Quyển 6 – Chương 13: Võ sĩ thánh đường

Lúc này Thiển Thủy Thanh đứng dậy:

– Phải thừa nhận đây là một trận chiến dưới tình huống hết sức không công bình. Đế quốc Thiên Phong ta có trăm vạn hùng binh, nhưng hiện ta chỉ có thể dùng lực của một Thiết Huyết Trấn để chống lại cả một Đế quốc Kinh Hồng. Trong trận chiến này, chúng ta không thể thỉnh cầu trợ giúp của bất kỳ ai, chỉ có thể dốc hết toàn lực ra tử chiến, mở ra một đường máu.

-…Mặc dù chúng ta từng làm một loạt chuẩn bị cho kế hoạch tiếp sau, nhưng không nghi ngờ gì, chuyện này chỉ có thể làm được với điều kiện bắt buộc là chúng ta có đủ thời gian và không gian mà thôi. Đã không có hai thứ này, cho dù chúng ta có ý tưởng hay ho, kế hoạch tốt đẹp tới đâu, cũng không có cách nào thi triển.

-…Hai mươi ba vạn đại quân của Lương Trung Lưu khí thế hùng hổ, nhất định phải bắt cho bằng được chúng ta mới chịu thôi, để rửa nhục trong trận đại chiến thành Bình Dương. Theo cách nhìn của các ngươi, có lẽ đây không phải là chuyện tốt, nhưng theo ý ta, đây chưa chắc đã là chuyện xấu. Nếu như chúng ta lại thắng trận này, Đế quốc Kinh Hồng sẽ rơi vào hoàn cảnh vô cùng xấu hổ. Trừ phi bọn chúng định dùng phương thức kêu gọi toàn dân đứng lên tiêu diệt một cánh quân đơn độc như chúng ta, nếu không, cho dù có trăm vạn đại quân, Lương Khâu Húc cũng sẽ gặp phải vấn đề khập khiễng về binh lực. Đến lúc đó, chúng ta mặc tình tung hoành khắp nơi trong lãnh thổ Đế quốc Kinh Hồng, đường về nhà sẽ giảm đi rất nhiều khó khăn. Nếu như không thừa dịp quân ta còn đang có thực lực đầy đủ hiện tại, làm một canh bạc lớn được ăn cả, ngã về không, như vậy sau vô số những trận chiến trong tương lai, chiến lực của quân ta sẽ tiêu hao lần lần, càng ngày càng khó tiếp tục chiến đấu ở những trận chiến về sau!

-…Ta phải cảm thấy may mắn rằng người Đế quốc Kinh Hồng đã phát động lần thứ hai bao vây tiêu diệt nhanh như vậy, chuyện này đối với chúng ta mà nói lại là chuyện tốt, nếu không, bước đường sau này của chúng ta sẽ rất gian nan. Mà hiện tại, chúng ta phải cân nhắc tới việc làm thế nào để vượt qua cửa ải khó khăn trước mắt. Không những chúng ta phải đánh trận chiến này, lại còn phải thắng cho thật lớn! Chúng ta phải nhờ vào chuyện thắng lợi không ngừng về mặt chiến thuật để triệt tiêu thế bị động trong chiến lược, nhờ vào chuyện chủ động xuất kích nhiều lần mà tiêu diệt phần lớn sinh lực địch. Chỉ có như vậy, bước đường về sau mới có thể dễ dàng hơn.

Nói đến đây, giọng Thiển Thủy Thanh trở nên khẳng định:

– Tuy con cọp già Lương Trung Lưu này rất khó nuốt, nhưng dù là khó hơn nữa, nhất định chúng ta cũng phải tiêu diệt!

Theo câu nói này của Thiển Thủy Thanh, một sách lược cơ bản để quyết chiến với địch đã được định ra.

Trong trận chiến này, Thiển Thủy Thanh dứt khoát tiếp nhận đề nghị của Tây Lĩnh Dã, được ăn cả, ngã về không, quyết định dùng chiến thuật xuyên ra sau lưng đánh ngược lại, tiền hậu giáp công, chân chính thể hiện ra tính cách của một tay đổ bác điên cuồng lớn mật.

O0o

Ngày Hai Mươi tháng Mười Một, đại quân của Lương Trung Lưu đã đến vùng rừng núi Tiếp Thiên, ở nơi này, một trò chơi trốn tìm trong rừng rậm đầy đường ngang ngõ tắt đang chờ đợi lão. Cùng lúc đó, đoàn đi sứ do Cơ Nhược Tử dẫn đầu đã đi tới tận cùng phía Đông của hành lang Thánh Khiết, nơi đóng quân của Quân đoàn Tường Long.

