Thiên Sứ Áo Đen

Chương 2


 

Quán cà phê này rất nhỏ, nằm trên con đường Trung Hiếu Đông mới mở, được bày biện trang hoàng rất thanh cảnh, trang nhã. Tường sơn màu trắng ngà, kèo cột bằng gỗ nguyên khai, giá để đèn bằng gỗ, các loại bàn ghế đều mộc mạc cổ xưa, mang phong vị đảo Sip ở Hy Lạp. Giang Hoài và Đan Phong ngồi trong một góc nhỏ, họ đã ngồi như vậy rất lâu. Từ chỗ họ ngồi, có thể nhìn qua cửa kính thấy được quang cảnh đường phố. Họ đã cùng đi ăn trưa, rồi mới đến quán cà phê Athena là cái quán rất có phong cách Hy Lạp, hợp với tên của vị thần danh tiếng.

Trên đường phố, bóng chiều đã bắt đầu dâng bảng lảng, ngày mùa đông bao giờ cũng rất ngắn, mà ngày hôm nay lại ngắn hơn. Đan Phong ngồi ngả mình vào lưng ghế, đôi mắt nghĩ ngợi ngắm nhìn những chiếc xe chạy như thoi đưa trên đường phố. Có những chiếc xe như đã bật đèn, ánh đèn chiếu loang loáng từng vệt đỏ hồng lên mặt cô. Tay cô xoay xoay, gõ gõ chiếc bật lửa gas màu ánh bạc có viền đen làm nó phát ra tiếng kêu "cạch cạch" khe khẽ, đều đều, tựa như nó đang giữ nhịp cho câu chuyện của cô. Cô nói chậm rãi, bình thản, tự nhiên; nhưng dường như ẩn sau vẻ bình thản đó vẫn còn cảm xúc buồn bực, khó chịu khó lý giải.

– Em thường hay nghĩ, trước kia đáng lẽ em nên ở tại Đài Loan cùng với chị em. Nhưng, việc đó chẳng bao giờ thực hiện được, vì bất luận thế nào thì năm đó chị cũng đã vào Đại học, mà em mới mười bốn tuổi. Số phận đã đưa đẩy khiến mẹ đi yêu một người đàn ông ngoại quốc và từ bỏ thân phận người đàn bà góa để lấy ông ta; số phận đã khiến cho chị em, mẹ con phải chia ly, biết làm sao được? Em nghĩ, mẹ và chị chia lìa nhau đủ đã khổ lắm rồi, chi Bích Hòe cũng có cái cố chấp trong tình cảm, chị ấy nhất định thông cảm với việc lấy chồng người nước ngoài của mẹ. Cũng có thể là tình cảm của chị đối với ba em sâu sắc hơn em, mà cũng có thể chị còn giữ cái quan niệm bảo thủ xưa. Nói chung, trong ấn tượng của em, chị ấy là một người con gái mẫu mực, bên ngoài thì nhu mì còn bên trong thì cứng rắn Cô ngước nhìn anh khẽ hỏi Chị ấy là người như vậy, đúng không?

Anh nhả một bụm khói thuốc, trầm ngâm, không trả lời. Cô cũng không đợi anh trả lời, điềm nhiên nói tiếp:

– Thế rồi, chúng em đến nước Anh, tất cả đều khó khăn hơn tưởng tượng nhiều. Cha dượng không giàu có gì, ông ấy luôn thất nghiệp, còn mẹ em, trong bốn năm đã sinh thêm cho ông những ba đứa con, quả thật là vĩ đại. Chỉ trong hai năm ngắn ngủi, họ đã thành một gia đình kiểu Ăng lê chính hiệu, và em là một kẻ duy nhất không hòa nhập với gia đình đó. Có trời mới biết trong giai đoạn đó khó chịu như thế nào, bọn em trai em gái đã chiếm hết cả sự quan tâm chú ý của mẹ, em như một kẻ bị ruồng bỏ, như con chim lìa đàn. Chỉ có chị Bích Hòe, chị ấy đã luôn viết thư cho em, an ủi em, khuyến khích em, chị ấy trở thành chỗ dựa tinh thần của em.

