Thằng Quýnh Lấy Vợ – Hay Là Chuyện Cổ Tích Bên Sông

Tác giả:

Thế là Quýnh lấy vợ, có cưới cheo đàng hoàng. Đám cưới được tổ chức ở một nhà hàng loại xịn, bảng hiệu to như cái phản có vẽ hai con rồng châu đầu vào nhau, mắt long sòng sọc, lác xệch, phun lửa như nhổ nước bọt. Đông lắm, "dững" bốn trăm khách ( ấy là theo lời ông chủ hôn – sau khi đã trìu mến, âu yếm dốc ngược chai thứ hai). 
Nói gì thì nói, giữa buổi chợ đuội thế này, mỗi khi cầm tờ thiệp mời thấy bàng hoàng như nhận giấy báo tử, thì chỉ cần phân nửa số khách kể trên đến dự, cũng là bảnh lắm rồi. Ở cái đất này họ cưới nhau xoành xoạch. Việc một gã trai tội nghiệp nào đó dũng cảm đặt dấu chấm hết cho đời mình bằng một tờ hôn thú thì kể ra cũng là điều đáng nể, song chẳng có gì đặc biệt lắm. Thế mà đám cưới của Quýnh làm người ta bàn tán xôn xao đến vài tuần. Ngay bản thân chú rể, xúng xính trong bộ củ xếch ngót ngàn đô, ngồi cạnh cô dâu mà cứ ngỡ mình đang mơ. Mấy lần hắn lén cho tay xuống gầm bàn tự cấu vào đùi. Đau điếng! Đích thực là hắn đang ngồi trong đám cưới của mình rồi, còn mơ mộng gì nữa. Ồ, mà sao lòng hắn vẫn lâng lâng quá đỗi! Hắn rưng rưng nhớ về một thời rất xa… 

* * 
Tuổi thơ của Quýnh trôi đi bên bờ con sông Tô Lịch(1) lúc nào cũng lềnh bềnh rác rưởi, đen ngòm như nước cống. Quýnh và lũ bạn trong xóm nghèo vẫn thường lội bì bõm đến ngang lưng để tìm hớt những búi giun về cho cá chọi ăn. Đôi khi lên cơn lãng mạn, chúng cũng gập thuyền giấy thả xuống sông. Nhìn những chiếc thuyền mỏng mảnh chơi vơi trên dòng nước thối khẳn, chúng mơ về biển lớn. Thằng Tiến "xích lô" (bố nó là ông Xung làm nghề đạp xích lô- tụi trẻ vẫn thường có lối gọi xách mé ghép tên nhau với cái nghề mà bố mẹ chúng kiếm sống), muốn trở thành thuyền trưởng tàu viễn dương. Tiến bảo làm thuyền trưởng viễn dương được đi khắp thế giới, lại lắm tiền, mỗi chuyến bỏ rẻ cũng được vài chỉ vàng. Tuân "xe thồ" chỉ thích làm phi công vũ trụ như chú Phạm Tuân(2). Nó bảo sống ở cõi đời này khổ lắm, lên mặt trăng như chú Cuội cho đỡ rách việc, không phải đi học, chẳng phải đi làm. Thấy bảo trên ấy nhiều vàng lắm, thỉnh thoảng nó sẽ quẳng xuống đất cho cả hội vài cục to bằng hòn gạch thì tha hồ tiêu. Lan "than tổ ong" thì nhất định phải trở thành ca sĩ như Thu Hiền. Vừa nặn những viên than tròn vo như cái bánh rán, nó vừa véo von “ Chử đi mô rồi cũng nhớ về Hà tĩnh…”. Nhiều đoạn cao hứng, nó đứng hẳn dậy múa minh hoạ; nó múa mới mềm mại làm sao. Mặt mũi , tay chân đen nhẻm bụi than, hàm răng trắng bóng tươi hơn hớn. Nó xinh như công chúa Lọ Lem. Đến lượt Quýnh, khi bị gặng hỏi, cu cậu ấp úng một lúc rồi mới nói là thích làm công an như chú Đoan hộ tịch. Làm công an oách lắm nhé! Lúc nào cũng có một khẩu súng lục to như cái đùi lợn đeo kè kè bên hông. Cứ ra đến chợ là từ bọn kẻ cắp đến mấy bà bán rong sợ mất vía. Nghe Quýnh thổ lộ ước mơ, cả bọn phá lên cười ngất. Thảo nào mà thằng này chỉ thích chơi trò công an bắt gián điệp, lại chuyên đòi đóng vai công an. 
Quả có thế thật! Mỗi tối thứ bảy hàng tuần, cả hội tập trung tại nhà Quýnh, thót tim lại nghe chương trình "Cảnh giác" của Đài tiếng nói Việt nam. Chương trình này vốn đã rùng rợn, nghe qua cái đài "na ti on nan" ba băng suốt ngày yếu pin của lão Quỷnh thợ cạo( tục danh của bố Quýnh) thì độ đe doạ còn tăng gấp bội, vì có nghe được cái gì ra cái gì đâu. Tiếng người ( cả phe ta lẫn địch) chỉ lào phào, run rẩy như mấy thằng đói thuốc phiện lên cơn vật; tiếng côn trùng rỉ rả trong màn đêm đen kịt cùng tiếng gió thổi hiu hắt ngoài nghĩa địa, đôi lúc cộng thêm đoạn nhạc giật gân ( mà cái chương trình này rất sẵn), thì ôi thôi, nghe như tiếng ma hời. Tụi trẻ căng tai lên … đoán, thở rất nhẹ, nổi hết da gà và không thằng nào dám đi đái. Được cái đoạn kết bao giờ cũng có hậu, (nghĩa là địch bị bắt, bị giết không sót một tên, ta toàn thắng), nên lũ trẻ lấy lại can đảm, túa ra chơi công an bắt gián điệp. 
