Quyển 2 – Chương 45

Thật ấm áp.

Ai đã từng trải qua gió tuyết ở sơn mạch Tùng Sâm, qua đêm nơi đá băng đất lạnh mới có thể thực sự cảm thán trước sự ấm áp trong chiếc chăn bông dày sụ.

Xương gãy đau nhức đến co giật, người hôn mê đến mấy cũng phải tỉnh dậy.

Mở choàng mắt, Túy Cúc không kìm nổi mà đưa tay chạm vào vết thương. Có người đã quấn qua loa chỗ gãy giúp nàng, dưới lớp vải băng bó thoảng mùi thảo dược.

Nhưng vẫn có cái gì là lạ, nàng cau mày nghĩ một lúc, lại thò tay vào trong chăn, chạm phải làn da trơn mềm của chính mình.

“A…” Túy Cúc thất kinh, xấu hổ rụt tay.

“Ha ha.” Từ góc tối của căn phòng bỗng vang lên giọng cười giễu cợt của một nam nhân.

Túy Cúc trừng mắt: “Y phục của ta đâu?”.

“Ở trong đất tuyết.”

Đúng rồi, đất tuyết, Dương Phượng, cứu viện…

Sính Đình…

Chết rồi, Sính Đình!

Nàng vội vã sờ lên tóc, bên trên không có thứ gì.

“Trâm dạ minh châu của ta?”, Túy Cúc lo lắng hỏi.

“Ở trong đất tuyết. Khó khăn lắm ta mới tìm thấy thi thể của một nữ nhân, rồi cài cây trâm vào đó. Có điều, chắc đến một nửa người đã vào bụng sói.”

“Bao lâu rồi?”

“Cái gì bao lâu rồi?”

Trong lòng lo lắng cho Sính Đình, Túy Cúc hỏi dồn dập: “Từ lúc ngươi đuổi ta vào đàn sói cách bây giờ bao lâu rồi? Nửa ngày? Hay một ngày? Ta phải làm thế nào mới tìm lại được y phục và cây trâm của ta ngươi bỏ trong tuyết? Nhất định ta phải tìm cho bằng được!”.

“Nửa tháng.”

“Cái gì?”, Túy Cúc nhìn về phía góc phòng vẻ không thể tin.

Phiên Lộc bước ra khỏi bóng tối, tay vẫn nghịch cây cung tinh xảo, nhếch môi: “Tuyết trên đường đã tan cả rồi. Ngươi đã ngủ được nửa tháng”.

Như bị ai đâm thẳng vào ngực, suýt chút nữa ngạt thở, Túy Cúc lắc đầu, nói: “Không thể nào, không thể nào!”.

Ba ngày, Sính Đình nói sẽ đợi ba ngày.

Sính Đình đang ở trên núi đá trong sơn mạch Tùng Sâm với mạch tượng đã loạn.

“Bản lĩnh la lối của ngươi, ta đã lĩnh giáo đủ rồi. Nếu không làm ngươi hôn mê, sao mang ngươi đi được?”

“Ngươi…”

Hắn ngắt lời, hỏi: “Ta cứu mạng ngươi, sao còn không đa tạ?”.

Túy Cúc giận dữ nhìn người trước mặt, im lặng một lúc lâu, bỗng nghiến răng nghiến lợi hét lên: “Ngươi là đồ khốn! Tên trời đánh! Kẻ đáng chết! Sao ngươi hại ta? Rồi lại cứu ta? Ta phải giết ngươi! Giết ngươi!”.

Mắng mỏ hết hơn nửa canh giờ, sức cùng lực kiệt, nàng thở hổn hển, vết thương trên đùi lại đau dữ dội, nên đành phải dừng lại, ôm chăn nằm trên giường thở dốc.

Nhưng da mặt tên Phiên Lộc không biết được làm bằng gì, dù Túy Cúc có nói khó nghe đến đâu, hắn vẫn thờ ơ đứng đó, mặc cho lời mắng mỏ chui lọt vào tai. Chỉ đến khi Túy Cúc dừng lại, hắn mới hỏi: “Ngươi mắng đủ chưa?”.

“Chưa đủ!” Nỗi bi phẫn trong lòng Túy Cúc sao có thể mắng mà hết được? Nàng ngẩng phắt đầu, lại nghiến răng nghiến lợi lôi hết những câu chửi khắp tứ quốc ra mà mắng thành bài bản.

Phiên Lộc nghe mãi, nghe mãi, khẽ mỉm cười, khoanh tay đứng bên tường nhìn. Túy Cúc càng hận, hít một hơi thật sâu, càng mắng càng hăng.

Vừa cười vừa nghe một hồi, bỗng Phiên Lộc không cười nữa, sắc mặt sa sầm, nói: “Đủ rồi, ngươi còn nói thêm một câu nào nữa, ta sẽ kéo chăn của ngươi ra”.

“Ngươi…”, Túy Cúc khựng lại, im bặt.

Vốn không sợ chết, nhưng lúc này đang chẳng mảnh vải che thân dưới chăn, nếu bị hắn kéo chăn ra nhìn cho hết, đến lúc chết nàng còn mặt mũi nào mà gặp ma? Nữ nhân khắp thiên hạ, có mấy người không sợ sự uy hiếp này?

Thấy nàng như vậy, Phiên Lộc nở nụ cười vô cùng tà ý.

Im lặng một lúc, Túy Cúc như dịu đi, lạnh lùng: “Ta không cần ngươi cứu mạng, hãy giết ta đi”. Qua cơn tức giận, nỗi ai oán dâng lên, nàng co người trong chăn, quay đi chỗ khác.

