Thử Tìm Hiểu về Tâm Thức và Thiền

Tác giả:

Trong muôn loài muôn vật trên thế gian, loài người được coi như thượng đẳng hơn cả. Muôn loài muôn vật sống nhờ ở thể xác và bản năng, nhưng con người vượt cao hơn hết thảy, nhờ có thêm phần tâm hồn, hay còn gọi là phần Tâm Thức. Nhơ ø tâm thức, con người có phần suy nghĩ, phần đạo đức và phần trí tuệ. Hai chữ Tâm thức, tiếng Anh gọi là Mind và tiếng Pháp gọi là Esprit.

Nói theo thuyết Duy Vật, thì khi chúng ta chết đi, nghĩa là khi phần xác bị hủy diệt, thì phần hồn không còn nữa vàø chết là hết. Nhưng nói theo thuyết Duy Tâm, thì phần hồn vẫn còn tồn tại dù phần thân xác đã bị tiêu diệt. Chả thế mà người ta vẫn nói tới “Thế Giới Bên Kia” ý muốn nói cuộc sống của phần hồn.

Chuyện về Thế Giới Bên Kia với những hình ma bóng quế, với thiên đàng địa ngục cùng với Thuyết Tái Sinh hay Thuyết Luân Hồi (Reincarnation) đều không thuộc phạm vi của bài này bởi vì tính cách siêu linh của nó mà người viết không đủ kiến thức để lạm bàn. Chúng tôi chỉ muốn nói tới Phần Tâm Thức là phần hồn ( Mind) còn đang hiện diện cùng với phần xác thân ( Body) của chúng ta.

Chúng ta sống là có sự vận hành song song của cả phần xác lẫn phần hồn, hay nói một cách khác, hai phần cơ thể và tư tưởng con người tuy hoàn toàn khác biệt về thể chất và bản chất, nhưng cùng chung sống với nhau và liên hệ mật thiết đến nhau, giúp con người được tồn tại. Những người bị bệnh Coma, tuy thể xác vẫn còn và trái tim vẫn đập, nhưng phần hồn hay phần tâm thức không hoạt động, nên người đó được coi như nửa sống nửa chết, vì họ không còn tri giác. 

Trở lại với cuộc sống, khi tâm hồn chúng ta thoải mái, không âu lo ưu phiền thì cơ thể khỏe mạnh an nhiên. Nhưng nếu chúng ta sống mà tâm hồn đầy rẫy những hỉ nộ ái ố, những dục vọng, những mưu toan, những thù hận, thì tâm hồn chúng ta bị quá nhiều áp lực (stress) khiến cơ thể bị suy yếu và dễ sinh bệnh hoạn, chẳng hạn như chứng đau tim, loét bao tử, bệnh thoái hóa khớp xương, bệnh ung thư hay những bệnh về tâm thần, nhẹ thì chẳng hạn như bệnh trầm cảm, nặng thì như bệnh điên cuồng…v.v.

Ngày trước, hồi thế kỷ thứ 17, nhà toán học và triết gia người Pháp, René Descartes (1596- 1650), đã đề ra thuyết Nhị Nguyên (dualisme/dualism), trong đó ông nói rõ sự tương phản và biệt lập của hai bản thể (entity) hoàn toàn khác biệt nhau như Âm với Dương, như phần thể xác ( body) và tâm hồn ( mind) của con người… Ngày nay thuyết Nhị Nguyên đã không còn được khẳng định như trước, bằng chứng là chính khoa học Tây Phương đã khám phá ra rằng những tình cảm con người như yêu thương giận ghét, như vui sướng khổ đau, như thảnh thơi hay lo lắng ưu phiền … đều ảnh hưởng đến thân xác, khiến con người có thể được mạnh khỏe hay bệnh tật … Sự công nhận này đã đi gần đến triết thuyết của Đông Phương cả ngàn năm về trước, chủ trương âm với dương, thể xác với tâm hồn là hai bản thể tuy khác nhau, nhưng có liên hệ mật thiết với nhau và phối hợp cùng nhau để tạo nên một tổng thể duy nhất như sự hiện diện của vũ trụ hay sự sinh tồn của con người ( thuyết Nhất Nguyên- monisme/monism).

Lão Tử (+) hơn 2000 năm trước, đã khuyên con người không nên nhìn sự vật bằng cặp mắt nhị nguyên, chia phân “Nhĩ Ngã”, mà mà phải nhìn thấy tất cả đều chỉ là Một. 

