Quyển 4 – Chương 6: Quốc luận

Chuyện kho lương đã trôi qua mười ngày.

Trong khoảng thời gian này, các Kỳ các Doanh trong thành Cô Tinh đã giảm bớt ác cảm với Hữu Tự Doanh.

Từ lúc Nam Vô Thương bị thiệt thòi dưới tay Thiển Thủy Thanh về chuyện kho lương, hành động của hắn đối với Thiển Thủy Thanh càng trở nên cẩn thận hơn.

Lúc này trong nhà xảy ra mâu thuẫn liên tục, đầu tiên là những nơi làm ăn buôn bán của gia tộc bị tấn công nặng nề, tiếp theo là đám môn khách bị người ám sát, tất cả đều xuất hiện ở miền Đông Đế quốc. Nam Vô Thương vì những chuyện này mà đau đầu nhức óc, thật sự cũng không còn lòng dạ nào mà ‘săn sóc đặc biệt’ Thiển Thủy Thanh.

Bản thân Thiển Thủy Thanh cũng ra lệnh nghiêm khắc cho binh sĩ dưới quyền không được gây chuyện thị phi, chính hắn mỗi ngày đều ở trong doanh huấn luyện binh sĩ.

Người Đế quốc Chỉ Thủy từ lúc mất đi Tam Trùng Thiên, bắt đầu trở nên kinh hoảng không yên, tin tức cầu hòa được mang tới thành Thương Thiên hết đợt này tới đợt khác.

Đứng trên đầu thành Cô Tinh, ngày nào cũng có thể thấy cảnh tượng như vầy:

Từng đoàn ngựa thồ mang theo vàng bạc châu báu, lại thêm từng đám mưu sĩ thuyết khách giỏi tài ăn nói, tới Đế quốc Thiên Phong để xin khoan dung cho Đế quốc Chỉ Thủy.

Mỗi lần nhìn thấy cảnh tượng như vậy, Thiển Thủy Thanh chỉ biết cười khổ.

Bão Phi Tuyết dùng hết tâm lực mới khiến cho người Đế quốc Kinh Hồng kéo binh ra khỏi Hàn Phong quan, người Đế quốc Chỉ Thủy không nhân cơ hội này mà thu hồi lãnh thổ đã mất, lại lấy tiền tài trong nước đi dâng cho địch, hành động này thật vừa đáng buồn cười vừa đáng tiếc.

Nhưng biểu hiện của Thương Hữu Long lại trái ngược với hành động như vậy.

Sau khi Bão Phi Tuyết chết, Thương Hữu Long trở thành Thống soái tối cao của Đế quốc Chỉ Thủy, sau khi hắn nhậm chức, mệnh lệnh đầu tiên của hắn là cho toàn quân rút lui về phía sau, buông bỏ một số vùng đất, đem một ít binh lực tập trung chủ yếu vào một vài tòa thành lớn, phần nhiều là ở hậu phương.

Siết chặt nắm tay, đem tất cả binh lực tập trung lại như một sợi dây thừng, tất cả những gì không giữ được thì buông bỏ, tất cả những gì lấy được thì lấy, biểu hiện của Thương Hữu Long cũng làm cho người Đế quốc Thiên Phong chấn động.

Chuyện người Đế quốc Kinh Hồng xuất kích đã làm cho người Đế quốc Thiên Phong lỡ mất thời cơ tốt để tiến vào thu thập Đế quốc Chỉ Thủy. Sau khi đã thu thập lương thực xong, Thương Hữu Long lại ra lệnh vận chuyển tất cả số lương thực thu được về các thành quan trọng như Đại Lương, Thiên An, Thủy Châu. Không chừa lại một hạt thóc nào cho đối thủ, chỉ chừa lại những mảnh đất trống trải hoang vu, Thương Hữu Long thề quyết một trận tử chiến cùng đối thủ.

Hắn muốn lợi dụng diện tích rộng rãi gần một trăm vạn dặm vuông của Đế quốc Chỉ Thủy, cố gắng kéo dài đường tiếp viện quân nhu lương thực của đối phương, sau đó dùng kỵ binh quấy nhiễu, chặt đứt con đường tiếp viện lương thực, ép đối thủ phải tự rút lui.