Nhét khẩu súng gỗ tự chế tác phỏng theo mẫu của chú Đoan, Quýnh rón rén đi tìm địch. Đây rồi, một bóng đen nấp trong bụi cúc tần, Quýnh rút súng dõng dạc : "Khi xưa ta bé ta chơi, chơi công an đi bắt quân gian. Beng, beng!" Sau tiếng beng thứ hai, bóng đen ngã vật ra đất, hai cẳng chân đen đúa, gầy ngẳng như chân gà giẫy đành đạch. Con Lan! 
Phía đầu kia, Phi đồng nát cũng rút súng, hát ông ổng, giọng rất du côn : "Khi xưa ta bé ta ngu, ta lấy dây chun ta thắt con cu. Beng, beng! Khi nay ta lớn ta khôn, ta lấy con cu…Bèng , bèng!" Lại một bóng đen ngã vật, lăn lộn giả chết. 
Có lần chú Đoan đi tuần qua chỗ bọn trẻ đang chơi, phì cười bảo: 
– Các cháu chơi vui lắm. Nhưng thằng Phi hát bậy quá. Như thế thì không được cháu ngoan bác Hồ đâu! 
Thằng Phi cãi : 
– Nhưng cháu có được đi học đâu. Suốt ngày phải nhặt rác thì cần gì cháu ngoan bác Hồ với bác Tôn . 
Chú Đoan không nói gì, lầm lũi bỏ đi. 
Mấy hôm sau Phi kể : ông Đoan đến nhà xin cho tao đi học. Nhưng bà bô bảo nếu tao đi học thì các em tao chết đói, vì tao kiếm được nhiều rác nhất nhà. Rồi bà bô tao khóc. Chắc tao chả bao giờ được đi học như chúng mày. Dứt lời, nó ngồi thừ, mặt buồn rười rượi. 
Từ đó, thằng Phi ít ra chơi cùng bọn trẻ. Nếu có chơi, thì nó cũng không hát bậy nữa. 
Sau này bọn thằng Quýnh mới biết, buổi tối chú Đoan thường đến nhà Phi dạy chữ cho nó. Quýnh quí chú Đoan lắm, mà có lẽ không chỉ riêng nó. Mỗi lần chú ra chợ thì bọn móc túi và mấy bà bán hàng rong sợ một phép. Bọn ăn cắp thì đương nhiên rồi, còn mấy bà kia sợ vì cứ bầy hàng ra bán giữa đường đi, bị chú dẹp vào trong chợ. Rất nguyên tắc, nhưng chưa bao giờ chú đá tung hàng của ai đi, đâu như các chú công an sau này. 
Chú Đoan cao lớn, da đen trũi, tính tình hiền lành, ít nói, quê ở mãi đâu tận trong Thanh hoá. Chú hay bị mấy chị trêu vì nói lộn dấu hỏi thành dấu ngã. Có chị Hương và Hoa là hai chị em sinh đôi, cứ thấy mặt chú là gọi toáng lên : Anh Đoan ơi, ế vợ rồi! Con gái Hà nội không thích lấy chồng công an đâu! Rồi đồng thanh ngâm nga : 
Bao giờ rau muống có ngồng 
Thì em mới lấy ông chồng công an 
Bao giờ vịt đẻ ra ngan 
Thì em mới lấy công an làm chồng. 
Chú Đoan nghe thế , chỉ cười hì hì rồi lủi thật nhanh. Hai chị Hương- Hoa quay ra trêu Quýnh : Còn mày nữa, suốt ngày công an bắt gián điệp. Muốn ế vợ hả? 
Hồi ấy Quýnh mới lên mười, chim bằng quả ớt chỉ thiên thì làm gì đã nghĩ đến chuyện vợ con. Song nghe các chị doạ cũng hơi chột dạ, liền quên béng ý định làm công an. 
Quýnh vẫn nhớ, thuở đó bọn gái non chưa chồng ở Hà nội, cô nào cũng ấp ủ trong tim hình bóng Đê-a-nốp(3). Nhiều cô còn lên tận chợ Ngọc hà mua trái tim bằng mi ca trong lồng ảnh của chàng thiếu tá đẹp giai này, đeo lủng lẳng trên bầu vú mới nhú bằng hai quả cam sành. Rồi suốt ngày chỉ mơ với mộng. Nhưng ở cái xứ mà người dân phải có rất nhiều niềm hi vọng mới mong sống được, thì cái vụ Đê a nốp cũng nhanh chóng chìm vào quên lãng, nhường chỗ cho những cái thiết thực hơn . Bằng chứng là có rất nhiều tay còn xấu giai hơn cả Bôm bốp(4) mà vẫn lấy được vợ đẹp . Đó là thời mà các tiểu thư Hà nội suốt ngày tụng kinh: “Đẹp giai đi bộ không bằng mặt rỗ đi lơ” (5) . Quả thật những năm ấy, gã đàn ông nào đĩnh đạc đặt đít lên chiếc Mifa, hoặc Peugoet mới coóng, chân dận đôi tông Lào gan gà một chỉ, miệng ngậm lệch điếu đầu lọc, thì hắn có thể ung dung xịt nước bọt qua kẽ răng, gọi cả làng bằng thằng, nhìn đời bằng một phần tư con mắt và là đề tài để xuýt xoa của đám gái "Hà lội"(6) mới lớn đương cuồng lên vì mắc bệnh thèm tiền. 