Đi thêm về phía trước một đoạn nữa, các nàng sẽ tiến vào địa phận của Công quốc Thánh Uy Nhĩ, chuẩn bị triển khai tài ăn nói lợi hại của mình ở quốc gia dị tộc tóc vàng mắt xanh này. Các nàng sẽ dùng hết mọi thủ đoạn để đối phó với đám người vừa là địch nhân vừa là bằng hữu này, để có thể đạt được mục đích chính trị của mình.

Hạnh Trung Nguyên của Quân đoàn Tường Long đích thân ra khỏi nơi đóng quân nghênh đón, nghi lễ vô cùng long trọng. Chuyện ra ngoài dự liệu của Cơ Nhược Tử chính là, Hạnh Trung Nguyên ăn mặc như một quan văn, bộ râu ba chòm dài phấp phới bay trong gió, bước chân đi lại nhẹ nhàng yếu ớt, đúng là không hề có chút võ công nào. Bề ngoài của ông ta trông có vẻ hào hoa phong nhã, nói chuyện lễ phép nhã nhặn, nhìn không ra bộ dạng của một vị Tổng Suất chút nào.

Vào buổi chiều, sau khi tắm rửa tẩy trần, Hạnh Trung Nguyên đích thân mở tiệc khoản đãi bọn Cơ Nhược Tử. Vì ở quân doanh nên không được thịnh soạn cho lắm, nhưng hết sức nhiệt tình.

Sau khi yến tiệc xong xuôi, Hạnh Trung Nguyên thân mật mời Cơ Nhược Tử và Vân Nghê đi ra ngoài dạo chơi, ngắn phong cảnh vùng biên cương Đế quốc. Hai nàng Cơ Vân hết lời cảm tạ, Hạnh Trung Nguyên đáp với giọng điệu sâu xa:

– Ta cùng Phong Vũ từng là bạn đồng song thuở nhỏ, từng học chung trong một thời gian. Lần này các vị hiền điệt tới đây, Phong Vũ đã đích thân viết cho ta một phong thư nhờ ta chiếu cố, bệ hạ cũng dặn dò ta phải chiêu đãi cẩn thận, nhiệm vụ của các vị hiền điệt lần này vô cùng quan trọng, ta cũng không dám lơ là!

Lúc này hai nàng mới hiểu được, thì ra trong chuyện này còn có một tầng quan hệ sâu xa.

Hiện giờ bọn họ đang ở tận cùng phía Đông của hành lang Thánh Khiết. Cả hành lang Thánh Khiết giống như một chiếc thắt lưng của đại lục, vắt ngang qua đại lục Quan Lan. Nó bắt đầu từ Đại thảo nguyên Tây Phong ở phía Tây, đi ngang qua cả đại lục, phía Đông kết thúc ở Đế quốc Thiên Phong. Chung quanh hành lang này, việc mua bán giao địch diễn ra phồn hoa tấp nập, không hề gián đoạn vì khói lửa chiến tranh. Hành lang Thánh Khiết có thể nói là cây sinh mạng của cả đại lục Quan Lan, nếu nói sông Lan Thương cung cấp phù sa màu mỡ, là đường sinh mạng của cả đại lục, như vậy hành lang Thánh Khiết giống như cột sống xuyên ngang qua cả đại lục Quan Lan.

Chung quanh hành lang Thánh Khiết, bao nhiêu năm nay cũng không biết đã có bao nhiêu trận chiến xảy ra. Hiện giờ, những quốc gia chiếm cứ chiếc thắt lưng của đại lục này gồm có Công quốc Thánh Uy Nhĩ, Đế quốc Kinh Hồng, còn có một ít nước nhỏ ở phía Tây, bao gồm cả Đại Đế quốc Tây Xi nằm ở cực Tây.