Ở Đế quốc Chỉ Thủy, với quốc lực hiện tại, có thể triệu tập được khoảng tám mươi vạn đại quân.

Tuy rằng con số này khổng lồ, nhưng trên thực tế, nó đã bao gồm tất cả binh sĩ, tính cả binh sĩ giữ gìn trật tự trị an ở các địa phương, binh sĩ đóng ở các vùng biên giới và binh sĩ trên mặt biển ở hậu phương của Đế quốc Chỉ Thủy.

Đế quốc Chỉ Thủy càng yếu ớt càng loạn, lại bị người Đế quốc Thiên Phong đè ép mạnh mẽ, các nơi xảy ra nội loạn không ngừng, nơi nơi đều cần có quân đội trấn áp, giống như đội cứu hỏa chạy tới chạy lui. Tuy rằng Tam Trùng Thiên khi trước là cửa ải quan trọng hiểm yếu, nhưng Bão Phi Tuyết vét hết quân đội cả nước cũng chỉ được có sáu vạn quân, cuối cùng số quân này cũng mất theo Tam Trùng Thiên không còn gì cả.

Cho nên với bảy mươi vạn đại quân hiện tại, số thật sự có thể sử dụng chiến đấu chỉ còn không đầy một nửa, nhưng Thương Hữu Long vẫn kiên quyết rút ba mươi vạn quân từ khắp nơi trở về, buông bỏ rất nhiều nơi cần trấn thủ.

Quốc chủ muốn hòa, tướng sĩ muốn tử chiến, rất nhiều đất đai bỏ không đang chờ người Đế quốc Thiên Phong tới chiếm. Người Đế quốc Thiên Phong quả thật không thể khoanh tay đứng nhìn trước sự hấp dẫn chết người này.

Đối với tất cả những chuyện này, Thiển Thủy Thanh chỉ có thể thở ra thật dài.

Lúc này, Quân đoàn Bạo Phong chuyển sang chiến trường Tây Nam đã được gần hai mươi ngày, không biết tình hình chiến đấu của Liệt Cuồng Diễm bên đó thế nào…

Đối với vị tướng già này, Thiển Thủy Thanh tôn kính tận đáy lòng.

Nếu như không có ông ta, chưa chắc hắn đã được như ngày hôm nay.

Nếu không có ông ta, Hoàng đế cũng chưa chắc đã coi trọng hắn đến như vậy.

Nếu không có ông ta, thậm chí hắn vĩnh viễn đừng mơ đến chuyện được chỉ huy đại quân tấn công thành Kinh Viễn.

Sau những ngày chiến đấu trong khó khăn gian khổ, hắn đã hiểu được nếu như trong tay mình không có binh lực trợ giúp đầy đủ, muốn tái diễn kỳ tích lấy ít thắng nhiều ở trận chiến hai quan Nam Bắc đối phó với Bão Phi Tuyết trong trận chiến thành Kinh Viễn, căn bản là không thể được.

May mắn là…bản thân mình không bị thắng lợi làm cho lu mờ tâm trí, may là mình có được Liệt Cuồng Diễm ủng hộ và giúp đỡ.

– Mộc thiếu, tình hình ở chiến trường Tây Nam ra sao rồi?

Đứng ở đầu thành nhìn về phương xa, Thiển Thủy Thanh hỏi Mộc Huyết.

– Theo tin từ chiến trường Tây Nam báo về, ba Tổng đội của Quân đoàn Bạo Phong đã chạy trước đại quân tới thành Phong Vũ. Ở đó, bọn họ đã đánh một trận quy mô nhỏ với đội quân tiên phong của Cô Chính Phàm, bên ta chiếm được chút ưu thế, Cô Chính Phàm đã bắt đầu co cụm binh lực lại, rút lui về phía sau.

– Ủa?

Thiển Thủy Thanh khẽ nhướng mày.

– Cô Chính Phàm co cụm binh lực lại sao?

Hắn chiếm được mười ba châu Yến Nam vô cùng vất vả, không ngờ chấp nhận buông bỏ mà rút lui về phía sau.