Theo lý thuyết của Đạo Gia (++), thì Tâm Thức hay Tâm Thần của con người đều ở vào ba nơi. Một ở Óc ( đầu), hai ở Tim ( ngực) và ba ở Dạ Dày ( bụng). Ba nơi ấy Đạo Gia gọi là TAM THI gồm Thượng Thi, Trung Thi và Hạ Thi. Cả ba Tam Thi được chủ đạo bởi ba ông thần họ Bành: Thượng Thi do Bành Cứ (có sách viết là Bành Sư), Trung Thi do Bành Chất và Hạ Thi do Bành Kiêu. 

Ba ông thần ấy gọi là TAM BÀNH, chuyên xúi dục người ta nóng nảy giận dữ, làm điều sai trái xằng bậy, để những ngày Canh Thân (+++), lên tâu với Ngọc Hoàng Thượng Đế để Ngọc Hoàng phạt người này mau chết hầu ba ông thần được tự do, khỏi phải theo dõi để tâu báo nữa. Việc tâu trình này đại khái cũng giống như chuyện Taó Quân hàng năm đến ngày 23 tháng Chạp lên chầu Thượng Đế để báo cáo về tình hình của gia chủ căn nhà. 

Do sự tích trên, mỗi khi người ta nóng nảy giận dữ làm điều trái lẽ mất khôn thì gọi là nổi cơn Tam Bành. Trong Truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du có viết về Tú Bà, khi được Thúy Kiều cho biết là đã thất thân và sắp lấy Mã Giám Sinh, thì Tú Bà đã nổi cơn thịnh nộ vì nghĩ rằng sẽ mất Kiều, nghĩa là sẽ mất mối lợi thu hút “khách hàng” mỗi ngày :

Mụ nghe nàng nói hay tình
Bấy giờ mới nổi Tam Bành mụ lên

Tâm Thức theo người Anh, tọa lạc ở trong óc (Đầu = Thượng thi), theo người Pháp ø ở trong Tim (Ngực = Trung thi), còn theo người Trung Hoa và nhất là người Việt Nam thì Tâm thức ở trong lòng (Bụng hay Dạ dày = Hạ thi). Dĩ nhiên chữ “bụng” hay “dạ dày” không phải là chỉ ruột già, ruột non hay bao tử, mà nó mang một nghĩa bóng ám chỉ phần hồn. Chẳng hạn như khi ta nói “lòng tốt”, thì đó không phải là ruột non ruột già tốt mà là thiện tâm hay hảo tâm. Hai chữ “lòng mẹ” cũng thế, ý nói tình mẹ thương con. Ngoài ra còn có những câu như “bụng bảo dạ”, “lòng dạ xót xa”, “lòng dạ nao nao”. Trong ngôn ngữ Việt nam có cả hàng trăm chữ “lòng” mang ý nghĩa của Tâm Thức chẳng hạn như “ lòng thành, lòng quê, lòng vàng, lòng tham, lòng son, lòng tà, lòng nhân, lòng trinh, lòng muông dạ thú, lòng ngay dạ thẳng .v.v.. hay khi trai gái yêu nhau người ta cũng dùng hai chữ phải lòng.
Ca dao đã có câu:

“ Sông sâu còn có kẻ dò
Lòng người nham hiểm biết mô mà lường

Và trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du:

Lối mòn cỏ nhạt màu sương
Lòng quê đi một bước đường một đau
Hay:

Lòng thơ lai láng bồi hồi
Gốc cây lại vạch một bài cổ thi.

Bên cạnh hai chữ hai chữ Tam Bành của Đạo gia, bên nhà Phật cũng có hai chữ Lục Tặc. Theo đạo Phật, trên thế gian có sáu điều có thể làm con người bị mê hoặc để đi đến chỗ mù quáng sa ngã mà làm những điều lỗi lầm tệ hại. Sáu điều đó là: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. 
Sắc là sắc đẹp. Thanh là âm thanh, tiếng nói. Hương là mùi thơm. Vị là vị nếm. Xúc là sự đụng chạm nói về xác thịt. Pháp là mọi sự mọi việc. Bởi vậy người tu hành, nếu mắt không bị mê hoặc bởi sắc đẹp, tai không nghe lời đường mật, mũi không kể mùi thơm quyến rũ, lưỡi không thèm vị ngọt của sơn hào hải vị, xác không ham sự đụng chạm nhục thể, lòng không tưởng điều tà, thì chắc chắn tu sĩ đó sẽ tu thành chánh quả để trở nên bậc chân tu. Do đó đã có câu:

Muốn tu theo đạo di đà
Tam Bành Lục tặc lánh xa cho rồi

Nhưng trong phạm vi bài này, chúng ta chưa dám nói đến chân tu, chúng ta chỉ xin bàn đến sự vận dụng Tâm Thức sao cho tâm hồn được thanh tịnh và có ảnh hưởng tốt đến sức khỏe: Đấy là việc tu tâm dưỡng tính hay tu dưỡng tâm linh. Vẫn biết rằng sống trên đời va chạm với thực tế, chúng ta không thể nào tránh khỏi những phiền toái muộn phiền bởi đó là bản chất của cuộc sống. Thế gian chúng ta đang sống không phải là thiên đường, không phải là cõi tiên và ngàn lần cũng chẳng phải là thế giới Cộng Sản ảo tưởng chỉ có trong lý thuyết. Nói một cách chung, cuộc đời là bể khổ, chả thế mà Nguyễn Công Trứ đã viết:

Thoát sinh ra thời đà khóc chóe
Trần có vui sao chẳng cười khì?

Dĩ nhiên hai câu thơ này chúng ta nên hiểu theo nghĩa triết lý chứ đừng hiểu theo nghĩa khoa học. Đã đành khoa học giải thích là đứa trẻ lọt lòng mẹ phải khóc để tống chất nhớt còn trong phổi vàø để trực tiếp hít thở dưỡng khí oxygen, thoát khỏi sự nô lệ dinh dưỡng qua cuống nhau ( placenta). Nhưng chúng ta sẽ giaỉ thích ra sao nếu các động vật máu nóng khác như trâu bò, chó mèo…. lúc sanh ra sao chẳng hề phát một tiếng âm thanh nào từ lá phổi của chúng , mặc dù chúng cũng lần đầu tiên tiếp xúc với không khí bên ngoài sau khi lọt lòng mẹ? Vậy thì chúng ta cứ nên hiểu theo khía cạnh triết lý, cuộc đời là bể khổ, nên lúc sinh ra chúng ta đã phải khóc tiếng khóc đầu tiên, thay vì là tiếng cười hay sự im lặng. Đức Jesus Christ cũng đã chẳng chịu đóng đinh trên Thập Tự Giá để chuộc lỗi cho nhân loại hai ngàn năm trước đó sao? Và Đức Phật Thích Ca cũng thế, đã rũ bỏ những vàng son phú quýù mà Ngài đang có, để đi ngồi thiền dưới gốc cây Bồ Đề, tìm hiểu nguồn gốc sự khổ đau của loài người, rồi giác ngộ, tìm thấy đường giải thoát cho chúng sanh về nơi siêu linh tịnh độ. Ngài đã đi thuyết pháp suốt gần nửa thế kỷ mà đời sau đã ghi chép thành kinh kệ.

Vậy chúng ta nên đành chấp nhận cuộc đời là bể khổ, mà chấp nhận thì chúng ta phải đương đầu với những phiền toái, những ràng buộc và những đau đớn ê chề đó . Nhưng dĩ nhiên không phải là bất cứ giây phút nào chúng ta cũng khổ đau. Bởi vì một ngày chúng ta có những 24 giờ đồng hồ kia mà, chúng ta vẫn có thể, trước và sau giây phút khổ đau, có những giây phút khác an nhàn thoải mái. Vấn đề là chúng ta phải biết tìm kiếm những giờ phút thanh thản đó. Và điều cần biết là những giờ phút thanh thản ấy, chúng ta không nên kể những thú vui giải trí tầm thường có tính cách tạm bợ. Chúng ta hãy tìm đến những thanh thản có tính cách cao quý hơn, chúng tôi muốn nói tới sự tu dưỡng tâm hồn có mang tính cách triết lý và đạo lý. Đó là Thiền.

Thiền ( meditation) có thể hiểu là đem tâm hồn tìm đến tĩnh lặng để suy tưởng về đạo qua phương pháp hít thở thật sâu và chậm. Chữ đạo ở đây không nhất thiết phải là một tôn giáo nào, mà nên hiểu có khi chỉ là một khai lối đi đến sự vô vi thanh tịnh, đem tâm hồn thoát ra khỏi mọi phiền não và tham sân si của cuộc đời… Thời gian hành Thiền có thể nhiều ít tùy theo hoàn cảnh cá nhân của mỗi người, nhưng cần nhất là phải có sự kiên nhẫn, sự chú tâm và phải đều đặn hàng ngày.