Hạnh Trung Nguyên nói:

– Hành lang Thánh Khiết là con đường huyết mạch về kinh tế, quốc gia nào nằm trong vị trí này, quốc gia đó sẽ trở nên giàu có. Chỉ riêng hành lang Thánh Khiết, hàng hóa qua lại mỗi năm trên đó đã chiếm tới hai mươi phần trăm trong tổng hàng hóa của cả đại lục, có thể thấy lưu lượng của nó to lớn tới mức nào. Mà ở đoạn giữa của hành lang này có tầm quan trọng hơn hai đầu. Ở giữa hành lang lại có hai con đường lớn thông về phía Nam và phía Bắc, trở thành một hình chữ thập hoàn mỹ phân chia cả đại lục, ai có được nó, chẳng khác nào được đứng giữa trung tâm thế giới. Địa phương ấy có tên là thành Mễ Đặc Liệt, theo ngôn ngữ Đế quốc Thiên Phong là thành Trung Tâm, toàn bộ thành thị chính là được thành lập ở giữa trung tâm.

Nói đến đây, ông ta cười nhìn Cơ Nhược Tử:

– Công quốc Thánh Uy Nhĩ là một quốc gia có diện tích hẹp mà dài, bọn chúng sát nhập dần dần dọc theo hành lang Thánh Khiết mà trở thành một Liên hiệp Công quốc. Thành Trung Tâm chính là kinh đô của Vương quốc Thánh Lộ Dịch, nhờ vào việc buôn bán sầm uất ở đó, bọn họ trở thành nơi mà cả thế giới phải chăm chú nhìn vào. Trong mười đại danh cung của đại lục Quan Lan, một vùng thành Trung Tâm đã có ba cung, đó là Hoàng cung của Vương quốc Thánh Lộ Dịch: Cung Thánh Ba Phỉ; cung điện của Giáo hoàng: Cung Thánh Mạn Đức; và Cung Hội nghị của Công quốc Thánh Uy Nhĩ, nơi mà các vị hiền điệt muốn tới chính là nơi đó.

Cơ Nhược Tử hiểu rằng đây là Hạnh Trung Nguyên có lòng chỉ giáo cho nàng, bèn cười hỏi:

– Không biết người Đế quốc Kinh Hồng có bao nhiêu lực khống chế đối với hành lang Thánh Khiết?

Hạnh Trung Nguyên lập tức trả lời:

– Hành lang Thánh Khiết cũng không phải là một con đường duy nhất, mà là tên gọi của cả một vùng, bởi vậy bản thân khái niệm ‘hành lang’ là rất mơ hồ. Các quốc gia chung quanh hành lang đều có đường biên giới thuộc về mình, trong đó, người Công quốc Thánh Uy Nhĩ chiếm phần lớn nhất, nhiều nhất, cũng phồn hoa nhất. Còn người Đế quốc Kinh Hồng chỉ có sức ảnh hưởng nhất định với hành lang Thánh Khiết mà thôi, nhưng dưới áp lực quá lớn của Đế quốc ta, bọn chúng không còn nhiểu sức lực để tranh chấp với người Công quốc Thánh Uy Nhĩ. Huống chi muốn đánh hạ Công quốc Thánh Uy Nhĩ, ngay cả Đế quốc Thiên Phong ta còn không nắm chắc!

Vân Nghê nghe vậy lập tức hỏi:

– Người Công quốc Thánh Uy Nhĩ lợi hại vậy sao? Bạn đang xem truyện được sao chép tại: chấm c.o.m

Hạnh Trung Nguyên bật cười ha hả:

– Không, trên thực tế hoàn toàn ngược lại, bọn chúng yếu đến nỗi chỉ cần dám bước ra

Ngoài nửa bước, Quân đoàn Tường Long ta nắm chắc có thể chém một đao bay đầu chó của bọn chúng. Nhưng nếu chúng ta muốn tiến công vào lãnh thổ của Công quốc Thánh Uy Nhĩ, đừng nói kẻ thư sinh yếu ớt như ta, cho dù Liệt Tổng Suất sống lại, tập hợp hết binh lực của năm Đại Quân đoàn, cũng chưa chắc đã tiêu diệt được quốc gia này! Năng lực tấn công và phòng ngự của bọn chúng là độc nhất trong thiên hạ!

Đối với cách nói của Hạnh Trung Nguyên, Vân Nghê hoàn toàn không hiểu, ngay cả Cơ Nhược Tử cũng chỉ hiểu được một phần. Nhưng Hạnh Trung Nguyên dẫn dắt Quân đoàn Tường Long giằng co với người Công quốc Thánh Uy Nhĩ ở phía Đông hành lang Thánh Khiết đã nhiều năm, cho nên sự hiểu biết của ông ta đối với bọn chúng vô cùng sâu rộng.