Chẳng lẽ mục đích xuất binh của Cô Chính Phàm quả thật tốt đến như vậy, chỉ là muốn giải tỏa áp lực cho người Đế quốc Chỉ Thủy thôi sao? Thiển Thủy Thanh không tin hành động chính trị quân sự của một quốc gia chỉ đơn giản vì lòng tốt mà thôi…

Cho dù là muốn người Đế quốc Chỉ Thủy kềm hãm bước tiến của người Đế quốc Thiên Phong, không có lý do gì Cô Chính Phàm hành động mà chính mình không đạt được một chút ích lợi gì.

Suy nghĩ một hồi, hắn lại nói với Mộc Huyết:

– Có một số việc ta vẫn chưa hiểu rõ, ngươi bảo người gọi Bích Không Tình tới đây cho ta, hẳn là hắn biết nhiều hơn chúng ta về con người Cô Chính Phàm.

Không bao lâu sau, Bích Không Tình đã đến.

Đường đường là một Đại tướng của Đế quốc Chỉ Thủy ngày xưa, giờ đây Bích Không Tình lại trở thành một tên Sáo quan nho nhỏ của Hữu Tự Doanh.

Địa vị của hắn ở Đế quốc Chỉ Thủy cũng không phải là thấp, mặc dù không thuộc loại người cao quý hiển hách, nhưng cũng là thân tín đắc lực của Bão Phi Tuyết, suất lĩnh ba ngàn Phi Tuyết Vệ tung hoành chốn sa trường, cũng đã từng lập được nhiều chiến công hiển hách. Không biết vì sao hắn buông bỏ tất cả công danh, cam chịu trở thành một tên Sáo quan kết toán sổ sách bình thường cho Thiển Thủy Thanh. Trên thực tế, nếu như hắn tới đầu hàng Nam Vô Thương hay thậm chí là Liệt Cuồng Diễm, bản thân hắn sẽ được đối xử tốt hơn nhiều.

Nhưng điều thú vị chính là Bích Không Tình hắn lại cố tình lựa chọn Thiển Thủy Thanh là đối tượng để hắn đầu hàng.

Lúc này vừa vào trướng, Bích Không Tình liền chắp tay cung kính với Thiển Thủy Thanh:

– Tham kiến Tướng quân, không biết tìm tiểu nhân có chuyện gì?

– Ngươi có hiểu biết gì về Cô Chính Phàm hay không?

Bích Không Tình ngẫm nghĩ một lúc mới trả lời:

– Tuy tiểu nhân chưa từng gặp mặt hắn bao giờ, nhưng hai nước Chỉ Thủy và Kinh Hồng cũng có qua lại trong những năm qua. Năm đó Bão Phi Tuyết một lòng muốn liên kết các nước lại để phản công Đế quốc Thiên Phong, đối tượng mà hắn liên kết đầu tiên của Đế quốc Kinh Hồng là Cô Chính Phàm. Dù sao nếu Đế quốc Chỉ Thủy bị diệt vong, Đế quốc Kinh Hồng cũng sẽ lâm vào tình trạng môi hở răng lạnh.

– Đây đúng là chỗ mà ta nghĩ mãi không ra, kế hoạch liên kết quân các nước của Bão Phi Tuyết thật ra cũng vô cùng chính xác. Vấn đề là vì sao người Đế quốc Kinh Hồng vô cùng chậm chạp, mãi không thấy có động tĩnh gì? Chẳng lẽ bọn chúng thiển cận đến vậy sao?

Đối với câu hỏi của Thiển Thủy Thanh, Bích Không Tình chỉ có thể cười khổ đáp:

– Vấn đề này nói ra thì vô cùng phức tạp. Trong nhiều năm qua, người Đế quốc Thiên Phong vẫn ra sức phái nhiều mưu sĩ có tài ăn nói du thuyết ở khắp các nước chung quanh, Đế quốc Kinh Hồng cũng nằm trong số đó. Cố gắng này cũng giống như người Đế quốc Chỉ Thủy hy vọng Đế quốc Kinh Hồng xuất binh vậy, người Đế quốc Thiên Phong cũng cố gắng làm chuyện ngược lại. Mà trong vấn đề này, người có cống hiến lớn nhất…Tướng quân có nghe qua cái tên Tần Nghi bao giờ chưa?