Nghĩ đến Sính Đình ở trên núi tuyết nửa tháng nay, có khi đã chẳng còn trên thế gian, nước mắt Túy Cúc lại trào ra.

Nhưng trong lòng nàng lại có chút hy vọng, nghĩ tên xấu xa này tưởng nàng là Bạch Sính Đình, vậy cũng bớt được một bọn người tìm cách hãm hại Sính Đình trên sơn mạch Tùng Sâm. Biết đâu ông Trời đoái thương, cho Sính Đình một con đường sống.

Nghĩ như vậy, nàng những mong được chắp thêm đôi cánh bay đến sơn mạch Tùng Sâm để xem xem. Nhưng, bộ dạng nàng lúc này có thể đi được đâu?

Tuyệt đối không thể để tên ác nhân trước mặt biết được bí mật ấy.

Nước mắt như chuỗi hạt trân châu bị đứt, lăn dài trên má.

Phiên Lộc thấy nàng co rúm một góc, nhỏ bé trên giường, bờ vai run run, chắc là đang khóc thì cũng chẳng thèm để ý. Hắn quay đi, một lúc sau, bê bát cơm trở lại.

“Ăn chút gì đã.”

Túy Cúc đâu nghĩ đến chuyện ăn, đang hận hắn như thế nên cắn răng chẳng thèm lên tiếng.

Thấy nàng vẫn nằm im, thừa biết nàng đang nghĩ gì, Phiên Lộc lạnh lùng: “Không phải ta đang cầu xin ngươi, mà là đang ra mệnh lệnh cho ngươi. Ngoan ngoãn mà ăn, để ta ra tay, đừng trách ta không thương hoa tiếc ngọc”.

Cảm giác thấy cái chăn bông đang đắp trên người đang bị kéo ra, Túy Cúc sợ hãi, vội vàng ngồi dậy, túm chặt cái chăn, vừa hoảng hốt vừa giận dữ: “Ngươi… ngươi định thế nào?”.

Khóe môi Phiên Lộc lại nhếch lên một nụ cười, ánh mắt vô cùng hung hãn: “Vất vả lắm ta mới cứu được ngươi về đây, trên đường ngày nào cũng phải bón nước cháo cho ngươi ăn, không biết đã tốn bao nhiêu công sức. Nếu ngươi định tìm đến cái chết, hãy để ta đòi lại chút công sức đã”.

Hắn giơ tay ra, Túy Cúc vội vàng co rúm lại trên giường, ánh mắt khiếp sợ.

Cố ý dọa nàng, tay Phiên Lộc giơ ra đến nửa chừng thì dừng lại, khoanh trước ngực, uể oải dựa lưng vào tường, hất hàm về phía cơm canh đặt bên giường: “Ăn sạch cho ta”.

Đôi mắt sáng hằn những tia máu, Túy Cúc giận dữ trừng trừng nhìn người bên cạnh. Thấy hắn lại có vẻ sắp ra tay đến nơi, nàng đành miễn cưỡng bưng bát cơm lên, và vài hạt.

Túy Cúc đã chịu đủ đói khát trên núi tuyết, sau khi hôn mê chỉ uống toàn nước cháo, trong lòng tuy buồn rầu oán hận, nhưng ăn một hai miếng, bụng đã sôi lên sùng sục, càng ăn càng thấy ngon.

Cuối cùng, không những nàng ăn hết một bát cơm, mà còn ăn sạch cả hai đĩa thức ăn.

Buông bát đũa, ngẩng đầu lên, mới phát hiện tên ác nhân đó vẫn đứng quan sát mình ăn, Túy Cúc bất giác trừng mắt nhìn hắn.

Sợ Phiên Lộc kéo chăn ra, nàng chỉ biết trừng mắt nhìn, mà không dám nói thêm một tiếng.

“Ngươi vẫn thường trừng mắt nhìn Trấn Bắc vương thế này sao?”, Phiên Lộc bỗng hỏi.

Túy Cúc sững người, chợt nhớ đến việc hắn vẫn tưởng mình là Bạch Sính Đình, tất nhiên nàng sẽ chẳng trả lời câu hỏi này của Phiên Lộc, chỉ mím môi đáp: “Không liên quan đến ngươi”.

Phiên Lộc không lên tiếng, lặng lẽ nhìn Túy Cúc.

Ánh mắt hắn vừa to gan vừa vô lễ, Túy Cúc đã cuộn mình trong chăn, nhưng vẫn có cảm giác cả người không mảnh vải che thân đang bị người ta nhìn trộm. Nàng cố gắng chịu đựng, đến lúc không thể chịu thêm bèn nhìn thẳng vào mắt Phiên Lộc, gằn giọng hỏi: “Ngươi nhìn gì?”.

Phiên Lộc không trả lời, vẫn tiếp tục nhìn nàng, một lúc sau mới nói: “Người ta đồn rằng ngươi không đẹp, nhưng ta thấy đâu phải vậy”.

Trong lòng vô cùng sợ hãi, Túy Cúc cảnh giác nhìn hắn, mười đầu ngón tay túm chăn càng chặt.

Hai người không ai lên tiếng, bầu không khí bỗng chốc cô đặc khiến người ta khó thở.

Phiên Lộc cũng chẳng rời bước, cứ lặng lẽ nhìn Túy Cúc.

Túy Cúc thấy ánh mắt hắn còn đáng sợ hơn bầy sói, khắp người nổi gai ốc, cảm giác sống lưng như đang chạm phải vật gì rất cứng, hóa ra nàng đã lùi tít tới góc giường, áp lưng vào tường.

“Đây là đâu?”, Túy Cúc hỏi.

Phiên Lộc nhếch môi, không đáp.

