THÁI BÌNH MINH TRIẾT II

Tác giả:

III: THÁI NHO (VIỆT NHO) KHÁC VỚI HÁN NHO THẾ NÀO


 

1.

Chữ Việt Nho có hai nghĩa một là nguyên Nho, hay là Nho sơ thủy khi chưa thành Hán Nho, nghĩa hai là Nho Việt nam được thiết lập mới đây từ nguyên Nho, nên cùng với nguyên Nho như nhau về nguyên lý, nhưng về trình bày thì mới mẻ, còn về nội dung thì được quảng diễn ra rộng mênh mông, đang khi ở nguyên Nho thì chỉ là một di vật như trống đồng, cây Việt, vài họa tiết, một chữ như chữ Trống, hay nhiều lắm là một câu phương ngôn, tục ngữ, thì đến Nho Việt nam trở thành một bài luận dài cả vài chục ngàn mẫu tự, trong đó có mặt hầu khắp các khám phá mới của các khoa tân nhân văn như uyên tâm, cơ cấu luận, ngữ lý, cổ tục học, cổ nghệ, khảo cổ đủ loại. Về thời gian đẩy đến hết văn hóa Hòa Bình, về không gian thì mở ra khắp hết Thái Binh dương và các miền duyên hái. Và chính vì sự mở rộng này mà mnn, Việt nho đổi tên thành Thái Nho. Nhưng nhiều đến đâu cũng chỉ là những quảng diễn ngành ngọn làm cho dễ nhận thức ra giá trị của nguyên Nho. Vì thế dù nhiều đến đâu Thai Nho cũng tránh né xưng mình là một chủ thuyết mới, nhưng trước sau chỉ là một giải nghĩa đạo Nho, nhưng vì theo lối triết lý nên có thể gọi là "Minh Triết Thái Nho". Như vậy Thái Nho chính là nguyên Nho được trình bày kiểu mới, nên khác với Hán Nho.

Nhận diện Việt Nho như vậy rồi thì hỏi nó khác với Hán Nho ra sao? Nếu xét về nội dung nền tảng thì hai đàng như nhau đến 70%, khác nhau chừng 30% do những yếu tố dị tính mới đem vào sau làm cho nguyên Nho bị bẻ quặt đi ít nhiều không còn được chính truyền bằng nguyên Nho, thí dụ Việt nho thuộc văn hóa, nông thôn. Hán Nho thuộc văn minh, thành thị. Việt Nho mẫu hệ và nông nghiệp. Hán Nho phụ hệ và phần nào du mục, thí dụ trong ít điểm nhà Châu đem vào sau: như chức thiên tử, quân đội chuyên nghiệp, luật hình, hoạn quan… Nói Hán Nho du mục là đối với Việt nho, chứ đối với tây âu thì Hán nho vẫn kể là nông nghiệp, và có thể nói cả đến mẫu hệ theo nghĩa không đàn áp đàn bà bằng tây âu. Vì thế Hán Nho vẫn là Nho, như từ đầu vẫn gọi thế, mới đổi ra chữ Hán từ đời Thanh.


2.

Thay vì tiếp tục bàn suông về sự dị biệt giữa Hán Nho với Thái Nho, xin thử ên sỏ (?) ít đóng góp của Thái Nho:

Trước hết là định nghĩa triết bằng chữ Triệt hiểu là cả triệt thượng lẫn triệt hạ, triệt có triệt không, triệt Vô triệt Hữ. Nhờ cách định nghĩa vắn tắt bằng một chữ Triệt mà ta có được căn cứ vững chắc đến không thể chối cãi để định tính ba loại triết lý lớn của lòai người cách rất chính xác và thấu triệt cho tới tận tâm can của mỗi loại, làm cho triết lý Thái Nho có được nét chính xác phần nào giống hình học với tóan học, nhờ những đồ án và số độ được dùng rộng dãi, nhờ đó mà lần đầu tiên trong lịch sử triết học đông tây kim cổ, triết lý xuất hiện như Minh Triết ngay trong lối trình bày là vừa chính xác như tóan, vừa u linh như khoa huyền niệm, tức gồm được cả triệt thượng với tính cách u linh, cả triệt hạ với tính cách chính xác như toán học, mà đó là căn tính của Minh Triết, được định nghĩa cách siêu hình là khả năng nối kết hai thái cực: từ thái cực một ly của nguyên lý xuống đến một dặm của ngành ngọn (kết luận và hệ quả), tức vừa rất cao sâu, vừa rất cụ thể thiết thực, nhờ đó nó nối kết học với hành nối lý thuyết với hành động. Ðó là bí thuật để đạt hạnh phúc, Vì thế Minh Triết cũng được định nghĩa là nghệ thuật tối cao xếp đặt việc nhà việc nước sao cho mọi người được hạnh phúc. Sau đây là ba loại triết được định nghĩa và lượng giá theo lối Triệt cùng vừa bàn trên đây.