Thiển Thủy Thanh gật gật đầu:

– Đã từng nghe qua, ông ta là người Đế quốc Thiên Phong, khi còn trẻ từng đi du lịch khắp thiên hạ, Đông tới Mâu Hải, Tây tới Vân Sơn lĩnh, Bắc tới vùng băng nguyên lạnh lẽo ở địa cực, Nam tới vùng hoang mạc nắng chói chang. Ông ta ngược Bắc xuôi Nam hết hai mươi năm đằng đẵng, không ngờ sau đó lại về nhà đọc sách tám năm không bước chân ra khỏi cửa. Sau tám năm, ông ta vào cung bái kiến Hoàng đế, được tiên hoàng lúc ấy vô cùng nể trọng, cho vào viện Thư Học. Sáu năm sau đó, ông ta từ quan, một lần nữa ngao du thiên hạ học hỏi khắp nơi, sáng lập ra đạo Ngũ Kinh, trở thành tôn sư một phái. Tứ Cực du ký và Quốc Luận do ông ta viết ra trở thành kỳ thư được thiên hạ tôn sùng, trong đó ngoài bản vẽ danh sơn thắng cảnh ở bốn phương ra, còn có hình thái địa lý các nơi, phong tộc tập quán của các dân tộc, chính sách của các quốc gia, tất cả được miêu tả vô cùng tỉ mỉ.

-…Theo trong sách của ông ta viết, dân tình của một nước phụ thuộc vào vị trí địa lý của nước ấy, những nước có vị trí địa lý khác nhau hình thành nên phong tục và thói quen sống khác nhau, do đó tự sản sinh ra phong tục và văn hóa riêng biệt. Cũng vì nguyên nhân này mới hình thành sự khác nhau về chế độ và chính sách khác nhau giữa các quốc gia có chủng tộc khác nhau. Vì vậy ông ta mới lập ra một sự phân tích và trình bày về cách trị quốc, đại ý của nó là tùy theo thời thế, tùy theo vị trí địa lý, tùy theo phong tục tập quán và nghi lễ của con người. Không có cách trị nước nào có thể dùng trong thiên hạ cả trăm năm, muốn lập pháp phải thuận theo ý trời và lòng người.

Bích Không Tình gật đầu khen ngợi:

– Đây đều là chuyện của hai mươi năm trước, không thể ngờ rằng Tướng quân cũng hiểu rõ như vậy.

– Vậy Tần Nghi có quan hệ như thế nào với người Đế quốc Kinh Hồng?

Bích Không Tình thở dài:

– Ông ta không chỉ có quan hệ với người Đế quốc Kinh Hồng mà thôi, quả thật ông ta có mối quan hệ với tất cả các nước trên đại lục. Hai quyển kỳ thư do ông ta viết ra, bất kể là trong mắt người Đế quốc Thiên Phong hay người Đế quốc Kinh Hồng, hay trong mắt bất cứ người nào khác, đều là tác phẩm tuyệt vời có một không hai. Nhưng Tướng quân có biết chuyện này không, Quốc Luận trong số hai quyển kỳ thư đó, thật ra không phải do một mình ông ta viết!

Thiển Thủy Thanh ngẩn người, chuyện bí sử này quả thật hắn chưa từng nghe qua.

Bích Không Tình nghiêm giọng nói

– Thật ra, nhiều năm trước người Đế quốc Chỉ Thủy đã muốn dùng kế hoạch liên kết các nước lại để chống cự với Đế quốc Thiên Phong. Nhưng đáng tiếc rằng không ai ngờ chỉ một quyển sách lại có thể hủy bỏ một kế hoạch lớn lao như vậy. Cho nên từ đó tới nay người Đế quốc Chỉ Thủy vẫn tin rằng, quyển Quốc Luận ấy thật ra là Hoàng đế đời thứ Tư của Đế quốc Thiên Phong đã nhờ Tần Nghi viết ra, mục đích là muốn làm tan rã mối liên kết của các nước chung quanh Đế quốc Thiên Phong.

Nói tới đây, giọng Bích Không Tình trở nên cao vút:

– Quốc gia, là chỗ dựa của dân chúng, cũng là con thuyền chở bá tánh giữa sông nước mênh mông. Vua, là người lãnh đạo dân chúng trong nước, cai quản sinh tử trong thiên hạ. Vua hữu đạo, quốc gia hưng thịnh, vua vô đạo, nước mất nhà tan!