Cô ngừng lại, uống một ngụm cà phê, ngước mắt lặng lẽ nhìn sang phía anh, hạ thấp giọng:

– Em đâu cần phải nói những cái đó, anh biết cả rồi đứng không?

Anh gật đầu:

– Anh biết, nhưng vẫn muốn nghe em nói.

Cô trầm ngâm một lát, rút ra một điếu thuốc, anh giúp cô châm lửa. Cô hút một cách nhẹ nhàng, thanh nhã, những cử chỉ của cô đã làm cho việc hút thuốc cũng trở lên một nghệ thuật. Anh quan sát cô rất kỹ; dáng vẻ ung dung hơi Âu hóa, cái nhìn ấy thâm thúy, cách nói năng kín kẽ có cân nhắc … Không, cô ấy không giống Bích Hòe! Anh định thần nhìn lại cô: nét âu sầu vương nơi khóe mắt, vẻ chua chát thoáng đọng trên môi, đôi lông mà thi thoảng cau lại … Ôi, cô ấy phải chăng chính là Bích Hòe?

– Thôi, không nói những chuyện anh đã biết nữa. Cô bắt đầu nói tiếp Rồi sau đó, bắt đầu một ngày, trong thư của chị của chị Bích Hòe đầy những tên anh; anh cao bao nhiêu, nặng bao nhiêu, tuổi bao nhiêu, trên đầu có bao nhiêu sợi tóc, trong cơ thể có bao nhiêu tế bào …, rồi anh rất hài hước, anh rất tài hoa, anh rất đẹp, anh phóng khoáng, anh thông minh, anh đầy nghị lực … Tất, tất cả về anh! Anh là một siêu nhân, anh là một thượng đẳng thần!

Cô nói một hơi dài, sao mà lưa thoát, sao mà trơn tru vậy. Những câu nói nối tiếp nhau, cứ như một bánh pháo nổ giòn giã, đập vào thần kinh anh nhoi nhói. Bất giác anh ngồi thụt sâu vào lòng chiếc ghế, như muốn giấu bớt mình đi. Thế nhưng sự đau đớn đến thắt tim kia lại không cho phép anh trốn tránh, anh cau mày, nhắm mắt lại. Tự đáy lòng anh, đang có một tiếng thầm thì day dứt vang lên: Bích Hòe! Bích Hòe! Bích Hòe!

– Anh không biết đâu, khi đó anh không phải là của một mình chị Bích Hòe, anh cũng là của em nữa! Cô nói thẳng thắn, thản nhiên. Anh mở mắt to ra, lập tức chạm ngay cặp mắt sáng rực của cô Tuy mới mười sáu tuổi, nhưng đầu óc em đã thêu dệt đầy ắp những hình ảnh của anh. Mỗi buổi tối, khi mẹ em và cha dượng đang cầu kinh thì em cũng tụng niệm, nhưng lời cầu nguyện của em chỉ hướng về anh và chị Bích Hòe! Thế rồi sao đó, cuộc sống của em trở lên khó khăn hơn, em phải lựa chọn việc đi làm và học tiếp. Anh và chị ấy lại cứu em lần nữa, hai người gửi tiền học cho em, gửi liên tục, từ đồng tiên Đài Loan phải đổi thành đồng bảng Anh để gửi. Học phí của em có thể là quá xa xỉ! Em tới Luân Đôn lao vào học trường sân khấu. Mỗi lần viết thư cho em, chị ấy đều bảo: Sự nghiệp của em ngày càng sáng sủa, nên có phải chi một khoảng tiền học cũng không phí, không phải tính toán bận tâm gì. Không đáng gì ư? Sao lại không đáng bận tâm nhỉ? Cô đăm đăm nhìn anh Em tự bảo mình rằng, số tiền đó coi như là em vay, em sẽ phải trả. Em đã học rất chăm chỉ, miệt mài; ban ngày thì dốc sức cho việc học, buổi tối thì dốc sức vào chữ Hán. Chưa bao giờ em rời bỏ tiếng mẹ đẻ cả.