Và nói đến Thiền là phải nói đến sự điều hòa hơi thở vì điêù hòa hơi thở là phương pháp hữu hiệu nhất chống lại sự âu lo ( anxiety) và chống lại những áp lực về tinh thần (stress). Khi ta hoàn toàn chú tâm đến hơi thở, đến luồng khí vận hành trong cơ thể sao cho đúng cách, nghĩa là thở sâu, thở chậm và thở đều hòa trong tĩnh lặng thì chúng ta sẽ đương nhiên thoát ra khỏi những âu lo, những stress hay gọi chung là tạp niệm đang làm khổ chúng ta. Đương nhiên thoát khỏi tạp niệm ? Chắc có người sẽ hỏi làm sao đương nhiên được? Xin trả lời: được lắm chứ. Bởi vì một lẽ rất giản dị là tâm thức chúng ta chỉ có thể làm được “ một việc” trong “một lúc”. Tâm thức không thể làm được hai việc khác nhau trong cùng một lúc. Hãy nhớ lại những khi chúng ta lo lắng về nhiều chuyện chẳng hạn như công ăn việc làm, nhà cửa, xe cộ, thuế má, vợ chồng, con cái ..v..v, tâm hồn chúng ta chỉ nghĩ được một chuyện trong một lúc. Xong chuyện này rồi mới tới chuyện khác. Bởi vậy mới có câu “suy nghĩ miên man”. Trong Thiền cũng thế, nếu chúng ta hoàn toàn chỉ chú mục vào phương pháp thở và hoàn toàn theo dõi hơi thở trong lúc thiền, thì tâm thức sẽ không còn chỗ để bị xao động bởi những tạp niệm. Tâm thức lúc đó chỉ còn biết về hơi thở mà thôi. Điều cần nhấn mạnh là khi thở thì phải thở phải thở như thế nào? Chúng tôi xin mạn phép được đề cập đến phương pháp thở của Thái Cực Thiền mà tiêu biểu là Thái Cực Thiền Hội SharpsTown ở Houston TX, do Giáo Sư Nguyễn Cao Thanh sáng lập và giảng dạy với Quán Niệm hơi thở như sau: 
– Đứng với hai bàn chân song song, rộng ngang vai, hai đầu gối chùng xuống, miệng ngậm, đầu lưỡi khẽ chạm vào hàm ếch trên, mắt nhắm lại.
– Giữ lưng thẳng, hai tay xuôi theo hai bắp vế với đầu ngón cái chạm đầu ngón tay giữa, lòng bàn tay hướng ra sau.
– Thở bằng bụng, khi hít vào thì thóp bụng vô và nhón hậu môn lên, khi thở ra thì phình bụng và nhả hậu môn. 
Giải thích: 
– Đầu lưỡi đụng hàm ếch trên là tim phổi liên hệ đến hung tuyến ( thymus , tuyến ở phía trên ngực, sau xương mỏ ác), cũng như đầu ngón tay cái chạm đầu ngón tay giữa là phổi liên hệ đến tâm bào.
– Thởù bằng bụng là bắt chước theo Thai tức, bắt chước theo tiên thiên hô hấp của thai nhi trong bụng mẹ. Khi thở ra, phình bụng và nhả hậu môn là cho khí hậu-thiên ra ngoài, còn khí tiên-thiên thì giữ lại, cho chạy từ hoành cách mô xuống đến đan điền ( huyệt nằm chừng một inch dưới rốn), rồi tới vĩ lư là đốt xương cuối cùng của cột sống. Khi hít vào, thót bụng lại và khép hậu môn, là cho khí tiên-thiên đi trở lên hoành cách mô để hợp với khí hậu-thiên, thành khí Thái cực. Thai tức lâu năm thuần thục sẽ chuyển thành Qui tức, thở như rùa sống tới 150 tuổi. 

Thở đúng phương pháp sẽ làm luân chuyển hai mạch Nhâm Đốc . (Trong những truyện võ hiệp của Kim Dung như Cô Gái Đồ Long, Anh Hùng Xạ Điêu, Tiếu Ngạo Giang Hồ hay Lục Mạch Thần Kiếm ..v..v.. , người học võ muốn đạt đến trình độ nội công và võ công đến mức thượng thừa thì phải được đả thông hai mạch Nhâm Đốc, chẳng hạn như Vô Kỵ, Quách Tĩnh, Lệnh Hồ Xung, Đoàn Dự…). 

