi tên móc sẵn vào tim, giờ bị người ta sơ ý giật mạnh một cái. Sính Đình kinh hoàng, bấm chặt móng tay vào lòng bàn tay.

Không được nghĩ.

Không được nghĩ.

Không nghĩ tới nữa!

Thở sâu, nàng ép dòng suy nghĩ quay trở về ba chữ “Phủ phò mã”.

Nắm binh quyền chưa lâu, để củng cố địa vị của mình, chắc chắn Hà Hiệp sẽ phải dỗ dành ái thê. Tiểu Kính An vương đã mất đi gia quyến trong trận đấu chính trị ở Quy Lạc, chịu đủ mọi nỗi khổ, chắc chắn hắn hiểu rõ sự ủng hộ của Vân Thường công chúa quan trọng đến nhường nào.

Hà Hiệp sẽ trổ hết chiêu thức và tài năng để Công chúa điện hạ cúi đầu xưng thần.

Trở về thành đô, đêm đầu tiên tinh thần thoải mái, chẳng phải chính là lúc thích hợp cho tình cảm ngọt ngào, để buông màn đầu giường sao?

Trầm tư hồi lâu, Sính Đình quay sang nhìn Túy Cúc: “Sáng sớm nay, Hà Hiệp đã ra ngoài, chắc vào cung gặp Công chúa đúng không?”.

“Tắm gội xong, Hà Hiệp ăn vận chỉnh tề rồi đi, chắc tới gặp Công chúa”, Túy Cúc nghĩ một lát, “Chắc chắn phải vội rồi, nói gì thì Công chúa cũng là chủ nhân của Vân Thường mà”.

Thấy Sính Đình có vẻ suy nghĩ, ánh mắt chắc chắn vài phần, lại như có chuyện gì nghĩ mãi không ra, hàng mày thanh tú chau lại, Túy Cúc dò la: “Có phải cô nương đã nghĩ ra cách gì không? Liên quan đến Vân Thường công chúa?”.

Rõ ràng đang gặp phải chuyện nghĩ không ra, Sính Đình khẽ lắc đầu, rồi lại nhìn Túy Cúc chằm chằm, im lặng hồi lâu mới hỏi: “Ngươi có phương thuốc nào có thể tạm thời đổi mạch của ta, để khi Hà Hiệp bắt mạch vẫn không phát hiện ra chân tướng? Một đêm cũng được”.

Bản thân vốn tinh thông dược lý, Sính Đình cũng biết rõ việc này vô cùng khó khăn.

Phương thuốc ấy phải vừa hữu hiệu vừa không làm ảnh hưởng đến thai nhi. Hơn nữa, trong lúc bị giam lỏng thế này, những phương thuốc Túy Cúc cần đều phải thông qua người phủ phò mã, phải làm thế nào Hà Hiệp mới không nghi ngờ?

Túy Cúc đáp: “Cô nương đang kiểm tra y thuật của Túy Cúc sao? Phương thuốc này, đừng nói là Túy Cúc, ngay cả sư phụ của Túy Cúc cũng chẳng thể chế ra”.

Sính Đình cũng biết không có quá nhiều hy vọng, sắc mặt ảm đạm, khẽ nói: “Đây là điểm mấu chốt mà chúng ta không được lơ là, nếu không tính kỹ bước này, chúng ta chẳng thể manh động”.

Túy Cúc bỗng nhếch môi, nở nụ cười khoái trá: “Không có phương thuốc cũng chưa phải là không có cách khác. Túy Cúc chỉ cần bảy cây kim bạc, đảm bảo trong đêm nay, Hà Hiệp không thể phát hiện ra mạch thai của cô nương”.

“Châm cứu?”, ánh mắt Sính Đình quá đỗi vui mừng.

Tuyệt chiêu của thần y Hoắc Vũ Nam chính là châm cứu.

“Có điều, việc này chỉ có thể dùng một lần, dùng nhiều sẽ không tốt cho thai nhi”, Túy Cúc thành thật, “Hơn nữa, sau khi châm cứu, mạch tượng của cô nương không được bình ổn như thường, mà hơi hỗn loạn”.

“Thế càng tốt!”, Sính Đình khẽ đập tay lên bàn đá, đôi mắt đen rõ thấp thoáng mấy phần ánh sáng của trước kia, giọng rất khẽ, “Ta đang muốn Hà Hiệp nghĩ ta bị bệnh”.

“Nhưng còn kim bạc…”

“Kim bạc thì có khó gì? Hà Hiệp đã dặn, người trong phủ phò mã phải đối xử với ta như chủ mẫu.” Ánh mắt nàng nhìn về phía hai thị nữ đang thập thò bên đầm nhỏ đối diện, “Bảo họ đi lấy, họ lại không dám đi sao?”.