Anh nghĩ đến cuốn sách "Thiên sứ đen" đang còn để trên bàn làm việc của mình ở văn phòng, nghĩ đến lời để từ trên trang bìa lót, anh gật gật đầu:

– Không chỉ làkhông bỏ tiếng mẹ đẻ, mà em còn thường xuyên nghiên cứu, luyện tập viết Hán văn, và nghiên cứu văn học Trung Hoa nữa, đúng không?

– Đúng vậy, em đọc Hồng Lâu Mộng, đọc các tác gia như Lão Xá, Từ Chí Mạ, em còn xem cả Thủy Hử và Liêu Trai Chí Dị … Em đã đọc khá nhiều …

Anh không nói, nhưng nhìn cô, thầm tán thưởng. Điếu thuốc trên tay cô cũng lặng lẽ thoát lên làn khói mơ màng, đáy mắt cô hình như cũng đang có một vệt khói mờ mờ như vậy.

– Nhưng rồi sau đó, thư của chị ấy bỗng thưa hẳn đi, và càng ngày càng thưa hơn. Không những thưa mà mỗi lá thư cũng còn ngắn bớt đi nữa. Tuy vậy, chị vẫn gửi tiền, tháng nào cũng gửi. Chị đã nỗ lực thúc đẩy em học, trên đời có mấy người chị như vậy nhỉ? Về sau, đến thư chị cũng không viết, mà chỉ tháng tháng gửi tiền sang. Em nghĩ chắc chị sắp kết hôn, hẳn là chị bận sắp xếp chỗ ở mới, hẳn là chị bận giúp đỡ anh rễ tương lai của em vun trồng sự nghiệp, chị làm sao có đủ thời gian mà viết thư cho em gái như trước … Với lại, lúcđó em cũng rất bận, bận thi tốt nghiệp, bận thử vai diễn, bận đi tìm bạn trai, bận đi nhảy, bận rong chơi … Cô dập đầu mẫu thuốc lá, tay chống lên trán, mắt cô tối hơn lúc trước Mãi đến khi thi tốt nghiệp xong, em mới gửi điện cho anh và chị, mới nhận được thư của anh … Cô ngước lên, nhìn sang phía anh, nét mặt thay đổi, trong chớp mắt đã trở lên nghiêm túc và trang trọng Anh cho hay, chị qua đời đã được nửa năm. Đến giờ em vẫn giữ lá thư đó, bởi vì anh viết lá thư quá thê lương nhưng mà văn trong đó cũng quá hay.

Anh chăm chú nhìn đôi mắt còn đang chứa chất bao điều muốn nói, nhìn đôi môi đang

run run xúc động của cô, nhìn nét buồn kín đáo nơi khóe mắt của cô … Anh cả quyết ngồi thẳng người lên, dập tắt điếu thuốc, lớn tiếng:

– Đừng có nói đến lá thư đó, đừng nói về chị cô nữa, hãy nói về cô. Tại sao sau đó cô không cho tôi biết tin tức gì cả?

– Nói về em? Cô giật mình đôi mí mắt, vặn vẹo tay quanh hiếc bật lửa Những việc của em không có gì đáng nói. Bao nhiêu năm qua, từ khi em mới mười bốn đến năm em hăm mốt tuổi thì cuộc đời em, dù là về tinh thần hay thể chất, đều dựa vào chị ấy mà tồn tại. Mặc dù giữa hai chúng em có núi cao biển rộng cắt chia … Sau đó, em biết chị ấy đã mất, cây cột trụ của cuộc đời em đã đổ, thì em chỉ còn cách phải bắt đầu cuộc sống tự lập thôi. Trong một năm rưỡi vừa qua, em đã cố gắng cuộc sống tự lập.

– Nói tỉ mỉ chút nữa Anh nói như lệch.

