Thiền định tăng cường gấp 3 lần khả năng sống trong người bệnh nặng.

Tác giả:

Bệnh nhân thực hành thiền định đã tăng gấp 3 lần thời gian sống của họ, theo một nghiên cứu về bệnh nhân ung thư ở thời kỳ “vô phương” cho biết vào tuần qua. 

Cuộc khảo cứu 22 bệnh nhân hấp hối tại bệnh viện Princess Margaret ở Toronto đã cho thấy những kết quả ngược lại nhiều thành kiến y khoa trước đâỵ Các nhà chữa bệnh theo phương pháp cổ truyền Đông Phương đã dùng cac’ thuật chữa bệnh bằng tâm linh từ lâu, tuy nhiên giới y học Tây Phương vẫn hoài nghi hiệu quả của phương pháp đó.

Bác sĩ Alastair Cunningham, một khoa học gia cao cấp tại viện ung thư Ontario, trưởng đoàn nghiên cứu nói trên, cho biết, các kết quả này buộc mọi người phải suy nghĩ lạị Ông xác nhận, đây là một bằng chứng rất rỏ ràng về điều mà ông đã quan sát lâm sàng trong suốt 20 năm qua: Người có sinh hoạt tâm linh trị bịnh hiệu quả hơn. Cuộc khảo cứu, bắt đầu cách đây 6 năm, đã được tường thuật trong các tạp chí y khoa “Các tiến bộ trong nghành y khoa tâm trí – thân thể”. Bài báo trình bày sự tiến bộ của 22 bệnh nhân tuổi từ 31 đến 67, người nào cũng được một phái đoàn chuyên gia cao cấp tiên đoán chỉ còn sống sót tối đa 12 tháng nữạ Đây là những bệnh nhân ung thư đủ loại: Phổi, Nhiếp hộ tuyến, Nhũ hoa, và Lá lách.

Hàng tuần các bệnh nhân này được tham dự một lớp học thuộc chương trình “Hành trình chữa bệnh”, dưới sự quan sát của bác sĩ Cunningham. Cuộc “Hành trình chữa bệnh” đã sử dụng các kỹ thuật tâm lý để đối phó với ung thư, như thiền định, vận dụng thị kiến, phân tích giấc mơ, viết nhật ký, suy nghĩ, đọc sách, cầu nguyện và nhiều sinh hoạt tâm lý khác. Sau một thời gian, các bệnh nhân này được chia ra làm 3 nhóm, dựa vào sự nhiệt tình tham gia và lòng tin tưởng của họ nơi các sinh hoạt trong chương trình.

Kết quả: Các bệnh nhân “ít tham gia” đã chết vào thời gian được tiên đoán; các bệnh nhân “tham gia tích cực” đã sống được gấp 3 lần thời gian tiên đóan; thậm chí, có người còn khỏi hẳn. Bác sĩ Cunningham, tuyên bố với hãng truyền hình CTV News đã thừa nhận, ông không thể, hoặc bất cứ ai khác cũng không thể, giải thích được những diễn biến trong cơ thể bệnh nhân. Ông cho rằng những người tham gia tích cực trong sinh hoạt tâm tinh đã hoàn thành được sự hài hòa, cảm nhận được ý nghĩa đời sống, hướng đi và làm chủ được bản thân hơn trước. Từ đó, biến thành một cơ thể điều hòa căn bệnh, làm chậm lại tiến trình phát triển bệnh, và thậm chí ngăn chặn hẳn căn bệmh.

Một trong những chứng nhân đã tham gia chương trình, bà Judy Milley, thuộc Ontario, cho biết bà bị ung thư nhũ hoa năm 1993, và được tiên đóan là chỉ còn sống được một năm.

Sau khi tham gia “Hành trình chữa bệnh”, bà đã khỏi hẳn. Là một người Thiên Chúa giáo, nhưng nay bà Milley cho rằng bà cần phải học thêm nhiều về thiền định Phật Giáọ Sau đây là bản dịch bài của ký giả Gustav Niebuhr đăng trong báo The New York Tims ngày 2 tháng 12 năm 2000.

“Trong số những vị đạo sư Phật giáo nổi tiếng ở Tây Phương, Thiền sư Thích Nhất Hạnh có một chổ đứng thật nổi bật. Cứ trú tại Pháp từ ngày bị lưu đày khỏi quê hương Việt Nam, ông là tác giả của rất nhiều sách và thường qua giảng dạy và hướng dẫn các khoá tu ở Hoa Kỳ. Nhiệm vụ chính của Thiền sư là khuyến khích con người thực tập chánh niệm, một phép thực tập có khả năng chuyển hoá cá nhân và xã hội qua quá trình phat triển tuệ giác về bản thân và lòng từ bi đối với kẻ khác. Thiền sư dạy rằng chánh niệm đưa tới ý thức tỏ tường về những gì đang xảy ra trong giờ phút hiện tạị Nhưng trong suốt tuần này, thầy Nhất Hạnh lại đặc biệt chú trọng tới vấn đề làm sao có thể sử dụng được nguyên tắc ấy vào việc đối phó với hiểm họa AIDS. Thầy là một trong 75 nhà lãnh dạo tôn giáo đã được tòa Bạch ốc mời đến để tham dự một Hội nghị thượng đỉnh về việc đối phó với hiểm họa AIDS.