3.

Triết học tây âu căn cứ trên Có=Hữu. Khoa siêu hình gọi là Hữu thể học (Ontology) thành ra Hữu vi, nhập thế, nghiã là tổ chức cuộc sống (nhập thế) theo mô thức của Hữu thể học (hữ vi). Ðựơc nhận diện bằng tinh thần của các định chế xã hội như phụ hệ, du mục, cai trị theo nguyên lý thống trị, có giai cấp, thiếu quân phân tài sản.
Lượng giá: Hữu thể học là một khoa cùng lý quen gọi là nguyên lý uyên nguyên, hay định đề hay tiền đề, hay là nền móng. Ðó là thứ triết chỉ có bên Hữu, thiếu bên Vô. Nói kiểu triết là chỉ có sáng, thiếu tối, nên là một chiều kích. Nói theo tâm lý là chỉ có lý trí gọi là duy lý, duy niệm, thiếu phần tâm. Nói thừơng là thiếu tâm tình. Nói kiểu siêu hình là thiếu tâm linh. Áp dụng vào giáo dục là chỉ có thành công mà thiếu thành nhân Hậu quả là rất sán lạn ớ phần ngoại vi nhưng phần cốt cán thì chỉ có một bên.


4.

Triết học Ấn độ căn cứ trên Không= Vô, siêu hình là Vô nhị (advaita) thành ra Vô vi, xuất thế. Ðấy là phần li.
Ðến phần dặm cũng xuyt soát như tây âu, cũng một chiều, nên cũng mang những nét giống tây âu, bởi chiều đây thuộc siêu hình, nên hậu quả cũng siêu hình chỉ khác có dấu, dấu trừ. Một đàng có những kiến tạo cực kỳ vĩ đại trong lãnh vực vô hình, như siêu hình, tâm lý, các môn tu luyện và nhất là huyền niệm.thấy biết bao người dâng trọn cuộc đời cho những ly tưởng giải thóat. Nhưng về mặt xã hội thì là dấu trừ nên xuống sâu hơn một độ, thí dụ đẳng cấp bên Ấn độ tệ hơn giai cấp bên La Hi rất nhiều. Dấu trừ có nghiã là chối từ, và duy vô có nghĩa là từ bỏ hết cả nhưng thành tố làm nên con người như lý trí, nên thiệt hại nặng nề hơn tây Âu. Tây Âu vun trồng lý trí lập nên được khoa học kỹ thuật đem đến cho cuộc sống được vô số tiện nghi, khiến cho văn minh thái tây trở nên rực rỡ.cải tiến được tệ trạng xã hội rấr nhiều. Ấn độ không được như vậy vì tất cả những tệ trạng xã hội đã được l inh thiêng hóa, nên óc phản lọan bị bóp chết ngay từ trong thai: mình túng nghèo, nô lệ là vì tội kiếp trước. Trí thức trong nước cũng tin như vậy nên không dám nghĩ đến cải tiến số phận nhưng người hẩm hưu, hay đúng hơn không muốn cải tiến vì sợ thiệt vào phần mình.


5.