Túy Cúc phẫn nộ: “Ngươi cười cái gì?”.

Phiên Lộc nói: “Ta đang đánh cuộc với mình, trong vòng một tuần hương, ngươi sẽ nói chuyện với ta, quả nhiên là vậy”. Hắn nở nụ cười gian tà để hở hàm răng trắng bóng.

“Ngươi sợ ta?”

“Hừ, nghĩ hay lắm.”

Lời chưa nói hết, Phiên Lộc đã lao tới như con mãnh thú.

“A!” Túy Cúc kêu lên thất thanh, bị một lực rất mạnh ép vào tường không thể cử động.

Hàng mi khẽ mở, ngay trước mắt nàng, khuôn mặt Phiên Lộc gần trong gang tấc.

“Ngươi… ngươi muốn làm gì?”

“Nhìn bộ dạng ngươi, rõ ràng là chưa biết sự đời.” Phiên Lộc không hề nể nang, túm chặt cằm nàng. “Theo Sở Bắc Tiệp bao lâu như thế, chẳng lẽ hắn lại chưa từng chạm vào người ngươi?”

Túy Cúc từ nhỏ đã theo sư phụ, được sư phụ yêu chiều, ra vào đâu đâu cũng được danh tiếng “đệ tử Thần y” che chở, ngay cả người trong vương tộc Đông Lâm còn đối xử với nàng vô cùng quy củ, đâu có chuyện bị tên nam nhân uy hiếp ở cự ly gần thế này.

Hơi thở nóng rẫy của Phiên Lộc phả vào mặt còn đáng sợ hơn cả khi nàng bị ném vào giữa bầy sói. Túy Cúc vừa sợ hãi vừa xấu hổ, vội nói: “Tránh ra! Ngươi mau tránh ra!”.

“Rốt cuộc ngươi là ai?”

“Bạch Sính Đình, ta là Bạch Sính Đình!”

“Bạch Sính Đình?”, Phiên Lộc hừ một tiếng, thả nàng ra, bước xuống giường.

Túy Cúc như được cải tử hoàn sinh, thở phào nhẹ nhõm, người càng áp sát vào tường.

Xuất thân mật thám, là người nhạy bén, Phiên Lộc rất biết quan sát sắc mặt người khác, đánh giá tình hình quân địch. Đã đến lúc này, liệu còn điều gì chưa rõ?

Nữ nhân này không phải Bạch Sính Đình.

Dù vì bất cứ lý do gì mà cài lên đầu cây trâm dạ minh châu, nữ nhân này cũng không phải là Bạch Sính Đình.

Biết Bạch Sính Đình đã chết, trong lúc vui mừng, Thừa tướng đã lập tức thăng quan cho hắn, phong hắn làm thủ thành của thành Thả Nhu.

Hắn bất chấp tội chết, giở trò lừa gạt, khai man về cái chết của Bạch Sính Đình, còn tưởng đã kiếm được hàng hiếm giá cao.

Kết quả lại là một trò cười.

Trong đầu Phiên Lộc quay cuồng bao ý nghĩ, đuôi mắt quét qua nữ nhân đang cảnh giác nhìn mình.

Nữ nhân này không phải Bạch Sính Đình, cũng có nghĩa là chẳng còn chút giá trị nào.

Hơn nữa, nếu để Thừa tướng biết được sự việc này, hắn chỉ có một con đường chết.

Giết người diệt khẩu?

Tay Phiên Lộc chậm rãi tiến về phía cây nỏ đặt trên bàn. Khi chạm phải tay cầm quấn gân bò quen thuộc, hắn bỗng dừng lại.

Giết nàng ta thì có tác dụng gì? Nếu Bạch Sính Đình một lần nữa xuất hiện trước mắt người đời, thì dù có giết nữ nhân này, sự thật vẫn bị phơi bày.

Phiên Lộc quay lại, ánh mắt dán vào nữ nhân trên giường đang nhìn mình thù địch.

Đôi mắt to đen, mái tóc dày mượt, làn môi quật cường.

Hôm đó thần xui quỷ khiến thế nào mà mình lại cứu nàng ta?

Ngoài việc tưởng nữ nhân kia là hàng hiếm giá cao, nàng ta còn điều gì đáng để mình bất chấp nguy hiểm, liều mạng cướp ra khỏi miệng sói?

Hắn nhìn nàng, một lúc lâu mới nói: “Nơi này là Thả Nhu, một thành nhỏ của Vân Thường”.

Hắn nhìn Túy Cúc, khóe miệng lại nhếch lên nụ cười tà ý chỉ mình hắn có: “Ta vừa tiếp quản chức quan thủ thành của thành này, là chức quan to nhất ở đây. Nếu ngươi muốn chạy, ta sẽ bắt lại ngươi như bắt một con thỏ”.

Dừng lại giây lát, hắn bồi thêm một câu: “Sau đó, lột trần ngươi như lột da thỏ, treo trên tường thành”.

Dương Phượng ngồi trên giường uống thuốc, đầu hơi tựa vào thành giường. Tâm bệnh đã hết, nàng cảm thấy cả người dễ chịu. Trong lòng vẫn lo cho Sính Đình, Dương Phượng bèn gọi thị nữ lại.

Thị nữ e dè: “Phu nhân, Thượng tướng quân đã nói, Bạch cô nương đang nghỉ trong khách phòng[1] ở cuối hành lang, khi nào đại phu bắt mạch và viết xong đơn thuốc, Thượng tướng quân sẽ qua với phu nhân. Bạch cô nương đã có người chăm sóc, phu nhân hãy lo dưỡng bệnh”.

[1] Khách phòng là phòng được chuẩn bị cho khách nghỉ ngơi.