Ý của đoạn này thật ra rất là đơn giản, nó nói rằng quốc gia là nơi để cho dân chúng dựa vào, tầm quan trọng của quốc gia cũng giống như một chiếc thuyền con mà dân chúng phát hiện được khi đang mắc nạn giữa dòng sông. Thân là quân vương, phải là nhân vật xuất sắc nhất trong một quốc gia, họ nắm giữ sinh tử mục đích là vì cứu rỗi cả thiên hạ. Quân vương tài giỏi, quốc gia sẽ hùng mạnh, quân vương dốt nát, quốc gia sẽ sụp đổ.

Rất hiển nhiên, từ ý của đoạn văn trên có thể thấy rằng, tư tưởng của Tần Nghi rất giống với tư tưởng Nho gia ở thế giới trước kia của Thiển Thủy Thanh. Tuy nhiên những lời tiếp theo của Bích Không Tình rất là khó nghe, sau khi hắn nói xong câu đó, giọng nói trở nên ác cảm:

– Tần Nghi là một người âm hiểm nhất mà ta biết, miệng ông ta nói những điều nhân nghĩa đạo đức, chủ trương bỏ đi cách trị nước thông thường trong thiên hạ, đổi lại thành lấy Đức trị nước. Vì tôn sùng tư tưởng ấy, ông ta thổi phồng sách của ông ta khắp nơi, nói rằng vị quân vương nào có được sách này trong tay, ắt không lo thiên hạ. Từ đó về sau ông ta chu du khắp nơi, đi tới đâu mọi người cũng tỏ ra tôn sùng hai quyển kỳ thư Tứ Cực du ký và Quốc Luận của ông ta. Tứ Cực du ký của ông ta quả thật rất hay, bên trong gần như ghi lại tất cả phong tục tập quán và các vùng lãnh thổ mà ông ta đã trải qua trong hai mươi năm chu du thiên hạ. Nhưng Quốc Luận của ông ta lại làm cho các nước chung quanh lâm vào tình cảnh co vòi rút cổ, từ đó về sau các nước chung quanh dốc lòng đi theo nhân nghĩa lễ giáo mà ông ta viết trong Quốc Luận, không còn lòng dạ nào lo chiến sự.

Trong Tứ Cực du ký của Tần Nghi cũng có ghi lại một thiên Chiến Luận, mà chính thiên Chiến Luận này đã làm thay đổi hoàn toàn cách nhìn của người Đế quốc Kinh Hồng đối với người Đế quốc Chỉ Thủy, Đế quốc Thiên Phong. Trong Chiến Luận nói: Quốc gia nào khởi xướng một cuộc chiến phi nghĩa, hiếu chiến ắt vong, Đế quốc Chỉ Thủy và Đế quốc Thiên Phong đánh nhau trăm năm nay không ngừng, tất cả những người hiếu chiến đều đã chết. Trong Chiến Luận còn nói: Đế quốc Thiên Phong bốn bề không có nơi nào hiểm trở có thể phòng thủ, dân chúng hiếu chiến, là vì lấy công làm thủ. Đế quốc Thiên Phong đựa vào ưu thế của thảo nguyên, có nhiều kỵ binh, quân giỏi xung phong dũng mãnh, giỏi về cường công mà không giỏi về thủ thành. Còn các Đế quốc Chỉ Thủy, Kinh Hồng có được địa lợi, nhiều rừng hoang núi thẳm, bến nước đầm lầy, giỏi về thủ thành mà bất lợi khi chiến đấu ở bình nguyên. Nếu như muốn ổn thỏa, nên lấy chuyện làm cho Đế quốc mình hùng mạnh làm chuyện lâu dài, chiến tranh đối địch chỉ là tạm thời, cứ việc thủ nơi hiểm yếu, chờ cho địch tự diệt.

Những lời này có ý tứ riêng của nó.