Hiện giờ Cơ Nhược Tử muốn đi sứ Công quốc Thánh Uy Nhĩ, như vậy cần phải hiểu biết toàn diện về quốc gia này. Những hiểu biết trước đây của nàng chỉ là về phương diện chính trị, tôn giáo văn hóa của người Công quốc Thánh Uy Nhĩ, đối với phương diện quân sự, hiểu biết của nàng vẫn còn có hạn. Vì vậy Hạnh Trung Nguyên chịu sự nhờ vả của Vân Phong Vũ và Thương Dã Vọng, mới chỉ điểm cho Cơ Nhược Tử một ít tình huống cụ thể, để cho nàng có thêm hiểu biết, có thể dễ dàng chuẩn bị.

Là Tổng Suất của Quân đoàn Tường Long, trong số năm Đại Quân đoàn của Đế quốc, Hạnh Trung Nguyên là một người rất bình thường, không có gì là nổi bật.

Ông ta không được cai quản Quân đoàn hùng mạnh nhất Đế quốc như Liệt Cuồng Diễm, cũng không được cai quản Quân đoàn Ngự Lâm quân của Đế quốc như Quý Cuồng Long, lại càng không giống như Quân đoàn Ưng Dương và Quân đoàn Tuyết Phong, thường xuyên xảy ra chiến sự với quốc gia mà bọn họ canh giữ, có sự cọ xát. Quân đoàn Tường Long mà Hạnh Trung Nguyên cai quản trong mười năm qua chỉ xảy ra vỏn vẹn hai trận chiến, gần như là một Quân đoàn yên bình nhất, cũng được coi là Quân đoàn có chiến lực yếu nhất trong năm đại Quân đoàn của Đế quốc.

Bởi vậy nếu so ra trong năm vị Tổng Suất của năm Đại Quân đoàn, bản thân Hạnh Trung Nguyên chỉ có thể xếp chót. Nhưng ông ta lại là vị Thống soái có trí tuệ chính trị cao nhất, sâu sắc nhất trong năm vị Tổng Suất.

Bởi vì Quân đoàn Tường Long mà ông ta lãnh đạo, nói theo một nghĩa nào đó chính là cai quản cửa ngõ ra vào duy nhất của cả Đế quốc, là huyết mạch kinh tế của Đế quốc, tuy rằng không thường xảy ra chiến sự, nhưng lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bởi vậy, Hạnh Trung Nguyên cũng không phải là vị Tổng Suất xuất thân từ một viên chiến tướng đi lên, trước khi ông ta trở thành lãnh tụ tối cao của Quân đoàn này, ông ta trông coi Ty Chuyển Vận của viện Ngự Càn.

Ông ta là người duy nhất trong Đế quốc Thiên Phong lấy thân phận quan văn mà nhậm chức võ tướng, chuyện này liên quan tới nhiệm vụ đặc thù của Quân đoàn Tường Long.

Nhiệm vụ chủ yếu của Quân đoàn Tường Long chính là bảo đảm cho hành lang Thánh Khiết được thông suốt, bản thân Quân đoàn Tường Long tồn tại là vì bảo vệ bằng vũ lực khi cần thiết, chứ không phải dùng vũ lực để xâm lược. Tất cả những phiền phức xảy ra ở vùng biên giới như tranh chấp, xung đột võ trang…đều cố gắng dùng thủ đoạn ôn hòa giải quyết, chứ không phải là giải quyết bằng vũ lực. Bởi vậy Hạnh Trung Nguyên được bổ nhiệm làm Tổng Suất không phải nhờ vào năng lực chỉ huy tác chiến của ông ta, mà nhờ vào sự am hiểu các thủ đoạn ngoại giao và chính trị, nhờ vậy mới được Hoàng đế ưu ái. Ngược lại Phó Suất của ông ta là Tân Nghiệp Hoành mới là Tổng chỉ huy thật sự của quân đội. Yêu cầu của Thương Dã Vọng đối với Quân đoàn Tường Long chính là, nếu ở thời kỳ không có chiến tranh, tất cả phải nghe theo Hạnh Trung Nguyên, như vậy sẽ tránh được chuyện xảy ra những cuộc chiến vô nghĩa. Nếu đến thời kỳ xảy ra chiến tranh, lập tức đổi lại Tân Nghiệp Hoành nhận chức Tổng Suất tạm thời, nhưng quyết định đánh hay không đánh vẫn do Hạnh Trung Nguyên làm chủ. Cũng chỉ có Thương Dã Vọng mới có thể ra một quyết định dứt khoát như vậy, bởi vậy Quân đoàn Tường Long mới trở thành một Quân đoàn đặc thù nhất trong năm Đại Quân đoàn của Đế quốc. Bởi vì Hạnh Trung Nguyên là người duy nhất ở miền Tây của Đế quốc có quyền quyết định có nên khai chiến hay không, cũng vì ông ta xuất thân là quan văn, cho nên nếu chưa tới thời điểm mà ông ta cho rằng cần thiết, ông ta sẽ tuyệt đối không hề mở miệng nói tới chiến tranh.