Dương Phượng ngồi dậy, thò chân xuống tìm giày: “Ngươi đừng sợ Thượng tướng quân, có ta ở đây. Ngươi yên tâm, ta không cậy khỏe, chỉ qua đó nhìn một lát rồi quay về nằm. Lúc nãy mới chạm mặt, ta chưa được nhìn kỹ Sính Đình. Còn đứng đó làm gì? Mau lại đây đỡ ta”.

Thị nữ sợ Tắc Doãn giận, thấy bộ dạng của Dương Phượng như thế thì cũng sợ chọc giận nàng, khó cả đôi đường. Cuối cùng, a hoàn đấy đành đỡ Dương Phượng, rồi gọi thêm một người nữa, hai người dìu phu nhân đi.

Thị nữ cầu xin: “Có thật là phu nhân chỉ sang nhìn thôi không? Nếu Thượng tướng quân trách tội, tốt xấu gì phu nhân cũng phải nói đỡ một lời cho nô tỳ”.

“Ta biết rồi”, Dương Phượng bật cười, “Các ngươi thông minh thật. Sợ Thượng tướng quân mà không sợ ta?”. Hai tay đặt trên vai hai thị nữ, nàng từng bước rời phòng.

Ba người vừa bước tới hành lang, đúng lúc Tắc Doãn và đại phu ra khỏi khách phòng. Ngẩng lên thấy Dương Phượng, Tắc Doãn vẻ mặt sa sầm, bước nhanh qua, hai tay bế lấy nàng, giọng trách móc: “Bảo nàng nằm im một chỗ, sao đã xuống giường rồi? Sính Đình ở đây, muốn gặp lúc nào chẳng được?”.

Hai thị nữ thấy ánh mắt lạnh lùng của Tắc Doãn quét tới, sợ hãi quá lùi về sau.

Vừa dễ chịu vừa thoải mái trong vòng tay Tắc Doãn, Dương Phượng ngẩng lên cười ngọt ngào với nam nhân thân yêu của mình: “Chàng đừng trách họ, họ làm sao dám trái lệnh của đường đường một thượng tướng quân phu nhân? Phu quân, Sính Đình thế nào rồi? Bệnh có nặng không?”.

“Sính Đình thể trạng yếu, cả chặng đường vất vả, cũng không dễ dàng gì.” Tắc Doãn vừa bế Dương Phượng về phòng, vừa hạ giọng: “Sính Đình hoài thai rồi”.

Dương Phượng vô cùng ngạc nhiên.

“Đó nhất định là cốt nhục của Sở Bắc Tiệp”, Dương Phượng khẽ nói.

“Chắc chắn rồi”, Tắc Doãn thở dài, “Trong bức thư hôm qua, Nhược Hàn có nói, Đông Lâm vương bệnh nặng, hai vương tử của Đông Lâm vương đều đã chết trong tay Đại vương chúng ta và Hà Hiệp…”. Tắc Doãn cúi xuống đặt Dương Phượng vào giường, nhẹ nhàng đắp chăn cho nàng.

“Trong bụng Sính Đình là huyết mạch của vương tộc Đông Lâm.” Dương Phượng buồn bã thở ra một tiếng, lại hỏi, “Thế Sở Bắc Tiệp đâu? Hắn đang ở đâu?”.

“Mọi người đều đang tìm kiếm tung tích của Sở Bắc Tiệp. Sau khi biết Sính Đình đã chết, Sở Bắc Tiệp cũng biến mất luôn. Đại vương của chúng ta đang vui mừng, vì việc này mà mở tiệc rượu ba ngày ở vương cung. Nếu Đại vương biết Bạch Sính Đình chưa chết, còn mang trong mình cốt nhục của Sở Bắc Tiệp, chắc chắn sẽ lập tức đến đây.” Tắc Doãn ngừng lời, nhìn Dương Phượng.

Dương Phượng chần chừ, suy nghĩ hồi lâu, rồi thở dài: “Sở Bắc Tiệp tuy đáng thương, nhưng cũng đáng hận. Đừng nhìn hiện tại hắn vì Sính Đình mà đau lòng muốn chết, chưa biết chừng ngày sau gặp lúc quốc gia nguy nan, vào thời khắc sống chết hắn lại tặng Sính Đình cho người khác. Theo thiếp, khắp thiên hạ đều cho rằng Bạch Sính Đình đã chết, chi bằng đã nhầm thì cho nhầm luôn, để Sính Đình được sống yên tĩnh”.

“Việc này…”

“Việc này đương nhiên phải xem ý Sính Đình. Để thiếp nói với muội ấy, rồi muội ấy cũng sẽ hiểu ra”, Dương Phượng cân nhắc một lúc, “Thời thế loạn lạc, thiếp sẽ không để Sính Đình rời khỏi tầm mắt mình. Phú quý cũng được, bần hàn cũng thế, tỷ muội bên cạnh nhau, chăm sóc lẫn nhau”.

Tắc Doãn biết trong lòng Dương Phượng vẫn áy náy vì trận chiến Kham Bố, có bù đắp cho Sính Đình đến hết cuộc đời cũng không đủ. Chỉ cần Dương Phượng cảm thấy yên ổn thì có gì là không được? Vốn làm việc không bao giờ do dự, Tắc Doãn cương quyết gật đầu: “Được, nếu Sính Đình muốn ẩn cư cùng chúng ta, vậy thì chúng ta sẽ lập tức thu dọn hành lý, rời khỏi chỗ này tìm một chỗ khác. Nơi này đã không còn an toàn, Nhược Hàn biết, Đại vương biết, Sở Bắc Tiệp cũng đã tìm tới, chưa biết sau này sẽ còn ai ghé thăm chúng ta”.