Ngoài ra Thiền theo phương pháp Thái Cực gồm có 13 yếu quyết, trong đó yếu quyết đầu tiên và quan trọng nhất là “ An Thư Diện Mục” tức là nét mặt lúc nào cũng an vui thư thái, vì an vui thư thái biểu lộ: a) một thân tâm an lạc giúp cho hung tuyến họat động hữu hiệu để cơ thể chống bệnh, b) một đức tin mãnh liệt khiến tuyến tùng quả ở sâu trong não tiết ra kích thích tố, tăng cường hệ thống miễn nhiễm, giảm mức nhũ toan trong máu, c) một đức tính từ bi với trung tâm là hung tuyến, tiết ra chất thymosin, tạo nên bạch huyết cầu có thể phục hồi hệ thống miễn dịch nơi người mắc bệnh Aids, d) một tinh thần vô úy, không sợ hãi, vì giải thoát khỏi lòng sợ hãi là sống vô bệnh, là sống khỏe, sống hạnh phúc và sống có trí tuệ.( Còn vấn đề sinh tử là luật của tạo hóa, con người không thay đổi được ). 

Tóm lại, khi chúng ta hành Thiền, chúng ta sẽ rũ sạch hết mọi xao động của cuộc sống ra khỏi tâm hồn, rũ sạch mọi tạp niệm để tâm hồn được thanh tịnh trong sáng. Phương pháp thở của Thái Cực Thiền sẽ làm an tĩnh hệ thần kinh, làm nhịp tim chậm lại và làm giảm huyết áp. Do đó một sự hành thiền lâu dài và thường xuyên sẽ giúp trị được rất nhiều bệnh, có thể kể như bệnh phong thấp, bệnh tiểu đường, bệnh đau bao tử, bệnh viêm khớp, viêm cuống phổi, bệnh hen suyễn, bệnh cao máu, cao cholesterol… và có thể ngay cả những bệnh về tâm thần như bệnh mất ngủ, mất trí nhớ, bệnh trầm cảm( depression)… . Theo cuộc khảo cứu năm 1967 của Bác Sĩ Herbert Benson thuộc Đại Học Harvard trên 36 bệnh nhân có hành Thiền, thì Điện Não Đồ cho thấy cơ thể con người khi ngồi Thiền, não bộ sẽ phát ra những làn sóng Theta có tần số thật thấp với chu kỳ từ 4 hertz đến 8 hertz trong mỗi giây đồng hồ, đó chính là làn sóng thư giãn và an nghỉ của chúng ta khi nửa thức nửa ngủ. Người hành Thiền dùng 17 % khí Oxygene ít hơn lúc bình thường và nhịp tim giảm 3 nhịp mỗi phút. Do đó chúng ta sẽ không lấy làm lạ khi người đã hành thiền thường ban đêm không cần ngủ nhiều, lý do vì tâm hồn đã được nghỉ ngơi và thư giãn rồi. Tóm lại tất cả mọi hoạt động của cơ thể sẽ đều chậm lại, do đó các Stress hormones (ví dụ như Adrenaline của Nang thượng Thận) sẽ không tiết ra quá mức bình thường để trở thành độc tố có hại cho cơ thể khiến ta được khỏe mạnh và mau bình phục nếu có bệnh. 

Vì vậy có thể nói Thiền đã hướng dẫn Tâm thức đến nơi vô vi thanh tịnh và an dung tự tại. Lợi ích quan trọng của Thiền có thể coi như hiển nhiên là Thiền sẽ giúp chúng ta tránh được Stress, mà tránh được Stress là tránh được nhiều bệnh tật để được sống vui sống khỏe, sống thanh tịnh và an nhiên. Sự tu tập Thiền Quán rất bao dung và rộng mở, không phân biệt tín ngưỡng của mỗi người chúng ta. Cho nên dù là người Công Giáo, người Phật Giáo hay người Hồi Giáo..v..v, nếu muốn an dưỡng tâm hồn, xin chúng ta hãy cứ đứng hay ngồi, rũ sạch tạp niệm, tập trung tư tưởng vào hơi thở , hàng ngày đều đặn như thế , rồi chúng ta sẽ sống yên vui, có sức khỏe, có hạnh phúc và có trí tuệ.

Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài (++++)

Hai câu thơ của Nguyễn Du trong Đoạn Trường Tân Thanh đáng được để cho chúng ta suy ngẫm. Một lần nữa xin thưa là sau khi chúng ta đã có một ý niệm về Tâm Thức, và khi chúng ta thực sự muốn làm sao để sống vui, sống khỏe, sống có đạo đức và sống có trí tuệ, xin chúng ta hãy bỏ ra mỗi ngày ít nhất nửa giờ hay một tiếng đồng hồ để hành thiền với phương pháp hít thở của Thái Cực Thiền. Dĩ nhiên sự hành Thiền đúng nghĩa còn đòi hỏi nhiều điều sâu xa hơn, nhưng ở vào một mức độ bình thường, chúng ta chỉ cần cho tâm hồn lắng đọng, rũ sạch tạp niệm để rồi chú tâm điều hòa hơi thở và theo dõi hơi thở là tạm đủ rồi . Nếu chúng ta vì lý do nào đó mà ngại đứng hoặc không đứng được để thở như đã nói ở trên, chúng ta có thể tạm biến cải (xin được nhấn mạnh chữ “tạm”) bằng cách ngồi xuống theo thế kiết già Yoga, với hai bàn tay để ngửa trên hai đầu gối, và cần nhất, đầu ngón tay cái chạm phải đầu ngón tay giữa. Phương pháp hít thở này nếu được phối hợp với 108 thế Thái Cực Quyền (Tai Chi), hiện cũng đang được truyền dạy bởi G.S Nguyễn Cao Thanh, sẽ có những kết quả lớn lao và nhanh chóng hơn, trong việc tu dưỡng và trị bệnh. Thái Cực Quyền hiện nay đang được phổ biến rộng rãi khắp nơi trên thế giới và đang được hàng triệu triệu người luyện tập. Có năm trường phái Thái Cực Quyền nổi tiếng là của các quyền sư họ Trần, Dương, Ngô, Võ và Tôn ở bên Trung Hoa. Các chiêu thức của mỗi trường phái có thể khác nhau chút đỉnh nhung tựu trung cùng giống nhau trên nguyên lý là các động tác phải khoan thai mềm mại, khi hư khi thực, phối hợp với sự thả lỏng của cơ bắp, và nhịp điệu tiến thoái hài hòa cùng với hơi thở sâu và dài, khiến tinh thần trở nên sảng khoái và minh mẫn. Thái Cực Quyền ngày nay đang được biết đến như một môn thể dục dưỡng sinh trị liệu, không những chỉ rèn luyện thân thể mà còn tu tâm dưỡng tánh, phát huy được năng lực tiềm ẩn trong mỗi con người khiến cơ thể có thêm sức đề kháng, có tác dụng điều trị rất tốt đối với các bệnh mãn tính và đặc biệt làm chậm quá trình lão hóa nơi những người lớn tuổi. Điều cần nhắc nhở là chúng ta phải tập đều đặn và tập kiên trì. Đức khiêm tốn và kiên nhẫn sẽ giúp chúng ta thành công.

Ghi chú: 

( +) Lão Tử sinh cùng thời với Khổng Tử ở bên Trung Hoa, vào khoảng thế kỷ thứ sáu trước công nguyên. Một cách tổng quát, trong khi Đạo Khổng dạy con người trở thành Chính nhân và Thánh nhân thì Đạo Lão với thuyết Vô Vi Thanh Tịnh, dạyï con người trở thành Chân nhân. ( Nhĩ Ngã là “ anh và tôi”, ý nói hai bản thể khác nhau.)
(++) Sách “Thái Thượng Tam Thi trung kinh” của Đạo Gia tức Đạo Giáo, vào khoảng thế kỷ thứ hai trước công nguyên, thờ Nguyên Thủy Thiên Tôn (hay Nguơn Thỉ Thiên Tôn)
(+++) Canh Thân: là các năm âm lịch ngang với các năm dương lịch 60, 120, 240 và cứ tiếp tục như thế cho đến ….1920,1980,2040. 
(++++) Chữ “Tâm” trong hai câu thơ của Nguyễn Du mang ý nghĩa đạo đức như “lòng tốt” hay “hảo tâm”.

Trần Ngọc
Ngày cuối hạ Houston TX 2003



Thảo luận cho bài: "Thử Tìm Hiểu về Tâm Thức và Thiền"