* * 
Nhà Quýnh nghèo. Cả xóm Quýnh nghèo. Quýnh lại mồ côi mẹ từ nhỏ. Lão Quỷnh ở vậy nuôi con . Lão Quỷnh làm nghề cắt tóc. Cửa hiệu của lão là cái gốc cây xà cừ cổ thụ ngay bờ sông . Những hôm trời nắng gắt hoặc lất phất mưa, lão căng thêm mảnh ni lon là tươm lắm rồi. Đồ nghề chẳng có gì ngoài cái gương sứt treo lủng lẳng trên thân cây, cái tông đơ cũ rích và chiếc kéo cũng sắp vào tuổi “xưa nay hiếm”. Lão chẳng biết gì nhiều nhặn lắm, quanh đi quẩn lại cũng chỉ " cua" , " cắt trung", " cắt xanh", " đứng thành cạo vuốt", sau này khá lắm thì thêm được kiểu " tiền cua hậu bít". Được cái tiếng nhịp kéo của lão giòn tan, tach tách, nghe thực quyến rũ, giá cả lại khá hữu nghị, nên lão đủ sống tiềm tiệm với thằng Quýnh và ngày ngày, cũng tự cho phép mình nhâm nhi đôi cút.(7) Gặp khách quen, lão mời luôn cùng uống, nhiều khi cả hai say ngất ngưởng. Rượu vào, lão bốc lên, đi những đường tông đơ ngoạn mục, con dao cạo sắc như nước vung loe loé làm mấy ông khách yếu bóng vía sợ chết khiếp. Cao hứng, lão còn dứ dứ con dao vào tai khách và bảo : " Cái ngữ này mà đi với "anh" làng Vân( 8) thì tai lợn cứ phải gọi bằng cụ, sức tớ phải đánh bay cả lít", rồi đắc chí cười ha hả, kệ mẹ thằng khách mặt tái mét, run như cầy sấy, chỉ thiếu mỗi nước đái ra quần, ngồi dúm dó không dám thở mạnh. Có lần do vui … rượu, tiện tay lão cắt trụi tóc và cạo béng mất đôi lông mày của ông Tường " thợ mộc". Ngài "thượng đế" tội nghiệp này lúc đó cũng tây tây sau khi đã làm đôi xị với ông phó cạo, chuệnh choạng vác bộ mặt không giống ai về nhà, vừa đi vừa huýt sáo vang lừng bài " Cuộc đời vẫn đẹp sao tình yêu vẫn đẹp sao". Lúc vào đến ngõ, con mực ngửi thấy hơi chủ, xun xoe chạy ra vẫy đuôi rối rít rồi chồm cả hai chân trước lên mà mừng. Chợt nó nhìn vào mặt lão và đứng khựng lại, phân vân giây lát rồi bắt đầu sủa một cách bối rối. Lão Tường bực tức vì bị con chó làm mất hứng nghệ sĩ, lườm nó, giơ nắm đấm vào mặt, lè nhè : " Đéo mẹ cái thằng bố mày . Tao lại xách ra cho thằng Quỷnh nó cạo lông bây giờ. Muốn … riềng hình hả? " Nghe tiếng sủa đầy vẻ tự ti của con mực, mụ vợ và mấy đứa con lão chạy ra, thấy một thằng say trọc lông lốc trông vừa quen vừa lạ, cũng hoang mang không kém. 
Ngay chú Đoan hộ tịch cũng bị dính chưởng của lão. Hôm ấy là một ngày đẹp giời, gió hây hây thổi. Như thường lệ, lão Quỷnh đã hơi ngất ngưởng thì chú Đoan dẫn xác đến nạp mạng. Vốn biết rõ cái thói hay rượu của lão, chú Đoan cũng có ý chờn chợn. Song vì buổi tối có cuộc họp với tổ dân phố , ( yêu cầu đầu tóc phải chỉnh tề), trong người lại hơi mệt, ngại đi xa, nên cực chẳng đã, chú đành nhắm mắt đưa chân phó thác số mệnh cho lão đệ tử của thần Lưu Linh. Vò vò, nắn nắn, ấn ấn cái đầu của chú Đoan như lối người ta hay chọn mua mít ngoài chợ, lão cất giọng hỏi đầy vẻ khó nhọc : Xanh hay trắng đây? Nghe cái giọng đã có vẻ nhừa nhựa của lão Quỷnh, chú Đoan chột dạ nhỏm đít định đứng dậy. Nhưng muộn rồi, chiếc tông đơ đã phũ phàng ngoạm một miếng to tướng trắng hếu cả khoảng gáy. Chú Đoan mắt nhắm nghiền chịu trận, bụng thầm đọc kinh khấn Phật bà Quan âm phù hộ độ trì. Dễ đến mười lăm phút trôi qua, thấy tiếng kéo lách chách của lão thưa dần rồi tắt hẳn, chú mới dám hí mắt ra nhìn gương. Nửa đầu bên trái đã cắt trắng hếu, nửa bên phải còn xanh rì, y nguyên như cũ. Còn lão đang ngồi tựa vào gốc cây ngáy khò khò. Hoảng quá, chú lay lay vai lão gọi dậy. Lão già điềm nhiên gạt tay chú Đoan và nói bằng cái giọng vô tư nhất trên đời : 
-Giải tán, mai cắt tiếp. Chú về đi, mai ra tôi cắt nốt cho. Hôm nay chưa lấy tiền đâu mà phải sợ. 