“Lần ẩn cư này, chúng ta sẽ không còn bất cứ liên quan nào với Bắc Mạc. Cho dù là Nhược Hàn hay Đại vương, chúng ta cùng đều cắt đứt mọi qua lại.”

Tắc Doãn chăm chú nhìn ái thê, trầm giọng đáp: “Được”.

“Phu quân…”, Dương Phượng rất cảm động.

Băng tuyết dần tan gió xuân đang đến.

Sính Đình, còn nhớ lúc chúng ta hát hò vui vẻ ở phủ vương tử của Hà Túc, ngắt cành dương liễu, cười vang mặt hồ…

Còn nhớ khi chúng ta so tài cao thấp ở vương phủ Kính An, mừng sinh thần của muội…

Nay Hà Túc đã là quân vương một nước, vương phủ Kính An hóa thành tro tàn.

Hà Hiệp rời đi ngàn dặm, đến Vân Thường xa xôi, trở thành phò mã.

Cuộc đời như bãi bể nương dâu, nếu chưa từng trải qua thì có lẽ không thể tưởng tượng được.

Nhưng may mắn thay, cả ta và muội đều vẫn ở đây.

Để Dương Phượng sớm hồi phục, Tắc Doãn hạ nghiêm lệnh, không cho ái thê xuống khỏi giường, ngoài ra còn sai người chăm sóc Sính Đình, tất nhiên cũng vô cùng chu đáo, thoải mái cho dùng các loại thuốc bổ quý hiếm.

Dương Phượng hết cách, đành nhẫn nại bảy, tám ngày. Nàng tuân thủ tất cả các lời dặn của đại phu, ngày ngày uống thuốc đúng giờ nên hồi phục rất nhanh. Thỉnh thoảng Tắc Doãn lại đưa hài tử sang thăm mẫu thân, nàng mừng rỡ ôm lấy hài tử, thơm hôn rồi ghé vào tai hài tử thì thào: “Khánh nhi, lát nữa mẫu thân dẫn sang thăm dì Sính Đình. Trong bụng dì Sính Đình có một tiểu đệ đệ, sau này sẽ chơi cùng con đấy”.

Khánh nhi mới gần một tuổi, làm sao hiểu những lời này, chỉ thấy đôi mắt đen láy nhìn quanh, thi thoảng lại toét miệng cười với mẫu thân.

Tắc Doãn ở bên cạnh nhìn mẫu tử hai người, cũng cảm thấy buồn cười: “Sao nàng biết trong bụng Sính Đình là một tiểu đệ đệ?”.

“Thiếp đoán thôi mà. Sính Đình đã đỡ hơn chút nào chưa?”

Vẻ mặt có chút u ám, Tắc Doãn lắc đầu: “Sính Đình không chịu nói chuyện, có vẻ rất đau lòng. Túy Cúc là thị nữ của Sính Đình à?”.

Dương Phượng cũng lắc đầu: “Vương phủ Kính An không có người này, nếu là thị nữ thì cũng là người của Sở Bắc Tiệp”. Dương Phượng chưa từng gặp Túy Cúc, tuy biết nàng ấy chết thảm, nhưng cũng không đến nỗi đau lòng như Sính Đình.

Dương Phượng đổi chủ đề, hỏi Tắc Doãn: “Nhìn ý Sính Đình, chàng bảo rốt cuộc trong lòng Sính Đình còn nghĩ đến Sở Bắc Tiệp không? Sở Bắc Tiệp hành sự hiểm ác, nhưng trong bụng Sính Đình mang thai cốt nhục của hắn, thiếp chỉ sợ Sính Đình lại mềm lòng”.

Tắc Doãn hơi sững người, khi dẫn binh đánh trận, mọi việc thật mạch lạc rõ ràng, nhưng chuyện này đúng là hắn mù tịt, nên lắc đầu nói: “Làm sao mà đoán được tâm tư của nữ nhân, ta không biết”.

Dương Phượng yêu kiều lườm phu quân một cái, cười bảo: “Thiếp có thể nhìn ra được đấy. Thượng tướng quân, bệnh của người ta đã khỏi từ lâu rồi, chàng hãy mở lòng từ bi giải nghiêm lệnh, cho thiếp xuống giường đi. Thượng tướng quân không biết là nước chảy mới không dậy mùi, trục cửa quay mới không mọt sao? Người bệnh cũng phải hoạt động thích hợp thì mới khỏi được chứ”.

Tắc Doãn thấy Dương Phượng cười tươi như hoa, lòng say ngây ngất. Nghĩ lại, đúng là nàng đã bị trói chân trên giường đến mấy ngày rồi, hắn cũng thấy mềm lòng. Tắc Doãn khẽ vuốt những lọn tóc mềm mại của thê tử, nói: “Nàng đừng cậy khỏe, vừa đỡ chút xíu đã đòi đi chỗ này chỗ nọ. Giờ đang lúc tuyết tan, trời vẫn rất lạnh. Nàng muốn gặp Sính Đình, ta sẽ bế nàng qua”. Nói rồi, hắn cúi xuống bế Dương Phượng vào lòng.

Tiểu Tắc Khánh bị bỏ lại trên giường, khóc ầm lên, bất mãn.

Tắc Doãn nhìn nhi tử, cười: “Con ngoan, con còn nhỏ lắm, sau này lớn lên, con sẽ bế nữ nhân của mình”.

Thấy phu quân dỗ con như vậy, Dương Phượng lắc đầu, vừa giận vừa buồn cười.

Hai người âu yếm vào đến khách phòng, tâm trạng phơi phới bỗng chùng xuống vì không khí yên lặng bên trong.