Hỏi như vậy câu chân không diệu hữu không đúng sao? Thưa bao giờ cũng đúng, còn nơi Ấn độ thì không chắc vì quá phiền toái. Chỉ biết chân không bao giơ cũng bao hàm diệu hữu, chứ không có duy. Nếu duy vô thì nó vẫn còn nằm trên cùng bình diện với hữu. Hai bên cùng chung một đống đối tượng, bên nói duy hữu, bên nói duy vô, không ai hơn ai về phương diện đối tương, nhưng về chủ quan thì Ấn độ bị nặng hơn, bởi cái có khó chối đi lắm: chối thế nào rồi chúng cũng cứ ươ ng ngạnh hiện hình thù lù ra đó, nên phải bày biện đủ lý lẽ nọ hia để biện minh, rồi những lý lẽ đó được tôn giáo ban phép lành, thế là chúng trở nên thánh, không ai dám động vào đấy nữa. Thế là lương tri mất hẳn quyền sửa sai. Nói bằng cơ cấu thì lương tri không thể đưa số 4 (chỉ thực tế)vào nên văn minh Ấn độ vốn chỉ là 1 trời mà thôi (không có 4 đất), không được viết 1-4. Trái lại văn minh tây phương đước viết 4-1, tức nền tảng là 4 địa, nhưng lương tri còn được sửa sai nên đưa 1 trời vào để xài đỡ. Nói xài đỡ vì đồ của lương tri chỉ có gíá trị cầu âu, đầy may rủi.


6.

Triết Nho căn cứ trên Có-Không, Không-Có (Hữu nhược Vô, thực nhược Hư). Hình nhi thượng là lưỡng nhất: hai mà một= dual unit= kiêm cả trời cao, đất thấp: thiên địa vạn vật rất khác nhau, vậy mà lại tuyên bố là nhất thể=thành ra một thứ đạo giữa Hữu vi và Vô vi, hãy gọi là An vi, giưã nhập thế và xuất thế, hãy gọi là xử thế: không nhập thế ngập đầu ngập cổ như những tay troc phú, cũng không xuất thế để trở nên nghèo rớt cục mồng tơi, mà là phong lưu=nhởn nhơ như chim Hồng bay lượn ngoài cõi thinh không, tung tăng như rồng vàng nằm phơi râu ngòai biển cả. Mẹ đẻ một phát trăm con "mà con nào con nấy đều được phương trưởng": nước mẹ không có giai cấp, không có chủ nô, mà là "tứ hải giai huynh đệ". Vì thế không có đấu tranh, mà thờ lý tưởng gọi là "thiện nhượng". Lý tưởng "chị ngã em nâng", Sống vi vu như thế cho đến lúc chết thì ngả ra mà "sinh thì", có nghĩa là giờ trở về quê thật, nói gọn là thác về, chữ Nho gọi là: "Sinh ký, tử qui" = sống gửi thác về. Vậy thì có chi mà phải sợ (nhân giả bất ưu bất cụ). Ðời này mới là sống gửi, mà đã có thể sống tròn đầy viên mãn đển độ khi ra đi không còn gì phải nuối tiếc, nên rất yên lòng bước êm vào đợt tử qui, kết hợp chặt hơn với nguồn suối sinh sinh bất tức, hạnh phúc vô bến bờ.
Ðấy là hậu quả của cảnh Thái Hòa nghĩa là hòa cùng cực, hòa trời với đất, hòa triệt thượng li với triệt hạ dặm: hai đàng thông suốt. Ðầu cuối đều như nhau: triệt thượng lưỡng nhất, thì triệt hạ cũng lưỡng nhất y hệt. Trên đây là mấy cái nhìn bao quát đặt lên trên ba lọai triết lý lớn trên hòan cầu, giúp ta có thêm những ý nghĩ sát thực hơn về đời sống. Ðể giúp cái nhìn được thấu suốt hơn nữa dưới đây sẽ thêm ít bảng phân lọai mà Thái Nho mới đưa vào giúp thấy rõ hơn những đóng góp của nó.


7.

Cưỡng hành, lợi hành, an hành. Cưỡng hành là làm vì sợ trời đánh thánh vật. Lợi hành làm vì lợi như thờ tồ tiên đẻ được lợi nọ kia khác. An hành là làm vì thấy đáng làm như trong việc nghĩa chứ không vì sợ, hay vì lợi, hay vì phản động.

Hữ vi, Vô vi, An vi. Hưũ vi= làm vì sợ hoặc vì lợi nó đặt con người dưới sự vật, nên làm nảy sinh phái Vô vi xuất thế cho khỏi bị vật thể làm ô trọc, nhưng chưa thóat: hãy còn bị động do phản động. Phải là an vi mới là nhân chủ, tức tự mình hết, không do gì động viên được cả.