– Tỉ mỉ thì rất đơn giản thế thôi. Cô gắng gượng mỉm cười mà vẫn không giấu được nét buồn buồn Em diễn kịch trong nhà hát, vai chạy hiệu. Em phải kiếm tiền, công việc khổ cực lắm, mà mục đích thì chỉ có một. Kiếm đủ tiền, về Đài Loan để thăm mộ chị, thăm người anh rễ chưa bao giờ biết mặt! Mắt cô long lanh như nước Không, em không gọi anh là anh rễ, chỉ có thể gọi là Giang Hoài thôi. Anh Giang Hoài …, Giọng cô trầm trầm như trong mơ cái anh chàng ngốc này, lại không lấy chị ấy trước khi chị ấy mất? Nếu vậy, ít nhất là khi trở về Đài Loan, em cũng tìm thấy một người bà con chứ?

Anh hơi chấn động, tim anh xao xuyến trước ánh mắt âm thầm rưng lệ của cô, bất giác giọng anh khàn xuống:

– Anh còn nhớ, trong thư anh viết chị ấy chết vì …

– Vì bệnh tim! Cô khẽ tiếp lời Trong bao điều bất hạnh, ông trời còn gỡ lại được một điều, là đã không để chị ấy phải chịu đau đớn lâu, chị đã chết một cách nhanh chóng.

Những thớ thịt trên mặt anh cứng lại, anh cúi đầu nhìn tách cà phê trong tay mình, cá phê đã nguội ngắt. Chất nước màu nâu đọng trong lòng tách sứ trắng muốt đã không còn một chút hơi nào. Anh chợt nghĩ tới khuôn mặt Bích Hòe trong giờ phút cuối, trắng như màu men sứ kia và lạnh toát cũng như men sứ. Anh rùng mình.

– Khốn khổ thật! Cô thở dài Chúng ta nói chuuện gì rồi cũng không thoát khỏi chuyện chết Cô ngao ngán nhìn anh, nhếch lông mày, không giấu ý cảm thông Em hiểu, đề tài này đối với anh không dễ chịu tí nào, đối với em cũng vậy Cô quay đầu nhìn ngoài cửa sổ, ngón tay lại lơ vẽ ngoằn ngoèo lên cửa kính lên cửa kính Hãy nói về em vậy, mấy câu rất đơn giản thế này: Em đã trở về Đoài Loan, cố tình không muốn cho anh biết, vì chị ấy đã mất được hai năm, có thể anh đã tìm được hạnh phúc mới khác rồi … Cô ngừng bặt, quay lại nhìn anh, rồi bỗng hỏi Anh đã tìm được chưa?

Anh nhìn cô, trong lòng chợt hiểu, rõ ràng là cô đã biết rồi mà còn hỏi.

– Chẳng nước biển xanh đậu gọi nước, Vũ sơn mây trắng mới là mây! Anh thầm thì đọc câu thơ ấy, khẽ tới mức chỉ một mình nghe được.

– Em không hiểu anh đang lẩm bẩn cái gì. Nhưng mà, em về đã được ba tháng, cũng hỏi thăm nhiều việc liên quan đến anh, hai năm qua thành công nhanh lắm, anh đã thành tay cự phách trong giới xuất bản, bao nhiêu cây viết đã rơi vào lưới của anh, anh đã có nhà riêng làm văn phòng, có xưởng in, có mạng lưới phát hành riêng, có căn hộ đẹp, có tất cả … Chỉ duy nhất, là chưa có một người vợ! Vậy tức là giọng cô lại dịu dàng như mộng anh vẫn chưa nhạt tình với chị em, đúng không?

Anh cắn chặt hàm răng, chăûng biết nói gì nữa. Anh đưa mắt lướt qua cô một lượt, ba tháng, cô ta đãvề những ba tháng rồi kia! Đã hỏi thăm rất nhiều việc! Một sự bất an không rõ rệt nào đó bỗng chụp lấy anh, hơi lạnh lại bò lên sống lưng. Còn cô, cô vẫn ngồi đó, trầm ngâm, nhàn nhã, cao quý, kín đáo mà dịu dàng, thân thiết. Anh không nhìn ra ở cô có chỗ nào đặc biệt.