Đoạn quay đít lại ngủ ngon lành. Chú Đoan chỉ còn mỗi nước khóc bằng tiếng Mán, chụp vội cái mũ công an lên đầu rồi chạy như ma đuổi về đồn… 
Cái trò gập thuyền giấy thả xuống sông Tô lịch và " công an bắt gián điệp" cũng chỉ kéo dài được thêm vài năm. Vì chợt một ngày, lũ trẻ nhận thấy mình đã lớn. Lúc này, Quýnh đã học hết lớp bảy, giọng nói ồm ồm, mặt nổi đầy sủi cảo. Khẩu súng gỗ Quýnh sang tên lại cho mấy thằng trẻ con thò lò mũi xanh. Con Lan lớn phổng lên, ngực đùi ngồn ngộn, không còn đâu cái cẳng chân gà đen đúa giẫy đành đạch hồi nào. Nó hát ngày càng hay, múa càng dẻo. Cả tuần,Quýnh cứ mong đến tối thứ bảy để rủ con Lan đi xem phim trốn vé. Hai đứa đã tia trước một đoạn tường đổ. Lần nào cũng vậy, tim Quýnh đập loạn xạ vì xúc động mỗi khi bê đít Lan cho nó trèo tường vào bãi chiếu bóng. Còn Quýnh, chỉ đu nhẹ một cái là đã lọt vào bên trong. Hai đứa lom khom chạy tránh bảo vệ, len vào giữa đám đông. Quýnh cẩn thận đảo mắt nhìn thật kĩ tránh mấy bãi cứt nằm rải rác như mìn trong đám cỏ rồi rút dép kê cho người đẹp ngồi. Cu cậu thực ra cũng chẳng có bụng dạ nào mà xem phim. Mắt đảo như rang lạc, hễ thấy trên màn ảnh có đoạn nào mùi mẫn là lại tranh thủ sán gần vào người đẹp "giết quả tay" rồi sướng âm ỉ. Lan biết được cái sự lợi dụng đó, song có vẻ cũng khoái, lim dim đôi mắt, chỉ khi nào thằng trai đi quá trớn mới " tuýt còi". 
Năm Quýnh 16 tuổi cũng là lúc tụi trẻ trong xóm tan đàn xẻ nghé. Phần lớn các hộ bị di dân vào Lâm Đồng xây dựng quê hương mới. Nhà Lan than tổ ong, Tiến xích lô và Phi đồng nát đi đợt này. Riêng lão Quỷnh tuyên bố chắc như đinh đóng cột : " Tao không có đi đâu cả! Giàu nhà quê không bằng ngồi lê thành thị. Vào cái xứ rừng xanh núi đỏ ấy có mà chết mất xác à?". 
Gần đến ngày Lan đi, Quýnh thờ thẫn như người mất hồn. Đêm chia tay, hai đứa im lặng đi bên nhau quanh xóm ngèo. Lúc ngang qua bụi cúc tần, Lan bảo : " Tao với mày chơi công an bắt gián điệp lần cuối đi. Ngày xưa tao hay trốn ở đây này." Quýnh :" Không!" Hai đứa lại ra bờ sông. Lan bảo :" Hay là chơi thả thuyền vậy, như hồi còn bé ấy." Quýnh :" Ừ". Không có giấy, hai đứa nhặt những chiếc lá xà cừ khô thả xuống sông. Những chiếc lá lềnh bềnh, lềnh bềnh rồi chìm nghỉm. Lan thở dài :" Chúng mình là những chiếc lá, còn cuộc đời là dòng sông thối khẳn, đen ngòm này. Chẳng lẽ chúng mình cũng sẽ chết chìm, mất tích như những chiếc lá này. Không hiểu mình còn gặp lại nhau nữa không, Quýnh nhỉ? Ôi, tao buồn quá!". Quýnh nghiến răng, nhặt mảnh sành ném thia lia bay trên mặt nước :" Không! Nhất định tao sẽ đi tìm mày. Đừng quên tao nhé, cô bé Lọ Lem!". 
Trời đã khuya lắm. Không gian bàng bạc ánh trăng. Tiếng ếch nhái thở than nghe não nuột. Quýnh tiễn Lan về nhà. Đến đầu ngõ, hai đứa im lặng nhìn nhau. Quýnh chần chừ, rồi lấy hết can đảm :" Lan, Lan, cho…tao, cho tao … hôn một cái, được không?". Khuôn mặt Lan đỏ lên dưới ánh trăng, mắt nhắm nghiền, môi he hé :" Đồ ngốc, còn phải hỏi!". Quýnh lập cập ôm lấy khuôn mặt con bạn gái, không biết phải làm thế nào. Sau một lúc quay ngược quay xuôi, môi cũng áp được môi. Ấy là nụ hôn đầu tiên trong đời hắn. 