“Sính Đình?”

Sính Đình đã tỉnh. Nàng cũng phải chịu nghiêm lệnh “Không được xuống giường” của Tắc Doãn. Lúc này, Sính Đình đang ngồi trên giường, dựa lưng vào gối, người đắp một chiếc chăn. Nghe thấy tiếng Dương Phượng, Sính Đình có chút ngạc nhiên, vội quay đầu lại, mái tóc đen xõa dài trên vai: “Dương Phượng?”.

Vẻ thông minh sắc sảo khi trước vẫn còn đây, chỉ là khuôn mặt Sính Đình giờ gầy hơn nhiều, thật khiến người ta đau lòng.

“Sính Đình, Sính Đình…” Hai mắt Dương Phượng đỏ hoe, như sắp khóc đến nơi.

Tắc Doãn đặt Dương Phượng xuống, để nàng ngồi cạnh Sính Đình trên giường.

“Khóc gì chứ?” Sính Đình nắm tay Dương Phượng, cười nói, “Nghe nói tỷ đã đỡ nhiều, hôm nay được ra ngoài rồi ư?”. Vừa nói, Sính Đình vừa ngẩng lên nhìn sang bên.

Tắc Doãn vẫn đứng yên bên cạnh như tượng sắt, vẻ mặt đúng là “phải bảo vệ thê tử như thế”.

“Đỡ nhiều rồi”, Dương Phượng hỏi, “Còn muội?”.

Sính Đình cảm kích đáp: “Muội cũng đỡ nhiều rồi, may mà có Thượng tướng quân”.

“Muội nhớ uống thuốc an thai đúng giờ đấy.”

“Ừm.” Sính Đình cúi xuống, dịu dàng xoa phần bụng đã hơi nhô ra của mình, “Hài nhi ngoan, mấy hôm nay không đạp nhiều nữa”.

Dương Phượng thở dài: “Muội cũng biết đứa bé quan trọng, nên đừng đau lòng quá. Sính Đình, đừng tự trách mình nữa. Túy Cúc đã chết, dù muội có giày vò bản thân đến thế nào, nàng ấy cũng không thể quay về. Túy Cúc thân thiết với muội như vậy, ở trên trời cũng chẳng muốn thấy muội thế này”.

Tắc Doãn cau mày, cảm thấy như đã từng nghe những lời này ở đâu.

Nghe thấy hai từ “Túy Cúc”, nụ cười trên môi Sính Đình cũng hoàn toàn biến mất. Nàng thở dài, ngẩng lên nhìn Dương Phượng: “Muội biết điều này, nhưng muội vẫn buồn, cứ nghĩ đến Túy Cúc, trong lòng muội lại đau như bị kim châm. Vốn dĩ muội bảo nàng ấy xuống núi, vì muốn cứu mạng nàng ấy, một người sống còn hơn hai người cùng chết đói, chết rét. Không ngờ lại thành hại nàng ấy…”.

Dương Phượng thấy Sính Đình đau lòng, vội chuyển chủ đề: “Hôm nay ta sang đây muốn bàn với muội một việc. Ta nói trước là ta đã suy nghĩ kỹ rồi, sau này ta sẽ không để muội rời khỏi ta mà phiêu dạt khắp chốn, khiến ta lo lắng không yên. Chúng ta sẽ chuyển đến nơi khác, cùng nhau ẩn cư, được không? Việc đã thế này, dù muội không lo cho bản thân thì cũng phải lo cho hài nhi trong bụng. Muội đừng quá đau lòng, phải chuẩn bị cho tương lai”.

Sính Đình biết Dương Phượng nói có lý, cũng không muốn để Dương Phượng lo lắng cho mình, nên cố lấy tinh thần, suy nghĩ một lúc rồi gật đầu, đáp: “Ẩn cư cũng được. Nhưng Thượng tướng quân nhà tỷ danh tiếng quá lớn, bên cạnh có bao nhiêu cận vệ thị nữ, bao gia tài, ẩn cư thế nào? Dù đổi sang nơi khác, e là chưa đến ba ngày, sẽ lại có tướng lĩnh Bắc Mạc tìm đến. Muội không muốn để người khác biết mình vẫn còn sống. Tốt nhất là mẫu tử muội sẽ tìm một nơi yên tĩnh khác”.

Thấy Sính Đình không nhắc đến tên nam nhân đáng ghét Sở Bắc Tiệp, ngôn từ cử chỉ đã lấy lại vài phần thần thái đắn đo suy tính trước kia, Dương Phượng vô cùng vui mừng. Nhưng nghe đến đoạn sau mới biết Sính Đình có dự định khác, nàng vội nói: “Chuyện đó có gì? Cận vệ thị nữ, ai về nhà nấy, nếu đã định ẩn cư, không lẽ còn lưu luyến xa xỉ của phủ thượng tướng quân?”.

Sính Đình nhìn Dương Phượng, lắc đầu: “Tỷ và muội không giống nhau, muội đã từng chịu bao vất vả, bị bọn quan lại cướp mất tay nải, phải leo lên núi tuyết, chịu đói, chịu rét, đã nếm trải đủ thế nào là gian khổ. Tỷ từ nhỏ đã ở trong phủ vương tử quen với áo gấm bát ngọc, đến Bắc Mạc thì trở thành thượng tướng quân phu nhân, đâu hiểu được thói đời ấm lạnh ra sao?”.