Còn chuyện vì sao người Đế quốc Thiên Phong lại tỏ ra khách khí với người Công quốc Thánh Uy Nhĩ như vậy, nhưng lại cũng coi thường như vậy, dù là Cơ Nhược Tử cũng không thể nào hiểu được, cho nên các nàng chỉ có thể tiếp tục lắng nghe Hạnh Trung Nguyên chỉ điểm bến mê.

Hạnh Trung Nguyên cười nói:

– Muốn nói tới bọn người Công quốc Thánh Uy Nhĩ, thật sự là một câu chuyện nói mấy ngày mấy đêm cũng chưa xong. Tuy nhiên ta có thể chọn vài điểm thú vị kể cho các vị hiền điệt.

-…Nói đến người Công quốc Thánh Uy Nhĩ, không thể không nói rằng ngoài hai tật xấu lớn nhất của bọn chúng là tham lam và háo sắc, còn có một tật xấu khác là tự cao đến cực độ, điển hình cho miệng hùm gan sứa. Cứ lấy một ví dụ đơn giản nhất thì sẽ rõ.

-…Chế độ xây dựng quân sự của người Công quốc Thánh Uy Nhĩ lấy chiến đoàn làm đơn vị tác chiến cơ bản, nhân số của một chiến đoàn như vậy có ba ngàn người, tương đương với một Doanh của Đế quốc Thiên Phong chúng ta. Trong quân chế của Đế quốc Thiên Phong, Quân đoàn Bạo Phong là được ưu tiên bổ sung binh lực nhất. Chỉ cần một Doanh xuất hiện tổn thất một trăm binh sĩ trở lên, trong vòng ba tháng, Đế quốc sẽ bổ sung cho đầy đủ. Còn ba Quân đoàn khác thì sẽ bảo trì biên chế đầy đủ trong vòng nửa năm, chế độ bổ sung này theo thứ tự là Quân đoàn Trung Ương trước, sau đó mới tới Quân đoàn Tuyết Phong, rồi tới Quân đoàn Ưng Dương, Quân đoàn Tường Long sẽ được bổ sung trong vòng ba năm. Tình trạng như vậy khiến cho nhân số của các Quân đoàn nhìn qua chỉ hơn mười vạn, nhưng đó đều là con số thật. Không giống như hiện tại rất nhiều quốc gia xuất động trăm vạn đại quân, thật ra con số ấy chỉ là bề ngoài mà thôi, trong số đó, đặc biệt Công quốc Thánh Uy Nhĩ là nghiêm trọng nhất!

-…Ở Công quốc Thánh Uy Nhĩ có hai trăm vạn binh sĩ thường trú, được xưng là thực lực quân sự còn hùng mạnh hơn cả Quân đoàn Tuyết Phong, nhưng sự thật chỉ có khoảng sáu trăm chiến đoàn, nhưng không có chiến đoàn nào là đầy đủ biên chế. Mỗi chiến đoàn chỉ có binh lực thật sự nhiều nhất là hai ngàn người, binh lực thật sự của cả nước chỉ khoảng trăm vạn, trong đó còn có khoảng trên dưới ba mươi vạn là lính do quý tộc chiêu mộ riêng, lực chiến đấu của chúng căn bản không có gì đáng nói, căn bản chỉ là đám lưu manh côn đồ cầm vũ khí mà thôi. Số chiến sĩ còn lại vẫn bao gồm một phần thành viên của bộ phận hậu cần không tham gia chiến đấu, không giống như Quân đoàn Bạo Phong chúng ta, nói mười lăm vạn người thì phải đúng là mười lăm vạn chiến sĩ chiến đấu, không tính số thành viên hậu cần trong đó như bọn chúng.