– Giả dụ như anh đã kết hôn với ai đó rồi, thì em sẽ không đến quấy nhiễu làm mất sự yên tĩnh của anh nữa. Cô nói tiếp: Em thuê một căn hộ, và bắt đầu viết lách gì đó; rồi sau, em cảm thấy nên đến thăm anh xem sao … Vì vậy cho nên, hôm nay em mới đến văn phòng của anh Cô nhấp một ngụm cà phê, hơi để lộ hàm răng trắng đều tăm tắp như hạt trân châu Đó chính là tất cả những điều liên quan đến em. Chẳng có gì là bí hiểm, cũng chẳng có gì lạ lùng cả. Giang Hoài, có lẽ anh cảm thấy phiền toái vì sự xuất hiện của em chăng?

Anh nhìn thẳng vào cô.

– Đúng vậy đấy Anh nói rất thẳng thắn.

– Tại sao?

– Cô đã khơi dậy rất nhiều việc trong dĩ vãng, cô vạch vào vết thương đã lên da non, cô

làm cho công đức phấn đấu trong hai năm qua của tôi phút chốc hóa thành hư vô Anh đăm đăm nhìn cô, lắc đầu Đã có ai bảo cho cô biết rằng trông cô giống hệt như Bích Hoè chưa?

Cô gật đầu.

– Em biết chị Bích Hòe vẫn thường gửi ảnh cho em, mẹ em nói, em càng lớn càng giống chị ấy. Tất nhiên là thế, vì chúng em cùng một khuôn đúc ra mà!

Một lần nữa, anh xét từ vầng trán rộng đến đôi mắt, đôi môi của cô, anh thở dài qua kẽ răng, hình như có chỗ nào trong anh đang tấy lên đau nhức. Ánh mắt cô đã lại chiếu ra phía ngoài cửa sổ:

– Trời tối rồi Cô nói Thế là một ngày trôi qua lúc nào không biết, em phải về đây.

– Anh mời em ăn bữa tối! Anh nói rất nhanh.

– Hầu như em cứ ăn mãi từ trưa đến giờ rồi còn gì. Cô cười tươi tắn: Nào cơm Tứ Xuyên, rồi lại cà phê, bánh ngọt. Không, em không định ăn thêm bữa tối với anh nữa đâu, nói nhiều chuyện thế này rồi, em làm sao ăn được nữa. Em phải về nhà đây.

– Về nhà! Anh hơi sửng sốt.

– À, em nói sai rồi. Cô vội tiếp lời anh, ý nghĩa chữ "nhà" vốn không đơn thuần chỉ là một chỗ ngủ. Mấy năm qua, em đều không có nhà theo nghĩa gia đình, em chỉ là một con nhạn cô đơn lưu lạc. Giờ em về chỗ đậu tạm của em. Anh có biết một bài tiếng Anh nhan đề "Chim nhạn ở cuối rừng" không? 

– Chim nhạn ở cuối rừng?

– Không phải chim nhạn nhỏ như chim én đâu mà là con hồng nhạn lớn như chim sếu ấy kia.

– Không, anh không biết.

– Anh không biết, hồng nhạn là một loài chim di trú, thân hình nó rất lớn, nó chỉ có thể đậu trên bãi cỏ ở gần hồ nước hoặc bơi trên mặt hồ, đầm. Nhưng mà, có một con chim nhạn bị lạc bầy, nó dừng ở bìa rừng, nơi đó không thể ở lâu được, chỉ có thể nghỉ đỗ một lúc, nơi đó không có chỗ làm tổ. Cô hơi có điều gì suy nghĩ nên nói đến đây thì dừng lời.

– Ủa? Anh nhìn cô dò hỏi.