Nói một cách đơn giản là: Người Đế quốc Thiên Phong vốn hiếu chiến, sớm muộn gì cũng phải tiêu vong, bởi vì bọn họ có được ưu thế thảo nguyên, kỵ binh hùng mạnh, nhưng bộ binh cũng chỉ bình thường. Mà các Đế quốc Chỉ Thủy, Kinh Hồng cũng vì nguyên nhân có tồn tại núi rừng đầm lầy, các nơi hiểm trở, cho nên giỏi về trấn thủ. Bởi vậy nếu người Đế quốc Thiên Phong muốn tới công, cứ để cho bọn họ công, đã là hiếu chiến ắt vong, sớm muộn gì bọn họ cũng sẽ tiêu vong. Chúng ta không ra tay, cứ nhìn bọn họ tấn công, tọa sơn quan hổ đấu, đợi đến lúc thời cơ chín muồi bèn gặt hái thành quả thắng lợi, như vậy không phải là rất tốt hay sao?

Nói trắng ra, Quốc Luận và Chiến Luận của Tần Nghi chính là một mặt du thuyết các nước, khuyên bọn họ bỏ đi chủ trương pháp lý mà lấy Nhân Đức thống trị quốc gia, mặt khác chủ trương rằng đối mặt với địch nhân hùng mạnh nên lui thủ, làm cho bọn họ tin tưởng vào mệnh trời, tin rằng hiếu chiến ắt vong, mà không cần hung hăng phản kích.

Học thuyết của Quốc Luận như vậy nói ra có vẻ buồn cười, nhưng lời nói dù hoang đường đến đâu đi nữa, nếu được lặp đi lặp lại mười lần, rốt cục cũng có người tin.

Người đời nói dối đều không ra khỏi một đạo lý: Trong lời nói ấy có chín phần là nói thật, chỉ còn lại một phần là nói dối, ắt một phần nói dối ấy sẽ làm cho những người bình thường tin tưởng.

Tần Nghi thêu dệt nên một lời nói dối rất kỳ diệu. Đầu tiên thông qua Tứ Cực du ký để thổi phồng kiến thức rộng rãi của mình, sau đó lại thông qua một thiên Quốc Luận trích dẫn kinh điển để làm cho các nước tin vào tầm quan trọng của việc trị nước bằng lễ giáo đạo đức, cuối cùng lại giật dây khiến cho các Quốc chủ của các nước láng giềng thờ ơ với chiến tranh. Mục đích của ông ta quá rõ ràng, chính là chuẩn bị cho việc người Đế quốc Thiên Phong gây chiến tranh hàng chục năm mà không bị ảnh hưởng.

Lý thuyết trị nước của ông ta thật ra có nhiều chỗ rất có đạo lý, phù hợp với tình thế trong lúc ấy, trong đó cũng bao gồm tư tưởng lấy Đức trị thiên hạ và lấy nông làm gốc để trị nước. Nhưng hiển nhiên là đến khi quyển sách này đến được tay triều đình các nước, được các vị Quốc chủ của các nước coi trọng như là một quyển kỳ thư, ý nghĩa sau lưng của nó liền lộ ra bên ngoài.

Hết thảy lý luận của Tần Nghi thật ra chỉ thích hợp cho một Đế quốc hùng mạnh, thống nhất lâu dài, nhưng không hề thích hợp cho một Đế quốc thường xuyên xảy ra chiến tranh hết năm này sang năm khác. Luận điệu ‘hiếu chiến ắt vong’ của ông ta tuy rất chính xác, nhưng lại ‘quên’ không đề cập tới việc vì ai mà vong, vì sao mới có thể vong?

Chờ ông trời diệt vong sao?

Như vậy có thể tưởng tượng ra, nếu như quyển sách này quả thật là do Hoàng đế đời thứ Tư của Đế quốc Thiên Phong bày mưu đặt kế, có thể thấy rằng mưu kế này được tính toán hết sức sâu xa.

Về sau, nghe nói rằng Tần Nghi chết trong tay Hoàng đế đời thứ Tư của Đế quốc Thiên Phong, bởi vì ông ta tức giận Tần Nghi đem quyển sách này truyền bá rộng rãi, trợ giúp cho các quốc gia khác trở nên hùng mạnh, bịa đặt nói xấu Đế quốc Thiên Phong sẽ bị diệt vong. Nhưng Bích Không Tình đã vạch rõ, đây khẳng định là một âm mưu, dụng ý của nó chính là làm cho Quốc chủ của các quốc gia khác càng thêm coi trọng quyển sách này. Trên thực tế, ngoài Đế quốc Chỉ Thủy bị quyển sách này làm hại rất nặng nề, các Quốc chủ trong thiên hạ không đọc quyển sách này rất ít. Có lẽ bọn họ không tin những luận điệu này, nhưng đối với những kiến giải độc đáo, học vấn uyên thâm, những phân tích sâu sắc và những ví dụ thực tế sống động về lịch sử của các quốc gia, bọn họ không thể nào không thán phục. Mà nếu đã thán phục như vậy, muốn bọn họ không bị ảnh hưởng bởi quyển sách này thật là một chuyện khó hơn lên trời.