Ý, Tình, Chí.= Triết duy lý chỉ có ý (ý niệm), với Thái nho thì: "ngoài là ý, nhưng trong là Tình", trong nữa là Chí, chí gắn với khí mà vươn lên đầy vòm trời đất thì gọi là Chí Sĩ. Do đó có bảng:

Từ, Ý, Tượng,, Số, Chế dùng như thước đo chiều kích các triết học, các nền văn hóa. Ðọng lại ở đợt Từ thì là duy danh. Ðọng ở đợt ý thì là duy lý, duy niệm, kết quả là những ý hệ bao giờ cũng thọt, dùng ra thì sẽ gây tai họa cho con người, như thuyết duy vật cộng sản. Phải vương ba đợt cuối cùng Tượng, Số, Chế mới đạt Minh Triết.

Bái vật (animism) Ý hệ, Tâm linh. Cũng là bảng xếp lọai tâm thức con người. Hiện nay có bảng đo tâm thức âu châu sau: 1/ Cảm súc. 2/ Siêu hình. 3/ Vỡ mộng. 4/ Thẩm mỹ=Emotional, métaphysic. Desillusion. Esthétic. Cảm súc chỉ giai đoạn tôn giáo chỉ do súc động mà không do lý trí. Nên thế kỷ 18 chuyển sang triết với nhân bản, nhưng rồi duy lý sản ra toàn nọc độc: kỳ thị, phát xít, cộng sản… nên nay đang chuyển hướng về thẩm mỹ. Ðó là những bảng đo đạc khác nhau đẻ lựơng giá mức tiến cúa con ngư ới được nhìn dưới nhiều trác diện khác nhau, nhưng kết quả hơn kém như nhau.

8.

Ðồ án ngũ hành cũng phải kể là của Thái nho, vì là lần đầu tiên được dùng theo cơ cấu. Trong Hán Nho chỉ được dùng như môn âm dương ngũ hành. Trong lối mới nên để ý đến phạm trù lương tri với hai loại triết 4-1 của tây âu và 1-4 của Ấn độ. Tây Âu thì nền tảng là duy lý, cũng là duy vật hay điạ lợi nên số 4 là nền triết,tức do chủ trương triết thiếu trời, nhưng được lương tri sửa sai bắt thêm 1 vào cho có trời, có siêu hình. Nhưng 1 trời thêm vào rất ít g iá trị nội tại, vì tòan lời với ý, thiếu ba đợt sau: tượng, số, chế. Vì thế chỉ cho điểm là 40/100. Nhưng trong thực tại ngượi ta tưởng giá trị hơn nhiều, nên làm cho người ta lầm tưởng về triết lý. Thí dụ triết cổ điển cho Hữ thể học là Siêu Hình cao nhất, mãi tới Kant mới nhận ra siêu hình cũ chỉ là siêu ảo tưởng. Bao nhiêu thuyết lý hơn kém cũng thế tòan ý với lời, chứ thiếu hiệu năng. Nay cộng sản đang nói đến tư doanh, nói đến dân tộc nọ kia thì đó ch ỉ là do kinh tế suy đồi mới chịu đưa vào, còn dân tộc chẳng qua là chiêu bài thôi, chứ chủ thuyết thì chống.

Ấn độ là 1-4 nhưng 4 chỉ cho vào gượng vì lương tâm ít được sửa sai triết như bên Âu, bởi Ấn theo bên duy vô, chối sự hiện hưũ vạn vật, là điều rất ngược với giác quan, nên phải bày ra muôn vàn lý lẽ để biện minh, lại thêm sức mạnh của tôn giao nên cuối cùng mọi ngừơi đều tin như thế, lương tri bị vùi giập không còn đủ sức sửa sai, nên khi giết một con bò thì cả nước xôn xao, còn hằng ngàn ngườì chết đói thì lương tâm mọi người êm du.


9.

Một số câu được đúc kết cho ra công thức như:

"Mạnh chống mạnh chấp" như cộng sản chống tư bản thì lại rơi vào tư bản nhà nước. Chống giai cấp thì lại mắc giai cấp nặng hơn.