* * 
Năm Quýnh học hết cấp III, lão Quỷnh bảo con :" Thôi, đại học đại hiếc làm chó gì. Thời buổi này văn hay chữ tốt không bằng học dốt lắm tiền. Kĩ sư bác sĩ thất nghiệp nhan nhản ra đấy như lợn con cả lũ. Xem học lấy cái nghề gì đấy “tàu nhanh” rồi kiếm tiền kiểu mì ăn liền, con ạ!". Đương phân vân, chưa biệt học gì thì có chú Quynh dưới Hải Phòng lên chơi. Chú Quynh là em út lão Quỷnh, lang bạt ra đất Cảng từ thuở trẻ rồi lập nghiệp luôn ngoài đó. Chú bảo :" Thôi, theo tao ra Cảng lái xe chở hàng, rồi tính sau. Làm thằng lính xế thì không lo chết đói đâu cháu ạ". 
Quýnh khăn gói quả mướp theo ông chú lên đường. Học hành tấn tới, sau khi tốt nghiệp lớp lái xe cộng thêm sự hỗ trợ của ông chú, Quýnh được làm lính xế trong đội vận tải. Công việc vất vả, nặng nhọc, nhưng so với cái tuổi đôi mươi trai tráng của hắn thì cũng chẳng thấm tháp gì. Chỉ tội tiền ít. Mấy bậc đàn anh lâu năm trong nghề nhiều lần bày nước cho hắn "rút ruột", đem hàng ra ngoài bán, đánh quả thêm. Quýnh chỉ cười cười chứ không làm theo. Hắn chưa ăn cắp bao giờ và tự nhủ sẽ không ăn cắp. 
Cuộc sống ngoài cảng xô bồ. Chích hút, cờ bạc, đĩ điếm rất sẵn, nhưng Quýnh luôn nhớ đến Lan. Hồi đầu, hai đứa vẫn viết thư cho nhau. Nhưng theo thời gian, thư cứ thưa dần, thưa dần. Trong lá thư gửi từ ngày Quýnh mới ra cảng, Lan báo tin đã được nhận vào đoàn văn công của một tỉnh trên cao nguyên. Rồi một ngày hắn không tin vào mắt mình: 
Quýnh ơi! 
Viết những dòng này, Lan buồn lắm. 
Chúng mình sinh ra và lớn lên bên một dòng sông. Chúng mình đã sống những chuỗi ngày cơ cực bên con sông nước chảy lờ đờ, đục ngầu, tanh tưởi và ước mơ một ngày sẽ ra biển lớn. Quýnh đã tìm thấy biển của mình chưa? 
Còn Lan, có lẽ một ngày không xa… 
Tha lỗi cho Lan nhé. Lan muốn cho cha mẹ được sống những tháng năm cuối đời như một con người. Lan không muốn cho con cái của mình phải cực khổ, nhục nhã như mẹ chúng ngày xưa. 
Những kỉ niệm của chúng mình thật đẹp. Lan sẽ không bao giờ quên. Ôi, ước gì cuộc đời này là câu chuyện cổ tích. 
Lan sẽ đi một nơi rất xa.Vĩnh biệt chàng hoàng tử. 
Cô bé Lọ Lem. 
Quýnh chết lặng, khóc không thành tiếng. Âm thầm nuốt nước mắt vào trong. 
Nhiều đêm nằm khểnh ở ca bin xe Kamaz ngắm sao trời trong tiếng sóng biển rì rào, hắn bồi hồi, thẫn thờ khi nghe Lan hát trên radio. Giọng Lan ấm và buồn lắm: 
Cuộc đời là một dòng sông 
Hai ta là chiếc lá 
Em bị cuốn trong dòng đời đen bạc 
Anh cũng chìm theo con sóng bơ vơ… 
…Thấm thoắt, Quýnh xa nhà đã được 5 năm. Hắn chỉ tranh thủ về thăm bố được vào mấy ngày Tết. Lão Quỷnh ở nhà một mình buồn, nhớ con, nên lại càng hay rượu. Chiến hữu của lão bây giờ ngoài lão Tường thợ mộc còn có chú Đoan. Chú Đoan đã "được" về hưu non do không hợp "cạ" với sếp mới. Chú về quê đón vợ và hai đứa con, dựng một mái nhà tranh ở ngay xóm nghèo. Cô Đoan ngày ngày bán rau muống ở cái chợ mà ngay xưa chú quản lí. Thỉnh thoảng lại thấy cô khóc mếu vì bị mấy ông cảnh sát đá tung cả gánh hàng. Thấy chú Đoan buồn, lão Quỷnh hay rủ sang chơi, rồi bảo chú ngả luôn một mâm bơm vá săm lốp xe đạp cạnh " hiệu cắt tóc" của lão. Chú cũng ít khách, vì không chịu rải đinh ra đường. 
Một hôm, Quýnh nhận được điện báo " Về ngay, bố ốm nặng!". Hắn hoảng hồn, hớt hải xin về ngay. 
Đến nhà, thấy bố và chú Đoan đang rung đùi uống rượu, hắn không hiểu sự thể ra sao và có phần bực, vì lo lắng suốt dọc đường. Đoán biết tâm trạng của con trai, lão Quỷnh thanh minh : 
-Đúng là có việc quan trọng nên tôi phải đánh điện thế để người ta cho anh về, kẻo lỡ. Việc lành đấy anh ạ. 
Chú Đoan đỡ lời : 
– Trên địa phận phường ta sắp khánh thành xí nghiệp may do Hàn Quốc đầu tư. Ngoài thợ may, họ tuyển bảo vệ và một lái xe cho giám đốc. Hôm trước ra nộp hồ sơ, thấy trong lí lịch có ghi ngày trước chú là công an nên họ nhận ngay. Chú nghĩ đến cháu, nên nói có người nhà lái xe rất giỏi, họ bắt phải thử tay nghề. Chú bàn với bố, gọi cháu về xem sao, nhiều nguời nộp đơn lắm rồi. Đây là dịp may hiếm có. Lương những hơn triệu, lại được ở ngay gần nhà. 