Bích Không Tình cũng chỉ rõ ra, quyển Quốc Luận này thật ra là một đòn chiến tranh văn hóa mà người Đế quốc Thiên Phong chủ mưu đã từ lâu. Bọn họ thông qua đòn chiến tranh văn hóa này làm cho địch nhân của bọn họ tiếp nhận quan niệm bảo thủ bị động về cách thức trị nước. Đồng thời, bọn họ cũng sử dụng một số tiền tài khổng lồ mua chuộc những quan viên quan trọng của các nước ấy, để thi hành lý luận của quyển Quốc Luận này.

Nhưng tại Đế quốc Thiên Phong lại nghiêm cấm truyền bá quyển sách này, tiếp tục chủ trương lấy võ xưng hùng của bọn họ.

– Thì ra là như vậy.

Thiển Thủy Thanh khẽ gật gật đầu.

Một cuộc chiến tranh thắng lợi có thể mang đến lợi ích rất rõ ràng cho quốc gia mình, nhưng rốt cục cũng chỉ có hạn mà thôi. Nhưng ảnh hưởng của một sự xâm lược sâu xa về văn hóa lại có thể khiến cho rất nhiều quốc gia chưa đánh mà tan, ảnh hưởng này quả thật là rất lớn, gây ra hậu quả nặng nề.

Lợi ích của chiến tranh, hiệu quả của nó có thể thấy ngay lập tức, nhưng chiến tranh cũng là con dao hai lưỡi, nếu như thua, cái giá phải trả rất lớn lao và vô cùng đáng sợ.

Còn chiến tranh văn hóa lại khác xa, có lẽ nó cần phải có một thời gian dài khoảng mấy chục năm, thậm chí là mấy trăm năm mới thể hiện ra, nhưng giống như một vụ mua bán một vốn bốn lời, lợi ích của nó nhiều không đếm xuể.

Không nói đến chuyện cái giá phải trả lớn hay nhỏ, chỉ riêng món tiền lời có thể phải trả trong thời gian hàng chục hàng trăm năm.

Người này chỉ bằng vào một quyển sách, không tốn một mũi tên hòn đạn đã có thể hóa giải nguy cơ của các nước xung quanh, thiết lập một nền móng cơ sở cho hành động quân sự của con cháu Đế quốc Thiên Phong đời sau, quả thật là cống hiến vô cùng to lớn đối với Đế quốc Thiên Phong. Cho dù Thiển Thủy Thanh đánh hạ Tam Trùng Thiên một lượt, trước công lao cái thế của Tần Nghi, cũng chỉ có thể thở dài tự thẹn không bằng…

– Nếu là như vậy, vì sao rốt cục Cô Chính Phàm vẫn xuất binh?

Thiển Thủy Thanh hỏi.

Bích Không Tình trả lời:

– Vì muốn Cô Chính Phàm xuất binh, Vũ Văn Liễu buộc phải đáp ứng năm điều kiện của người Đế quốc Kinh Hồng.

Vũ Văn Liễu chính là Quốc chủ hiện tại của Đế quốc Chỉ Thủy, Bích Không Tình đã gia nhập quân Đế quốc Thiên Phong, cho nên không ngại gọi thẳng tên.

Không đợi Thiển Thủy Thanh hỏi, Bích Không Tình đã nói tiếp:

– Thứ nhất, sau khi người Đế quốc Kinh Hồng xuất binh, người Đế quốc Chỉ Thủy cũng phải xuất binh theo, nhưng những gì chiếm được đều thuộc về Đế quốc Kinh Hồng. Thứ hai, cắt nhượng cho Đế quốc Kinh Hồng lãnh thổ một tỉnh. Thứ ba, người Đế quốc Chỉ Thủy phải xuất ra năm trăm vạn lượng bạc đáp lễ. Thứ tư, mở đường thông ra biển cho người Đế quốc Kinh Hồng. Thứ năm, gả con gái yêu quý nhất của Vũ Văn Liễu là Công chúa Lâm Hải cho con trai của Cô Chính Phàm là Cô Viễn Ảnh.