Trong số những vị lãnh đạo tôn giáo này có khá nhiều vị từ châu Phi đến. Hội nghị được triệu tập để xem xét các đoàn thể tôn giáo có thể làm gì để ngăn chận được sự lan tràn của bệnh AIDS, để trở thành những lực lượng bảo hộ cho quần chúng và chăm sóc cho những người bị bệnh. Trả lời một cuộc phỏng vấn tại Hoa Thịnh Đốn, thiền sư Nhất Hạnh năm nay đã 74 tuổi, đã nói về những vấn đề lớn liên hệ tới dịch AIDS như cách ngăn ngừa, giáo dục quần chúng và chăm sóc bệnh nhân. Thầy đưa ra những phép tắc trị liệu và hành động mà không những giới Phật tử có thể làm theo mà tất cả những truyền thống tôn giáo khác đều cũng có thể chấp nhận và áp dụng.

Ông nói điều trước tiên phải làm là cac’ đoàn thể tôn giáo phải có trách nhiệm đứng ra giáo dục quần chúng về hiểm họa AIDS và yểm trợ những ai đã bị bệnh này bằng phương tiện chăm sóc và chữa trị. Ông nói” “Mỗi chùa và mỗi nhà thờ đều phải thành lập một ủy ban để tổ chức việc học hỏi về bệnh AIDS, về những khổ đau gây nên do bệnh AIDS và khuyến khích mọi người cùng học hỏi để có được nhận thức tỏ tường khổ đau ấỵ Nhận diện khổ đau và hiểu được cội nguồn của khổ đau là hai sự thực đầu của bốn sự thật căn bản gọi là Tứ Diệu Đế. Đây là giáo lý nguyên thỉ mà chính Bụt Thích Ca đã dạy”.

Từ ngày thiền sự rời bỏ Việt Nam năm 1966 để qua Mỹ với sứ mạng vận động hòa bình, ông đã phải chấp nhận thân phận lưu đàỵ Chính quyền Miền Nam không cho ông về nước, mà chính quyền Việt Nam sau năm 1975 cũng không cho ông về nước. Ông nói rằng các sách của ông vẫn còn bị cấm tại Việt Nam.

Trong khi nói về chữa bệnh AIDS, ông có nhắc đến một trong những công việc mà ông đã làm từ sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc, đó là chỉ bảo cho các cựu chiến binh Hoa Kỳ thực tập. Dù họ đang bị thương tích nơi thân thể hay tâm hồn, ông nói, họ cũng có thể thực tập để trở nên những con người có khả năng hòa giảị Ông đã nói với họ rằng, họ có thể tập luyện trở nên những vị Bồ Tát, những người đã thực hiện giác ngộ bản thân và đang đi giúp những người kh’ac cùng được giác ngộ. Thầy nói những ai đã từng “chạm vào ngọn lửa của chiến tranh” đều phải đứng lên đóng vai trò thức tỉnh nhân loại về những khổ đau tàn hại khôn lường của binh lửạ

Thầy Nhất Hạnh cũng nói rằng, những người bị rủi ro lâm vào chứng bịnh HIV/AIDS cũng có thể đóng một vai trò tương tự. Nếu muốn, họ có thể phụng sự nhân loại bằng cách đứng lên giảng dạy cho mọi người biết về sự thật của bệnh AIDS và kêu gọi mọi người phát khởi tâm từ lân mẫn, săn sóc và yểm trợ cho những ai đã bị bệnh. Thầy nói: “Làm như thế, các vị ấy có thể tự nuôi dưỡng được mình bằng lý tưởng Bồ Tát”. Tâm nguyện này rất thiết yếu cho họ. Có được tâm nguyện này là đời sống của họ sẽ có một ý nghĩa cao đẹp mà do đó mà họ sẽ dễ dàng đi tới trên con đường chuyển hóa và trị liệu của bản thân.

Trong khi dạy phép thiền tập chánh niệm, Thiền sư Nhất Hạnh thường đưa ra năm nguyên tắc sống:

Một là tôn trọng sự sống.
Hai là mở rộng tâm hào hiệp.
Ba là có tinh thần trách nhiệm về phương diện tính dục.
Bốn là thực tập lắng nghe và án ngữ.
Năm là cẩn thận trong sự tiêu thụ, trong sự ăn uống cũng như trong khi giải trí vui chơị

(theo năm giới của Phật tử)

Ông nói rằng, thực tập chánh niệm thì trong liên hệ với người khác tự nhiên ta sẽ khước từ những liên hệ tính dục có thể đưa tới sự nhiễm độc HIV, thứ độc trùng gây ra bệnh AIDS tàn khốc. Thầy nói: “Chúng tôi tin quyết rằng tình thương đích thực bao giờ cũng đi đôi với chánh niệm. Chánh niệm là khả năng biết những gì đang xảy ra trong hiện tại, những hành động nào đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Ý thức ấy giúp ta bảo vệ tự thân ta, bảo vệ gia đình ta, và bảo vệ cho cả xã hội loài người.”

Thảo luận cho bài: "Thiền định tăng cường gấp 3 lần khả năng sống trong người bệnh nặng."