Lão Quỷnh gật gù : 
– Ờ, anh cũng phải tính chuyện về Hà nội đi chứ. Cứ bỏ tôi đi biền biệt hay sao? Ngày trước chưa có nghề nghiệp gì, phải đi xa đã đành. Nay thành tài rồi, tội gì mà cứ ở mãi ngoài đó. 
Hôm sau Quýnh đi cùng chú Đoan đến thử tay nghề. Chiếc xe Kamaz to kềnh càng như cái nhà Quýnh điều khiển còn ngon lành, thì cái xe con bé như hộp phấn hắn thực không coi là cái thá gì. Hơn nữa, nhìn vẻ ngoài rắn chắc, khoẻ mạnh của hắn, bà sếp phụ trách khâu tổ chức nhân sự đồng ý ngay. 
Quýnh trở lại cảng xin thôi việc và từ biệt đồng nghiệp. Mọi người bùi ngùi tiễn đưa hắn. Ai cũng quí cái thằng trai Hà nội nhưng lại chăm chỉ, chất phác cứ như trai quê. Thoạt đầu, thấy Quýnh không chơi bời, gái gú như cánh lính xế khác, mọi người tưởng hắn có "vấn đề". Tò mò, một hôm mấy bậc đàn anh hè nhau vào vật hắn ra "khám nghĩa vụ quân sự". Quýnh chống cự dữ lắm, nhưng cuối cùng thì cũng phải nằm thẳng cẳng chịu phép vì yếu thế. Ngờ đâu, "súng ống" của hắn lại thuộc loại thứ dữ. Tin lành đồn xa, tin dữ đồn xa, ai ai cũng biết thằng Quýnh có "vũ khí hạng nặng". Ngày chia tay, mấy cô gái trẻ khóc đỏ mắt. Thấy bảo, sau khi Quýnh đi rồi, cánh xế lại kháo nhau về cái lần "khám nghĩa vụ quân sự" ấy. Mấy cô gái trẻ lại được thể khóc to hơn. Ấy là nghe đồn đại như vậy, chả biết thực hư ra sao? 

* * 
Chỉ sau một thời gian ngắn làm việc, cả mấy trăm công nhân ngấy đến tận cổ với tay chủ Đại Hàn. Tên hắn là Kim Yang Gun, nhưng cánh công nhân thấy khó phát âm quá, gọi chệch đi là Chim Đang Sun cho dễ. Thằng Chim Đang Sun nguyên là võ sĩ đệ tam đẳng Teakwondo, lại có mấy năm chơi quyền Anh, to như một con gấu. Tính tình hắn hết sức cục cằn, hung dữ. Không hiểu sao, hắn lại thù ghét và khinh bỉ người Việt đến thế. Hắn thường xuyên đánh đập và hành hạ công nhân. Đi làm muộn : đánh, đuổi việc; làm hỏng một sản phẩm : đánh, trừ lương; thậm chí nhiều công nhân khi gặp hắn chưa kịp gập người xuống chào, lập tức bị bạt tai, đá đít. Vừa đánh, hắn vừa rủa :" Lũ ngu ngốc và hèn hạ. Chúng mày là nỗi nhục của dân châu Á! Mỗi khi phải đi công vụ Đông Âu, tao xấu hổ khi bị nhầm là người Việt chúng mày!". Nhiều công nhân nữ trẻ đẹp bị hắn gọi lên văn phòng rồi giở trò thú vật, nhưng không dám chống cự mà chỉ biết nghiến răng chịu đựng. Ai cũng sợ bị mất việc. Thời buổi gạo châu củi quế, mất việc nghĩa là con cái nheo nhóc, chết đói. Tình cảnh của Quýnh cũng chẳng khá gì hơn, nhiều hôm lái xe chở sếp đi công việc, bị nhiếc móc, hành hạ rất vô cớ. Hắn uất và tủi lắm, nhưng nghĩ đến ông bố già ngày ngày cặm cụi cắt tóc ở gốc cây ven đường, đành chỉ biết nghiến răng chịu đựng. 
Một hôm, vừa đánh xe vào gara, Quýnh chợt nghe có tiếng la hét, tiếng đấm đá bình bịch từ phía ngoài cổng. Hắn chạy ra và nhìn thấy chú Đoan đang bị thằng Chim Đang Sun đấm đá túi bụi. Mọi người đổ xô ra xem song không ai dám can ngăn. Hoá ra chỉ vì chú đóng cánh cổng chưa được chặt sau khi xe chở hắn vào trong sân. Chú Đoan hai tay ôm đầu chịu đòn, lưng còng xuống, mặt sưng vù bê bết máu. Chừng đã chán tay, thằng Chim Đang Sun dạng hai chân, gằn giọng :" Chui qua háng, thì tao tha! Mau! Không thì bước khỏi đây!". 