Năm điều kiện này là điều kiện nhục nhã điển hình của một quốc gia mất chủ quyền.

Chẳng trách dù Cô Chính Phàm biết người Đế quốc Thiên Phong hùng mạnh, nhưng vẫn xuất binh ra khỏi Hàn Phong quan, chống chọi một trận với người Đế quốc Thiên Phong.

Người đời thà bỏ mạng chứ không chịu bỏ tiền tài, câu này quả thật rất có đạo lý.

Thiển Thủy Thanh không khỏi thở dài:

– Đáng tiếc rằng Cô Chính Phàm vẫn chậm một bước, nếu như hắn tiến công trước khi thành Kinh Viễn bị đánh hạ, có lẽ người Đế quốc Chỉ Thủy không cần lo lắng. Thế nhưng cuối cùng người Đế quốc Chỉ Thủy vẫn bị chúng ta đánh cho không còn lực xuất binh. Nguồn tại http://

Bích Không Tình buồn bã nói:

– Đây là vì Vũ Văn Liễu không nỡ bỏ đứa con gái mà hắn yêu thương nhất, cho nên cứ chần chờ kéo dài thời gian.

Thiển Thủy Thanh kinh ngạc đến nỗi suýt nữa thì sặc, hắn trợn mắt nhìn Bích Không Tình:

– Ngươi nói là Vũ Văn Liễu luyến tiếc nhất không phải là lãnh thổ một tỉnh của hắn, không phải là quyền thông thương ra biển của hắn, cũng không phải năm trăm vạn lượng bạc, mà là con gái của hắn hay sao?

Bích Không Tình cười thoải mái:

– Đây chính là lý do vì sao ta tình nguyện đi theo ngài làm một chức Sáo quan nho nhỏ. Ta chịu dưới quyền chủ nhân bất tài kém cỏi đã quá đủ rồi, cho dù là làm một binh sĩ, cũng phải là binh sĩ của một người có bản lãnh. Thiển Tướng quân, xin ngài đừng làm cho ta thất vọng!

Thiển Thủy Thanh nhất thời kinh ngạc.

Hắn ngây người ra một hồi lâu, sau đó mới nói:

– Ta không biết ta là người như thế nào, tuy nhiên ta nghĩ…ta biết Cô Chính Phàm là người như thế nào, địa vị của hắn ở Đế quốc Kinh Hồng cũng tương đương với Bão Phi Tuyết. Ha ha, đáng tiếc, mặc dù thực lực của Đế quốc Chỉ Thủy yếu ớt, nhưng ít ra cũng có được một nhân tài như Bão Phi Tuyết. Còn người Đế quốc Kinh Hồng…có lẽ thực lực còn mạnh hơn Đế quốc Chỉ Thủy một chút, nhưng Đại tướng cầm binh thì có tầm nhìn thiển cận, lòng tham không đáy, dám bắt Công chúa nước láng giềng gả cho con mình. Từ đó có thể thấy được người này ngang ngược kiêu ngạo, ương ngạnh bất tuân, quỵ lụy kẻ mạnh, hiếp đáp kẻ yếu. Nếu như hắn xuất binh sớm hơn, ta sẽ bội phục hắn có tầm nhìn sâu rộng, nếu hắn không chịu xuất binh, ta cũng sẽ bội phục hắn không vì tham lợi mà ngã lòng. Nhưng rốt cục hắn lại xuất binh vào một thời điểm không nên xuất binh nhất…so với Bão Phi Tuyết, Cô Chính Phàm kém quá xa. Cho nên ít nhất ta không cần phải lo lắng cho Liệt Tổng Suất bên kia, lần này Quân đoàn Bạo Phong chuyển sang chiến đấu trên chiến trường Tây Nam, quân ta ắt đạt được thắng lợi ngoài ý muốn.

Lúc ấy, Bích Không Tình ngơ ngác nghĩ thầm: “Trên đời này…không lẽ có thể chiến thắng như ý muốn của mình sao?”