-…Cách làm lừa mình dối người này ảnh hưởng nghiêm trọng tới thực lực quân sự của người Công quốc Thánh Uy Nhĩ, chỉ lừa gạt được chính mình mà không thể lừa gạt được đối thủ. Cũng vì như vậy, nếu như thật sự ra chiến trường, rất dễ dàng đưa ra quyết định sai lầm về mặt chiến lược. Khi nơi nào đó trên chiến trường cần có ba vạn người mới có thể giải quyết tình hình, Thống soái của Công quốc Thánh Uy Nhĩ điều động mười chiến đoàn sang đó, như vậy có nghĩa là nhiều nhất chỉ có hai vạn người sang đó tham gia chiến đấu mà thôi, sẽ vì binh lực thiếu thốn trầm trọng mà đưa tới hậu quả khôn lường.

Nói đến đây, Hạnh Trung Nguyên vuốt râu mỉm cười:

– Mười lăm năm trước, Công quốc Thánh Uy Nhĩ từng có một trận chiến với Đế quốc Thiên Phong ta, kết quả cái được gọi là bốn mươi vạn người của Công quốc Thánh Uy Nhĩ bị Quân đoàn Tường Long ta đánh một trận tan tác. Nguyên nhân bọn chúng thất bại có rất nhiều, mà một trong những nguyên nhân lớn nhất là hiểu sai trầm trọng về binh lực của phe ta. Người ta nói biết người biết ta, trăm trận trăm thắng, nhưng người Công quốc Thánh Uy Nhĩ đang làm rất xuất sắc theo chiều ngược lại, bọn chúng vừa không biết người, vừa không biết ta!

Cơ Nhược Tử và Vân Nghê nghe vậy bật cười lớn, không ngờ người Công quốc Thánh Uy Nhĩ lại tự cao tự đại, ngu xuẩn đến mức như vậy. Chính vì như thế các nàng càng không hiểu vì sao người Đế quốc Thiên Phong lại e ngại người Công quốc Thánh Uy Nhĩ.

Hạnh Trung Nguyên lại nói tiếp:

– Nhưng cho tới bây giờ người Công quốc Thánh Uy Nhĩ vẫn tiếp tục giở trò lừa mình dối người này ra mà không biết mệt. Hiện giờ số lượng chiến đoàn mà bọn chúng xây dựng đã đạt tới hơn bảy trăm năm mươi cái, mỗi quan chỉ huy chiến đoàn đều được sắc phong danh hiệu Tử tước. Mà gần đây Công quốc Thánh Uy Nhĩ vừa mới tăng thêm gần một trăm Tử tước, mỗi tước vị Tử tước như vậy được niêm yết giá hẳn hoi là ba ngàn lượng vàng. Nhân số quân đội của người Công quốc Thánh Uy Nhĩ không tăng, nhưng đơn vị tác chiến cơ bản lại tăng mạnh như vậy, làm cho người Đế quốc Thiên Phong ta dở khóc dở cười đối với chuyện này. Năm xưa, Tổng Suất đời trước của Quân đoàn Tường Long là Văn Phong Long thậm chí từng nói một câu như vầy: “Ta tin tưởng đến lần sau khi chiến đấu với người Công quốc Thánh Uy Nhĩ, chúng ta sẽ phải đối mặt với sáu mươi vạn đến tám mươi vạn đại quân của chúng. Mà sau khi chúng ta tiêu diệt được khoảng bốn mươi vạn đại quân của địch, đạt được thắng lợi, rất có thể chỉ đếm được bốn vạn thi thể mà thôi, số còn lại bốc hơi bay đi mất!”

Cơ Nhược Tử và Vân Nghê cùng cười tới nỗi gập đôi người lại, không thể nào đứng thẳng. Nghĩ đến năng lực lừa mình dối người của người Công quốc Thánh Uy Nhĩ đã đạt tới trình độ này rồi, khó có thể trách người Đế quốc Thiên Phong lại coi thường bọn họ, nhưng Hạnh Trung Nguyên vẫn còn chưa kể xong:

– Năm xưa bệ ha cũng từng nói qua một câu như vầy: “Từ khi loài người có chiến tranh tới nay, chuyện nói dối quân tình đã trở thành một nỗi đau nhức nhối trong quân, kéo dài mãi mà không dứt. Tuy nhiên, cho tới bây giờ đều là địch nhân báo tổn thất thấp, quân ta giết địch báo cao. Nhưng khi Đế quốc Thiên Phong ta chiến đấu với người Công quốc Thánh Uy Nhĩ, lại trở thành địch nhân báo tổn thất mười mấy, hai mươi chiến đoàn, nhưng Quân đoàn Tường Long báo giết địch lại có chừng một, hai vạn. Quả thật hết sức buồn cười! Quân đoàn Tường Long ta đối mặt với người Công quốc Thánh Uy Nhĩ, không ngờ lại trở thành quân nhân khiêm tốn nhất trên đại lục?”