Chú Đoan ngần ngừ giây lát, từ đôi mắt sưng vù, mệt mỏi, chảy ra hai dòng nước, rồi khuỵu người xuống trong tư thế chuẩn bị bò. Quýnh thấy nhục quá, hét lên thất thanh : " Không!", rồi chạy đến ôm chầm lấy chú. Thằng Chim Đang Sun ngẩn người ra nhìn Quýnh rồi gầm lên :" À, thằng này giỏi. Dám chống lại tao à?" và nhằm người Quýnh phát đòn. Quýnh vốn lớn lên ngoài đường phố, quen đánh lộn từ nhỏ, lại học được mấy miếng võ Vịnh Xuân hiểm hóc thời lang bạt ngoài đất Cảng, nên dạn đòn. Nhanh như cắt, Quýnh né người sang trái tránh quả đấm phóng tới ngang tầm mặt, tay phải trấn xuống gạt cú đá móc hiểm hóc nơi hạ bộ, tay trái xẹt nhanh như điện ra một đòn trời giáng vào mang tai thằng sếp côn đồ. Thằng này chủ quan,vì từ trước đến giờ các công nhân chỉ nhẫn nhục chịu trận, lần này không ngờ gặp phải sự phản kháng nên bị dính đòn, đờ ra, loạng choạng rồi gục xuống sau khi bị Quýnh nhập nội bồi thêm một đòn cùi trỏ với kình lực kinh người vào chấn thuỷ. Bỏ mặc đám đông đang há hốc mồm ra vì hả hê và lo sợ, Quýnh lấy xe chở chú Đoan và thằng sếp đi viện. 
Chú Đoan nằm viện, theo giám định sức khoẻ bị 22% thương tật. Sau một tuần có ông trưởng công an phường đến gặp, ra điều kiện là nếu chú đồng ý rút đơn bãi nại để thằng Chim Đang Sun khỏi bị phiền hà thì sẽ được nhận 30 triệu đồng tiền bồi thường. (9) Sau một đêm mất ngủ, chú Đoan đồng ý, vì đối với chú đây là cả một gia tài. Còn Quýnh, dĩ nhiên là được thằng chủ ân cần dắt tay ra tận ngoài đường với nụ cười nhạt cảm ơn rất đểu giả. 

Lão Quỷnh buồn, nhưng vẫn lên gân động viên con trai: 
– Hay là anh xuất ngoại một chuyến? Tuổi trẻ đi đây đi đó cho thoả chí tang bồng, ra nước ngoài chắc chắn dễ kiếm tiền hơn ở nhà. Ngày xưa người ta vượt biên còn bị chết mất xác trên biển vì cá mập hay hải tặc. Ngày nay ấy à, cứ xuỳ ra dăm nghìn đô là hộ chiếu đàng hoàng, lại còn được cưỡi tàu bay nữa. Thôi, bán quách cái mảnh đất này đi mà làm dấn vốn. Đằng nào anh cũng chưa tính chuyện vợ con, còn tôi, một thân một mình ở đâu chả được. 
Quýnh ôm lấy cái thân hình còm cõi của bố, khóc như trẻ con. Lão Quỷnh nước mắt cũng ầng ậng, cao giọng: 
– Sư bố anh,chỉ được cái mau nước mắt như đàn bà. 
Rồi lén quay đi lấy tay chùi mắt. 

* * 
Biển Ban tích một chiều tháng Tám. 
Người đàn ông trầm ngâm trên bãi cát dài đưa mắt xa xăm ngắm những con sóng lô xô cùng bầy hải âu đang nghiêng mình chao lượn, thỉnh thoảng lại cúi xuống cặm cụi viết gì đó vào cuốn vở dày cộp, quăn queo đã sờn hết gáy; dường như chẳng để ý gì đến đám du khách đương nô nức, háo hức chạy nhảy, hò reo. Hết đầm mình trong làn nước xanh ngăn ngắt, họ lại nằm dài phơi mình dưới cái nắng chói chang cuối hạ. 
" Bộp", một quả bóng từ đâu sút tới, quyển vở trong tay anh ta văng ra xa. 
– Xin lỗi ông. Cháu không cố ý… 
Một chú bé châu Á chừng mười tuổi chạy tới, hớt hải, vẻ biết lỗi. Dĩ nhiên, chú phát âm bằng thứ giọng chuẩn như bất kì một tay Ba lan chính hiệu. 
– Ồ, không sao, cháu bé. Chuyện vặt ấy mà. 
Người đàn ông mỉm cười, xoa lên mái tóc ướt nhèm của chú nhóc. 
-Để cháu lấy trả ông cuốn vở. 
Chú nhóc nói rồi lao nhanh ra chỗ quyển vở nằm tênh hênh, nhặt lên và đưa mắt nhìn vào dòng chữ,mồm lẩm nhẩm đọc theo. 
– Ồ, bác là người Việt nam à? Chú nói như reo, lần này thì bằng tiếng Việt. 
– Ừ, cả cháu cũng là người Việt à? Người đàn ông mừng rỡ nên hỏi một câu khá ngớ ngẩn. Rồi như để chữa ngượng, anh hỏi tiếp: 
– Cháu ở Vác(10) xuống à? 
– Vâng, sao bác biết? 
– Ờ, thì ở cái thành phố này có vài chục người Việt, chú biết hết. Chứng tỏ cháu ở nơi khác đến. Đi nghỉ hè hay đông thì chỉ dân nhà giàu, chứ những người Việt khác có khái niệm gì về kì nghỉ đâu, quanh năm suốt tháng chỉ biết cắm đầu vào công việc. Mà dân "soái" thì phần lớn ở Vác. Thế bố mẹ cháu đâu ? 
– Cháu đi với mẹ và cô Hồng – bạn mẹ thôi. Bố cháu mất rồi, tai nạn ô tô. Mẹ cháu ngồi đằng kia kìa. Chú bé mặt buồn so, chỉ tay ra phía xa. 