– Lời bài hát đó có mấy câu thế này. Cô nghiêng đầu cố nhớ, rồi đọc lên một cách rất diễn cảm và rành rọt. Chim nhạn ở bìa rừng. Mây bay trước mặt. Chẳng ngậm được vào mây. Cũng không xây được tổ. Chim nhạn chẳng muốn bay. Trên mây bao buồn tẻ! Cô dừng lời, thần thái vẫn như ngẫm nghĩ một điều gì, cô không nhìn anh mà nhìn đi một nơi nào xa lắm ngoài cửa sổ.

– Bài này không giống một bài hát tiếng Anh, mà lại giống như một bài thơ cổ của Trung Hoa Anh có vẻ hơi xúc động.

– Em đã bỏ công dịch ra Hán văn đấy mà. Cô quay lại chăm chú nhìn anh một lần nữa. Sau đó cô thở dài một cái, cô lấy dáng phấn chấn, ngồi thẳng người lên, nhặt chiếc bật lửa gas và hộp đựng thuốc lá của mình bỏ vào cái xắc bằng da, cô cố ý tạo ra một cái cười thoải mái Thôi, chim nhạn còn phải đi tìm cành cây để đỗ tạm đêm nay đã!

Anh chợt đưa tay ra, một cơn xúc động dâng lên khống chế cử chỉ của anh, anh không giữ được chủ động nữa, bàn tay tự nhiên chụp lấy bàn tay cô đang thu dọn mấy thứ trên mặt bàn, anh nắm chặt bàn tay mềm mại ấm áp đó.

– Vậy thì, em em hãy mời anh ăn bữa tối nay đi! Anh nói.

Cô nhìn anh ôn tồn:

– Ý anh nói là, anh muốn đến xem cái chỗ đậu tạm thời của con nhạn kia phải không?

Anh im lặng không nói.

– Thế thì đi! Cô nói và đứng dậy.

Họ ra khỏi quán Athena, gió đêm thổi từ đằng trước mặt tới, trời như muốn mưa, trông nằng nặng, trong gió thấy có hơi nước âm ẩm, se lạnh. Anh khoác chiếc áo ngoài lên vai cô, thân hình cô mảnh mai, yểu điệu nhưng lại có vẻ rắn rỏi, hiên ngang. Anh nói:

– Trông em không giống một con nhạn cô đơn.

– Thế ư?

– Em giống một con chim thiên đường. Anh dừng một lát: Em có biết chim thiên đường là thế nào không?

– Anh nói cho em biết đi!

– Chim thiên đường là một loài chim rất hiếm quý trên thế gian, nó có bộ lông mằu sắc rực rỡ, lộng lẫy, có cái đuôi xoè ra như cái ô, lại như ngọn lửa; nó còn có cái đầu kiêu hãnh với bộ lông làm thành chiếc vương miện óng ánh như cầu vồng. Nó sống ở những nơi rất vắng bóng người, con người chỉ nhìn thấy chỉ nhìn thấy nó chứ không bắt được.

Cô đưa mắt quét qua người anh.

– Cảm ơn lời ca ngợi của anh, thế còn chị em, chị giống như cái gì? Cũng là một con chim thiên đường ư?

– Bích Hòe ấy à? Anh trầm tư, không biết trả lời ra sao. Bên đường, chiếc xe của anh đang đỗ im lìm chờ đợi. Anh mở cửa xe. Lên xe đi! Anh kết thúc phần cuối câu chuyện một cách giản dị.

Mấy phút sau, anh đã đặt chân vào cái "tổ" nhỏ bé của cô. Vào trong phòng, anh lại cảm thấy thoáng đãng dễ chịu. Căn hộ nhỏ này giản dị mà phóng khoáng, chỉ có một sảnh, một phòng với một khu phụ bếp và nhà tắm. Thảm trải sàn màu trắng ngà, ghế xôpha và rèm cửa màu vàng thư, hiển nhiên là đồ đạc cũ của nó. Chỉ khác là, trong cái tủ tường vốn có của căn hộ, cô đã bày rất nhiều thứ đồ chơi tinh xảo và độc đáo. Ví dụ: một cái tượng vũ nữ Đan Mạch bằng sứ, một đôi chim ưng bằng đồng, mấy con giống bằng đất nung xù xì ngộ nghĩnh … và một ổ chim cu gáy bằng đất sét màu, nào chim bố, chim mẹ và một đàn chim non lớn bé. Anh ngắm nghía những vật nhỏ đó, cô nói:

– Em có rất nhiều đồ chơi nhỏ dễ thương, tiếc là không thể đem về được. Vả lại, đi đến nơi nào cũng chỉ là tạm thời, không muốn tính toán lâu dài. Cô chỉ chiếc ghế xôpha Anh ngồi xuống đi, để em đi vào thay đồ cho thoải mái một chút.

Cô đi vào phòng ngủ, còn anh đứng ở gian ngoài đưa mắt quan sát tứ phía, có tủ rượu, có tủ lạnh, có bàn viết … Đây đúng là loại căn hộ nhỏ chuyên dùng cho khách đi tham quan du lịch, nói một cách khác, đây là quán trọ có phòng khép kín. Anh đi tới chỗ cái bàn viết, tay máy móc lật giở những giấy tờ bản thảo trên bàn, có một tờ giấy nháp mới viết được một nửa, đặt dưới cuốn từ điển Hoa văn khá dày; anh rút tờ giấy đó, xem nét chữ trên đó theo thói quen nghề nghiệp … Thế là anh đọc được ở đó bài thơ nhỏ đượm màu sắt cổ: 

"Gió xuân thổi mộng đến ven rừng,
Chim thước vội xây tổ,
Chim oanh cũng nóng lòng,
Rộn ràng lao xao.

Gió thổi dạt dào
Mưa rơi rả rích.

Sớm nay bỗng lòng trống trải,
Oán trách hoa đào,
Oán trách ba tiêu,
Oán lên oán xuống oán lại oán đi,
Oán cả đêm xuân trằn trọc,
Gió lại dạt dào
Mưa rơi rả rích!"

Anh đọc những câu thơ đó, trong giây lát, bỗng thấy tâm trạng nao nao. Hán tự thần kỳ

thế đấy, chỉ mấy chữ mà đã khơi dậy những gì tàng ẩn trong đáy lòng. Anh cứ cầm tờ giấy mà trầm tư mặc tưởng, chìm vào trạng thái như thôi miên, mãi đến khi đằng sau lưng có tiến nói nhẹ nhàng cất lên, phá tan sự tĩnh lặng của căn phòng:

– Mấy hôm trước, nhân đọc "Nhất tiễn mai" của Tưởng Tiệp, tự nhiên làm bài thơ đó. Em không sành về thơ phú, không hiểu bằng trắc, không hiểu vần điệu, chỉ viết ra để chơi vậy thôi. Anh là người trong nghề, đừng cười em đấy!

Anh ngoảnh lại, mắt bỗng lóe sáng. Cô đã thay đổi từ đầu đến gót. Mái tóc thôi không búi nữa, xõa xuống lưng dài mượt như dòng suối, óng ả. Trên mình cô là chiếc áo dài lụa trắng sát tận đất, mền mại; ngang lưng thắt một dây lưng nhỏ, cũng bằng lụa trắng, nút buộc nơi lỏng, tay áo rộng lòe xòe lơ lửng để lộ một phần cánh tay trắng như tuyết. Cô đứng đó tà áo phất phơ như áng mây bông xốp nhẹ, như thiên nga trắng đậu trên hồ nước, như đóa hoa thủy tiên, toàn thân không vướng một chút bụi trần! Anh ngẩn ngơ, thực sự ngẩn ngơ cả người, tròn mắt nhìn cô, như đã bị hóa đá.

– Anh sao vậy? Cô hỏi, miệng cười cười, đôi mắt đen như quả nho chín, dầm trong cốc pha lê … Có gì không bình thường ư?

– Ồ! Anh định thần trờ lại, không tránh khỏi tiếng thở dài. Em lại làm anh giật mình!

– Sao anh hay hoảng hồn vậy?