Vân Nghê không nhịn được nửa, buột miệng hỏi:

– Nếu đã là như vậy, vì sao Đế quốc ta lại e ngại bọn ngu dốt kia đến như vậy?

Hạnh Trung Nguyên thở dài bất đắc dĩ:

– Chính là vì Mạn Đức giáo kia, Liên hiệp Công quốc này thành cũng nhờ vào Mạn Đức giáo, bại cũng vì Mạn Đức giáo. Các vị hiền điệt có từng nghe qua Mạn Đức giáo có một đội võ sĩ Thánh đường hay chưa?

Cơ Nhược Tử gật đầu:

– Nghe nói đội võ sĩ Thánh đường này có chiến lực hết sức tinh anh, nhân số năm vạn người, toàn bộ đều là trọng trang bộ binh và trọng giáp thiết kỵ, trang bị hoàn mỹ, huấn luyện hoàn thiện, sức chiến đấu hết sức hùng mạnh.

– Đúng vậy!

Hạnh Trung Nguyên lớn tiếng nói:

– Chính là đội võ sĩ Thánh đường đó, có thể nói đã tập trung hết lực lượng võ sĩ tinh anh của Công quốc Thánh Uy Nhĩ. Không chỉ có như vậy, đội võ sĩ Thánh đường cũng không chỉ có năm vạn người như lời đồn. Phải biết rằng chế độ sắc phong kỵ sĩ của người Công quốc Thánh Uy Nhĩ có ý nghĩa khác nhau rất lớn với kỵ binh của Đế quốc ta. Kỵ sĩ là quan quân, có thể có lực lượng quý tộc hỗ trợ, đội võ sĩ Thánh đường chính là một cánh quân hùng mạnh do kỵ sĩ của Công quốc Thánh Uy Nhĩ tạo thành. Mỗi một tên kỵ sĩ của chúng đều có bốn tên đi theo hỗ trợ, lúc chiến đấu thì hiệp đồng tác chiến. Bởi vậy nhân số thật sự của đội võ sĩ Thánh đường không phải là năm vạn người, mà là hai mươi lăm vạn. Lực chiến đấu của chúng thậm chí còn hơn cả Quân đoàn Bạo Phong!

– Trời ơi!

Hai nữ nhân đồng thời kinh hô thất thanh:

– Vì sao Mạn Đức giáo lại có một cánh quân hùng mạnh như vậy nhưng chỉ xưng là có năm vạn người? Đây hoàn toàn không phù hợp với tác phong hành sự của người Công quốc Thánh Uy Nhĩ chút nào!

Hạnh Trung Nguyên cười hăng hắc:

– Cho nên mới nói Công quốc Thánh Uy Nhĩ thành cũng nhờ vào Mạn Đức giáo, bại cũng vì Mạn Đức giáo. Tuy rằng người Công quốc Thánh Uy Nhĩ thích khuếch đại sức chiến đấu của mình, nhưng Mạn Đức giáo không làm như vậy. Chẳng những chỉ có vậy, bọn chúng còn muốn cố ý che giấu, bởi vì bọn chúng không thuộc quốc gia, mà thuộc quốc giáo, không thích hợp công khai thể hiện rằng quân lực của quốc giáo vượt hơn quốc gia, cho nên mới làm ra vẻ khiêm tốn như vậy. Nhưng sức chiến đấu của bọn chúng quả thật là vô cùng dũng mãnh. Mỗi tên võ sĩ Thánh đường đều là tín đồ liều mạng điên cuồng đã bị tẩy não, có tín ngưỡng cuồng nhiệt hiến thân vì giáo. Đừng bao giờ hy vọng nếu như lâm vào tình cảnh khó khăn bọn chúng sẽ chạy trốn, bởi vì căn bản là bọn chúng không sợ chết. Bọn chúng tin rằng trên trời có thiên đường, sau khi bọn chúng tử trận có thể lên thiên đường một cách quang vinh, có thể hưởng dụng mỹ nữ và rượu ngon không bao giờ hết. Thái độ của bọn chúng đối với cái chết chính là hết sức chờ mong!