Dương Phượng ngồi thẳng người lên, giọng nghiêm túc: “Sính Đình, ta không đùa đâu. Lần trước để muội rời khỏi phủ thượng tướng quân đến Đông Lâm gặp Sở Bắc Tiệp, ta đã hối hận đến đứt gan đứt ruột rồi. Chuyện mẫu tử muội ẩn cư, sau này ta không cho phép nhắc lại nữa. Trước kia ở vương phủ Kính An, muội cũng quen với áo gấm bát ngọc, địa vị chẳng khác gì một thiên kim tiểu thư, giờ muội chịu được khổ, có gì ta lại không?”. Như bỗng nhớ ra điều gì, Dương Phượng đuổi hết đám người hầu ra ngoài. Sống những ngày bần hàn không chỉ là việc của một mình Dương Phượng, mà cũng phải hỏi qua Tắc Doãn một tiếng. Nghĩ tới đây, nàng bỗng ngừng lời, quay lại nhìn Tắc Doãn.

Tắc Doãn trầm giọng: “Không quan trọng. Ta sẽ xử lý”.

Năm xưa khi Dương Phượng nhận lời mình, Tắc Doãn đã hứa sẽ quy ẩn sơn lâm, toàn tâm toàn ý cùng nàng vui sống. Thị nữ, cận vệ, gia sản, đâu có đáng gì?

Dương Phượng hiểu được tâm ý phu quân, vừa cảm động lại vừa cảm kích.

Ở bên cạnh nhìn, Sính Đình bỗng nhớ tới Sở Bắc Tiệp, trong lòng đau như bị kim châm, không sao tự chủ nổi. Sợ Dương Phượng nhận ra, nàng khẽ quay sang bên, lặng lẽ lau những giọt lệ nơi khóe mắt.

Vốn nói được làm được, ngay tối hôm đó Tắc Doãn cho gọi đám gia nhân đến đại sảnh, nói: “Ta đã hứa với phu nhân, lần này quy ẩn sẽ không xuất núi. Núi rừng hoang vắng, phu thê ta cũng không cần nhiều người hầu hạ thế này. Các ngươi vẫn còn trẻ, nam nhi nếu có lòng muốn dốc sức cho quốc gia, thì hãy trở về thành đô, ta sẽ viết thư giới thiệu, nhờ Nhược Hàn thượng tướng quân sắp xếp cho các ngươi một chỗ ổn thỏa. Còn các thị nữ, có nhà thì về, không có nhà thì tự tìm đường cho mình. Đồ dùng và những vật bài trí trong nhà đa phần đều là phần thưởng cho công lao giết chóc của ta trên sa trường, đều là bảo vật cung đình, các ngươi hãy mang ra mà chia nhau, rồi đem bán lấy tiền, hoặc để làm của hồi môn, hay dưỡng lão”.

Lời vừa dứt, mọi người bắt đầu xôn xao.

Thần sắc không hề thay đổi, Tắc Doãn trầm giọng: “Tính cách của ta, các ngươi đều hiểu, một lệnh ban ra, cả ba quân còn phải tuân theo, huống hồ là các ngươi? Đừng lôi thôi dài dòng, khắp thiên hạ, không có bữa tiệc nào là không tàn, phóng khoáng tụ họp, vui vẻ giải tán mới là bản sắc của người Bắc Mạc ta. Còn một việc nữa, ở đây có thêm một người, ít nhiều các ngươi cũng đoán ra đó là ai. Thiên hạ đều cho rằng người này đã chết, nên không ai được tiết lộ nửa lời về việc người ấy còn sống. Các ngươi theo ta đã nhiều năm, ta tin các ngươi. Nhưng, ta vẫn muốn các ngươi thề độc một lần, quyết không nói việc này cho bất cứ ai”.

Nói đến đây, ai cũng hiểu rằng Tắc Doãn đã quyết.

Các cận vệ theo Tắc Doãn vào nam ra bắc, đều là những nam tử hán mang bầu nhiệt huyết, đa phần họ đều trông chờ đến một ngày Tắc Doãn sẽ quay lại thành đô, dốc sức cho quốc gia giống như xưa. Nay nghe lời này của Tắc Doãn, họ đều khẳng khái thề quyết không tiết lộ một câu, một từ về việc Bạch Sính Đình còn sống.

Phần đông các thị nữ từ nhỏ lớn lên trong phủ thượng tướng quân, hết lòng trung thành với Tắc Doãn, tuy không hiểu chuyện quốc gia đại sự, nhưng biết Bạch Sính Đình là hảo hữu của phu nhân, nên cũng cất lời thề.

Tắc Doãn làm việc dứt khoát ngay lập tức sai người mang ra bút nghiên, giải quyết nhanh gọn mọi chuyện, viết hết thư tiến cử cho cận vệ. Sau đó, hắn lại đem những bảo vật quý giá còn thừa lại chia cho các thị nữ, đảm bảo cho họ ngày sau không lo đói rét. Bận rộn tới tận đêm khuya mới coi như mọi việc được sắp xếp ổn thỏa, nhưng họ bỗng gặp phải một vấn đề khác.

Cận vệ Ngụy Đình là người duy nhất không chịu rời đi. Ngụy Đình mắt đỏ hoe, nói: “Thuộc hạ, theo Thượng tướng quân bao năm như thế, lấy đâu ra chỗ nào để đi? Thượng tướng quân cũng biết cái tính khí thối tha của thuộc hạ, các tướng khác sai bảo, thuộc hạ đều không chịu nghe. Cho dù Thượng tướng quân quy ẩn thì cũng cần người gánh nước, đuổi dê. Nếu Thượng tướng quân không cho thuộc hạ ở lại, hôm nay thuộc hạ sẽ chết ngay tại đây”. Nói xong, hắn tuốt kiếm kề ngay lên cổ.