"Ðạo mất trước, nước mất sau" để nói lên sự thật ít được nhìn ra: chính đạo hay triết lý quyết định sự thịnh suy của một nước. Cộng sản nói ngược lại là vật chất quyết định, thì nay đang phải trả giá sự sai lầm đó.

"Tìm phi thường trong những cái thường thường" để đặt quan trọng vào tác động mà không đặt vào sự việc. Việc giá trị cao hay thấp không vì đối tượng, mà vì làm cách tận tình, ý, chí. Muốn đạt như thế thì cần đạt tâm trạng "Hiện tại miên trường".

"Hiện tại miên trường" là để giồn chú ý tâm lực vào việc đang làm ở đây và bây giờ. Bí quyết của cuộc sống tròn đầy viên mãn là ở đấy.

10.

Khám phá ra một số vấn đề đươc coi là bí ẩn (énigmatique) khảo cổ như:

Dấu Bắc Sơn ở tại hai gach chạy song song được tạc vào những viên sỏi tìm thấy ở tỉnh Bắc Sơn. Nhìn theo môi sinh của tòan thể thì đó là tiêu biểu nét lưỡng nhất,(dual-unit) mà các học giả cho là nét đặc trưng Ðông Nam Á.

Dấu Ðông Sơn= hình chữ S ngả cũng bị coi là bí ẩn nhưng nhìn theo đường qui nhất của trống đồng thì đó chính là dấu qui tâm (tức qui nhất) để đạt Thái Hòa của trống đồng-bản tóm đầy đủ nhất của nền triết lý nguyên nho, vì vòng xoáy ốc cũng tiến theo đường tả nhậm tức đường qui tâm y như trống đồng.

Thao Thiết cho tới nay không ai hiểu ý nghĩa. Vậy đó là thần chim rắn y như Quì long, Kopiravi trong Thái Bình dương (The Mothers p. 323) hay Quetzalcoatle của Astec đểu là thần chim rắn, tiền thân của tiên rồng hay hồng bàng. Tất cả đều do một tác giả là Cửu Lê (Danses 512).

Tìm ra sự liên hệ giữa bộ số vài ba và thấy nó trở nên sợi dây nhất quán xâu toàn bộ nho giáo xuyên qua lược đồ Việt tỉnh, Việt điện, Việt tỉnh cương, Cửu Lạc, Hà Ðồ, Lạc Thư, Trống đồng… hoạc xuyên qua đồ án Ngũ Hành, Hồng Phạm, Cửu Trù, Thái Thất, Vòng Con Giáp là những phát triển mới ở đợt văn minh nảy sinh từ cái lược đồ cũ Việt tỉnh ở đợt văn hóa. Tất cả làm thành hệ thống vọng đăng soi cho con tàu Nho giáo chở con người vào bến Hạnh phúc.

11.

Những điểm trên đây đều có hàm tàng trong nguyên Nho và Hán Nho, nhưng trong tiềm thế, nay được lôi lên mặt ý thức thì chúng liền đem lại cho Thái Nho một khuôn mặt rất hợp thời có khả năng cung ứng cho con ngươì thời đại một nền chu tri đang được mong đợi cũng như một nền triết thiết thực cụ thể sẵn sàng bươc vào hành động mà chưa tìm ra, vậy mà đã xuất hiện lâu lắm rồi mãi tự thời Hòa Bình hay trên nữa như thời tạo dựng sơ nguyên, vô văn tự.

Tiếp tới là thời văn ngôn khởi đầu tự nhà Châu thế kỷ 12 tr.tl. và trở nên rực rỡ với Khổng tử, cho đến đầu thế kỷ 20 mới bị gục ngã nhường chỗ cho triết thuyết ngọai lai. Ðến nay thấy không xuôi nên mọi người thấy cần trở về với đạo tổ tiên. Trong khi tìm về nguồn mới nhận ra các dân tộc Ðông Á có chung một gốc rễ về chủng tộc cũng như về văn hóa, nên tất cả có chung bổn phận pải phục hoạt như trong một đại gia đình, mà nước Tàu đáng được coi như anh cả, vì đã có công phát triển đạo lý trong ba ngàn năm qua.