– Em từ đen tuyền, biến thành trắng toát, từ một thiên sứ kiểu châu Âu biến thành làn gió Trung Hoa thì thầm trong cơn mưa! Cứ như tiên nữ trong truyện đồng thoại, biến ảo không lường, mà mỗi lần biến hóa khiến người ta phải lóa cả mắt!

Cô khẽ lắc đầu, đi tới tủ rượu, lấy ra hai chiếc ly pha lê, một chai rượu Brandy rồi mang tới chỗ ghế Xôpha. Cô vừa mở nút chai vừa nói:

– Thảo nào mà chị em bảo anh khéo nói, cả ngày hôm nay, em nói nhiều, anh nói ít, em cứ tưởng tính anh trầm lặng ít nói. Nào ngờ, anh vừa mở miệng đã chiếm được lòng người! Cô nhìn vào mắt anh. Đã có bao nhiêu người phụ nữ từng phát điên rồ như chị em?

Anh rùng mình giây lát, lắc đầu.

– Chưa có ai.

– Chưa có ai? Cô nhướng mày, rót rượu vào ly, bỗng dừng lại, nói: Em quên hỏi anh có uống rượu không? Định uống rượu gì? Hay muốn uống cà phê?

– Không muốn uống gì cả, cho anh một chén nước chè là được rồi.

– Chè ư … Cô kéo dài giọng và cười. Cô đặt ly và chai rượu xuống, quay vào trong bếp Vậy, em đi đun nước nhé như thế là sự "Trung Quốc hóa" của em còn chưa triệt để lắm. Nhưng em sẽ cố gắng học tập dần dần.

Rất nhanh, anh nắm tay cô.

– Thôi khỏi phiền phức đi! Thỉnh thoảng người ta cũng uống một chén rượu, hơn nữa, anh cũng không hề phản đối uống rượu.

– Thật không ? Cô hơi nghi ngại.

– Thật mà, Anh khẳng định vả lại, hôm nay cũng nên uống một chút rượu, người Trung Quốc có thói quen, hễ gặp ngày vui mừng là uống rượu để ăn mừng.

– Nước ngoài cũng vậy. Cô nói và ngồi xuống rót đấy ly rượu cho anh. Nhưng hôm nay là ngày vui gì đây?

– Gặp được em, đó chính là ngày vui nhất. Anh nói nghiêm trang, lấy ly rượu chạm vào ly của cô, rồi thêm một câu nữa bằng giọng vui vẻ, cảm động chân thành. Hoan hô em đã trở về, Đan Phong!

Mắt cô nhanh chóng loang loáng nước, cô kề ly rượu lên môi, nhấp một chút xíu, lưng tựa sát vào lưng ghế, tay áo rộng tuột lên vai, cánh tay cô thon thả trắng nõn. Hàng mi hơi cụp, giấu đi một phần ánh xanh trong đôi mắt. Má cô phơn phớt hồng, môi cô mấp máy như hai cánh hoa mới nở, cô nói, giọng cố nén xúc động:

– Đáng lẽ em lhải đi gặp anh từ ba tháng trước đây! Em đã lãng phí mất ba tháng trời! Thật không thể nào tha thứ được! Cô để ly rượu lên chỗ gập ở vạt áo, hai chân co lên ghế đầu ngửa ra sau, dựa vào phía trước lưng ghế, mớ tóc đen phủ lên đó như trải một tấm nhung đen. Mi mắt cô hoàn toàn khép lại, rồi nó bị một hàng nước làm ướt hết, rồi có hai giọt nước mắt rất lớn âm thầm rơi từ hàng mi ấy xuống, lăn qua má, không có gì chặn lại, nó cứ thế lăn xuống. Cô nói một câu thật khẽ khàng, êm dịu như trong tiếng thở dài Em không muốn bay nữa, em mệt ghê gớm rồi, anh rể ơi, xin anh quan tâm đến em với!

Anh chấn động cả người, tim thắt lại, mắt nhìn cô trừng trừng, trong khoảnh khắc này, anh chỉ còn biết ngồi đó như hóa đá.