Vốn là người thẳng thắn, chẳng rành đoán ý người khác, Ngụy Đình không biết đã xung đột với bao tướng quân trong cung, ngay cả Nhược Hàn cũng chẳng ngoại lệ. Khi đánh trận, hắn gan dạ dũng mãnh, không sợ hiểm nguy, trung dũng có thừa. Vì điểm này, Tắc Doãn rất coi trọng Ngụy Đình, và giữ hắn lại bên mình.

Tắc Doãn biết tính tình của Ngụy Đình, nếu lắc đầu, chưa biết chừng hắn sẽ cứa cổ ngay tại đây. Lại nghĩ đến thời còn dẫn quân, Ngụy Đình đã đắc tội với không biết bao nhiêu đại tướng Bắc Mạc, nay giới thiệu về không biết hắn sẽ chịu bao ấm ức, Tắc Doãn đành gật đầu, nói: “Cũng được, ngươi ở lại đi”.

Ngoài Ngụy Đình, còn có Hứa bá và vú nuôi đã trông coi Tắc Doãn từ bé. Hai người này tuổi đã cao, tất nhiên Tắc Doãn phải đưa đi cùng để phụng dưỡng và lo liệu cho họ.

“Mọi sự đã chu toàn, chỉ cần tìm một nơi ẩn cư thích hợp nữa là xong.”

Suy nghĩ giây lát, Sính Đình đáp: “Muội nghĩ ra một nơi, là một thôn trang nhỏ yên tĩnh ở chân núi phía bên kia của sơn mạch Tùng Sâm. Ở đó có đất để trồng trọt, có cỏ để chăn thả gia súc. Tuy bần hàn một chút, nhưng con người chốn ấy rất tốt”.

“Một nơi mà ngay cả muội cũng phải khen, chắc chắn sẽ rất tuyệt.” Trước nay luôn tín nhiệm những đề nghị của Sính Đình, Dương Phượng hỏi Tắc Doãn, “Chúng ta ở đó nhé, được không?”.

Tắc Doãn nhìn Dương Phượng yêu chiều: “Nếu nàng thích thì chọn chỗ đó.”

“Còn một việc nữa”, Sính Đình nói, “Muội muốn chuyển cả mộ phần của Túy Cúc đến đó, không thể để Túy Cúc một mình cô đơn ở đây”.

Dương Phượng nói: “Chuyện này dễ thôi, chúng ta thỉnh di cốt ra, rồi đưa đi theo”.

“Sư phụ của Túy Cúc là Đông Lâm thần y Hoắc Vũ Nam. Nghe nói ông ấy chỉ có mỗi mình Túy Cúc là đệ tử, luôn coi Túy Cúc như viên minh châu trong lòng bàn tay.” Sính Đình lấy trong ống tay áo ra một bức thư, “Sính Đình đã viết một bức thư, nhờ Thượng tướng quân sai người đưa đến cho ông ấy. Nếu có hỏi ai viết, thì cứ nói một bằng hữu của Túy Cúc”.

Tắc Doãn nhận lấy: “Tiểu thư yên tâm, ta nhất định sẽ đưa đến nơi”.

Hôm đó trở về phòng, Tắc Doãn chợt hỏi Dương Phượng: “Bức thư này có gửi đi không?”.

Dương Phượng ngạc nhiên: “Sao lại không gửi?”.

“Hoắc Vũ Nam là danh y của Đông Lâm, thường xuyên ra vào vương cung, có giao tình thân thiết với vương cung Đông Lâm. Bức thư này đưa tới, rất có thể sẽ khiến Hoắc Vũ Nam nghi ngờ. Nếu Túy Cúc đã chết, vậy Sính Đình đang ở đâu? E là họ sẽ đoán ra điều mấu chốt ở đây.”

Dương Phượng lúc này mới hiểu ra, mặt bỗng biến sắc: “Hiện giờ Sính Đình đang mang trong mình cốt nhục của Sở Bắc Tiệp, Sở Bắc Tiệp lại không rõ tung tích. Những cuộc tranh giành đấu đá trong vương tộc vô cùng đáng sợ, nếu chẳng may lại bị cuốn vào cuộc chiến tranh giành vương vị… Liệu họ có sai người đến giết Sính Đình?”.

Tắc Doãn gật đầu: “Ta đang lo chính là điều này.”.

“Nói như thế, bức thư này tuyệt đối không thể gửi đi.” Trước tiên phải lo bảo vệ cho sự an toàn của Sính Đình, đâu còn để ý gì đến Thần y Đông Lâm, Dương Phượng suy nghĩ giây lát, rồi đưa tay ra, “Đưa cho thiếp”. Nàng nhận thư, châm vào lửa.

Nhìn làn khói xanh chầm chậm bốc lên, Dương Phượng hạ giọng lẩm bẩm: “Sính Đình, ta biết muội là người tốt, không nhẫn tâm để sư phụ của Túy Cúc khổ sở tìm kiếm đệ tử. Nhưng, sự an nguy của muội cũng vô cùng quan trọng. Việc này cứ để ta quyết định”.

Những người trong sơn trang ẩn cư đều tuân thủ tác phong làm việc như sấm rền gió cuốn của Tắc Doãn, tuy vô cùng lưu luyến nhưng họ không hề buồn thương, hay do dự.

Trong vòng mấy ngày, mọi người đều đã đi gần hết. Đồ cổ, đồ mỹ nghệ quý giá, đồ trang trí trong nhà cũng được chuyển đi.

Còn lại ba người nhà Tắc Doãn cùng Sính Đình, Hứa bá, vú nuôi và cả Ngụy Đình, cả thảy bảy người mang theo chỗ vàng bạc Tắc Doãn để lại, lên đường xuất phát, chính thức cáo biệt vương thất Bắc Mạc với bao vương vấn trong lòng.