– Chú xin lỗi. Tội nghiệp cháu quá. Anh âu yếm xoa đầu thằng nhỏ 
– Bác ơi – chú bé ngập ngừng, bác viết gì thế, chuyện cổ tích à? Rồi chỉ tay vào cuốn vở.
– Không, không phải cổ tích đâu, mặc dù bài thơ đó có tên " Chuyện cổ tích bên một dòng sông", nhưng đó là chuyện thật về cuộc đời chú. 
Người đàn ông ngừng lời, nhìn vẻ mặt háo hức tò mò của chú bé. Anh ôm chặt chú vào lòng. 
– Cháu mấy tuổi rồi? Có bạn gái chưa, chàng trai? 
– Cháu mười tuổi. Chú nhóc bẽn lẽn, đỏ mặt – bạn gái cháu tên là Ania… 
– Hồi bằng tuổi cháu, chú cũng có bạn gái… giọng người đàn ông trầm xuống – chuyện thế này, để chú kể cho cháu nghe " Chuyện cổ tích bên một dòng sông"… 
" Hồi ấy – lâu lắm rồi, ở một xóm ngoại ô có lũ trẻ con nhà nghèo. Chúng nghèo lắm, cơm chẳng đủ ăn, áo không đủ mặc. Nhiều đứa không được cắp sách tới trường, phải ở nhà kiếm tiền đỡ đần cha mẹ nuôi các em, đứa nhặt rác, đứa bán than… Nhưng những phút rảnh rỗi, lũ trẻ thường tụ tập bên sông, gập thuyền giấy hay nhặt những chiếc lá khô thả xuống dòng nước đen ngòm và mơ về biển lớn. Đứa mơ làm phi công vũ trụ, đứa mơ làm thuyền trưởng tàu viễn dương, đứa muốn trở thành công an…,có một cô bé mặt mày lúc nào cũng đen nhẻm bụi than nên bị gọi là Lọ Lem – mộng thành ca sĩ. 
Đứa con trai mơ làm công an rất thân với cô bé mộng thành ca sĩ và cũng được cô bé đáp lại. Tình cảm hồn nhiên, trong sáng này giúp chúng quên đi những chuỗi ngày cơ cực. 
Rồi lũ trẻ lớn dần theo năm tháng. Đến một ngày, vì cuộc mưu sinh, cô bé phải theo cha mẹ đi về một nơi rất xa, xa lắm. Đi hẳn, đi mãi! Đêm chia tay, hai đứa buồn vô hạn. Chúng dẫn nhau ra bến sông xưa và lại chơi trò thả lá khô làm thuyền một lần cuối. Dưới ánh trăng và những vì sao đêm,chú bé hứa với bạn gái, rằng sau này, khi lớn lên, sẽ đi tìm nhau. 
Nhưng rồi số phận đã chia lìa chúng. Cô gái đi lấy chồng trước khi chàng trai kịp thực hiện lời hứa từ ngày xưa… 
… Đã mười năm nay, ngày ngày, chàng trai đứng trước biển Ban tích bao la dõi theo cánh hải âu và nhớ về giấc mơ từ thuở ấu thơ. Chàng thầm hỏi: ta đã thoát khỏi dòng sông định mệnh xưa để ra biển lớn. Còn em, em ở đâu, ơi cô bé Lọ Lem?…" 
– Ôi giời, chuyện của bác giống hệt chuyện mà mẹ cháu hay kể. Người lớn hình như chẳng nghĩ ra được chuyện gì mới hơn. Nhưng nghe cũng được. Vì đoạn cuối có hơi khác tí ti. 
Chú bé chun mũi, híp một bên mắt, không giấu nổi vẻ bất mãn tuy đã rất cố gắng lịch sự. 
– Để cháu gọi mẹ cháu ra nghe, xem có đúng là giống nhau không nào. 
Chú nhóc nói rồi đứng dậy, ngoái cổ sang bên trái, nơi lúc trước mẹ và cô Hồng đã ngồi; không để ý thấy vẻ bàng hoàng trên khuôn mặt đầm đìa mồ hôi của người đàn ông. 
– Ơ, không thấy mẹ đâu! 
Chú ngơ ngác nhìn quanh. 
Cả chú bé và người đàn ông không để ý. Có một thiếu phụ đứng sau lưng họ tự lúc nào, nước mắt đầm đìa cố kìm tiếng nấc. Nàng đã nghe trọn vẹn " Chuyện cổ tích bên một dòng sông" 
Warsaw tháng Tám 2002. 
1- Một con sông nhỏ ở Hà nội 
2 – Phi công vũ trụ người Việt nam 
3&4- Hai nhân vật chính trong bộ phim truyền hình nhiều tập " Trên từng cây số" của Bulgaria 
5 – Xe đạp, xe máy Peugeot 
6- Người nhập cư lên Hà nội hay nói ngọng 
7- Chai nhỏ cỡ 1/4 lít 
8- Một loại rượu rất nổi tiếng ngoài Bắc 
9- Những chi tiết này là có thật theo Vnexpress ngày 04/06/2001 http://vnexpress.net/Vietnam/Xa-hoi/2001/06/3B9B10A5/ 
10 – Vác sa va, lối gọi tắt của người Việt ở Ba lan

Thảo luận cho bài: "Thằng Quýnh Lấy Vợ – Hay Là Chuyện Cổ Tích Bên Sông"