Ðến nay bước vào thời mới thấy cần phát triển đợt ba thì mọi nước đều phải góp công sức. Vậy Thái nho được trình bày trong bộ triết An vi nếu có được thành tựu nào thì xin được coi là của đại gia đình văn hóa Ðông phương.


12.

Một kết luận mới: Tất cả những bảng phân biệt trên đều mang tính chất thời sự nóng bỏng thuộc cơ cấu luận: có tính cách minh xác như kiểu tóan hình và đối chiếu, nhất là đối chiếu, là nét đặc trưng hơn hết của thời đại, thời đạqi bốn biển một nhà: tự hang cùng ngõ hẻm đâu đau bất cứ, hễ xảy ra cái gì thì cả thế gới đều nói tới, đều mắt thấy, tai nghe.

Thế mà tất cả những bảng phân biệt trên đều đem đến phần nổi bật cho Thái nho mà ai cũng thấy được, nhưng chúng còn hàm chứa một điểm gía trị hơn rất nhiều, đó là không những sức trường cửu, mà con là sức tăng trưởng đều đều của cây Nho. Ðó là điều đáng kính nể phi thường, bởi đang khi các nền văn minh du mục cứ lần lượt theo đuôi nhau gục ngã, họac hóa thạch như Ai Cập trong suốt 2000 năm qua (pétrifié) làm mẫu cho mọi đế quốc chuyên chế, thì đàng này Nho cứ nảy lên hết đợt nọ đến đợt kia. Có đến 5 đợt nho tất cả:

Một là nho nguyên thủy, mà có chỗ tôi muốn gọi là Phác nho (Phác vừa phiên âm Pacific, vừa nhắc chữ Phác tố của Lão tổ) hiểu là phác tố, cổ sơ, tuyền dã, chưa hề đẽo vạc chi hết, tức chưa suy tư, chưa cả lời, hãy còn trong vô tự.

Rồi tới Châu nho khởi đi vào lý trí và tổ chức xã hội, nhân đó đưa vào nguyên nho ít nhiều yếu tố du mục như chức thiên tử, quân đội chuyên nghiệp, Luật hình, Hoạn quan…

Trong Châu nho có thể kể tách ra Khổng Nho, vì tuy về đàng lễ nhạc thì phần nào là một, nhưng về đàng siêu hình thì Không tử đã trở về với nguyên Nho, chứng cớ là ông theo Lịch tộc Hạ của nguyên Nho, Ðó là Chữ Thời của Thái Bình dương. Thế mà Chữ Thời mới quyết định tính chất của một nền triết, chứ không phải Lễ Nhạc. Chính Lễ nhạc được quyết định trước do chữ Thời. Vậy lịch nhà Hạ khởi đầu năm ở trục Xuân phân tức trục của Con Người, 64ang khị (?) Châu nho khới đầu năm ở cung tí trục chí của trời, đâu có người bằng.

Rồi tới Hán nho bẻ quặt nho bằng những yếu tố pháp gia, âm dương gia và óc chuyên chế của nhà Tần. Tuy nhiên Hán nho không hề hóa thạch mà đã làm được một xâu tổng hợp, như của Ðổng trong Thư với thuyết Tam Tài, Tống Nho với lý khí. Rồi các cuộc biến cải Phật như Thiên Thai tông của Trí Khải, Hành Thiền của tổ Huệ Năng…

Cho đến nay thì có Thái Nho như một tổng hợp mới hơp thới đến nỗi nói được là đi trước cả những khoa tối tân nhất để nói lên khả năng lãnh đạo của nó trong thế giơi 2000 đang tiến tới.


Chú thích:

Họa vi đức căn.
Hình bất sầu, tư bất thâm.
Cố học triết đẻ thấy xa, tránh được bệnh (Từ Ngọc) dũng ư nhậm sự, muội ư quyết cơ.
Quân tứ kiến cơ nhi tác.
Cơ giả động chi vi.
Minh triết xui gia với Thượng Ðế.

Các triết học chưa minh biện được về định đề, nên dừng lại ở có hoặc không, mà không xét bên ngoài còn chi chăng?


Thảo luận cho bài: "THÁI BÌNH MINH TRIẾT II"