Cơ Nhược Tử và Vân Nghê nhìn nhau, thở ra một hơi thật dài:

– Thì ra là như vậy, còn câu ‘bại cũng vì Mạn Đức giáo’ giải thích như thế nào?

Hạnh Trung Nguyên đáp:

– Sự tồn tại của Mạn Đức giáo khiến cho vương quyền của Công quốc Thánh Uy Nhĩ bất ổn, các Công quốc không phục lẫn nhau, ai cũng coi thường người khác. Thật ra chiến sự xảy ra ở vùng hành lang Thánh Khiết nhiều nhất không phải là giữa các quốc gia với nhau, mà là giữa nội bộ của Công quốc Thánh Uy Nhĩ. Giữa các tiểu Công quốc thường xuyên xảy ra tranh chấp với nhau, vì ích lợi mà ra tay động thủ, thậm chí trong Viện nguyên lão còn xảy ra tình huống ném giày vào mặt và mắng chửi lẫn nhau. Hừ hừ, bọn chúng tự xưng là chế độ dân chủ, ta thấy chỉ là một trò ảo thuật hay một vở hài kịch mà thôi. Không có sự chỉ huy thống nhất và ổn định của Hoàng quyền, dẫn đến kết quả là công kích lẫn nhau, thực lực giữa các quốc gia bị hao tổn nghiêm trọng. Mạn Đức giáo ngồi mát ăn bát vàng, các Công quốc phải bỏ công sức, thậm chí Quốc chủ của Vương quốc Thánh Lộ Dịch cũng phải tôn kính Giáo chủ, gọi là Giáo hoàng, phải gọi là ông vua không ngai thì đúng hơn. Nếu không có người Công quốc Thánh Uy Nhĩ hưởng ích lợi của hành lang Thánh Khiết, hàng năm mang lại vô số tiền bạc của cải, lại có Liên minh các thành thị tự do tiến cống hàng năm, người Đế quốc Thiên Phong ta đâu phải e ngại bọn chúng như vậy?

-…Bọn chúng chính là một quốc gia điển hình bất lực với bên ngoài, nhưng vẫn đủ sức phòng ngự. Hàng ngày chém giết lẫn nhau, tranh chấp cãi vã, chỉ khi nào có người đánh tới cửa nhà, bọn chúng sẽ lập tức đoàn kết nhất trí với nhau để đối phó với người ngoài. Giáo hoàng có uy tín cực cao đối với dân chúng Công quốc Thánh Uy Nhĩ, chỉ cần hô lên một tiếng, phát động Thánh chiến, sẽ rất dễ dàng phát động một cuộc đại chiến liều mạng cả nước đứng lên, dân chúng cũng thành chiến sĩ. Bởi vậy người Công quốc Thánh Uy Nhĩ căn bản là không có năng lực tấn công xâm lăng người khác, nhưng nếu có ai muốn đánh vào nước bọn chúng, vậy phải đối mặt với một lực lượng phản kháng vô cùng mạnh mẽ. Năm xưa Đế quốc Đại Lương lấy trăm vạn đại quân ba lần tiến công xâm lược hành lang Thánh Khiết, kết quả đại bại lui về, người Công quốc Thánh Uy Nhĩ thừa thắng xông lên, nhưng vì nội bộ phân chia lợi ích không đồng đều, lại bị Đế quốc Đại Lương đánh cho lui trở lại. Quốc gia này có sự khác biệt rất lớn so với bất cứ quốc gia nào khác trên đại lục, vì vậy dù bọn chúng có dân số khổng lồ, chiếm cứ vùng đất màu mỡ nhất của hành lang Thánh Khiết, nhưng không có cách nào khuếch trương lãnh thổ, mà người khác cũng không thể nào đánh được quốc gia bọn chúng. Tình trạng này đã kéo dài liên tục mấy trăm năm qua.

Nói dứt câu, Hạnh Trung Nguyên cười:

– Cho nên người Công quốc Thánh Uy Nhĩ chỉ là tên công tử bột cậy quyền ỷ thế nhưng không làm gì được người khác, đây là cách mà chúng ta gọi bọn chúng. Chỉ cần chúng ta không đánh tới, bọn chúng không thể tạo ra mối nguy hại gì với chúng ta.