THỰC TẾ ẢO

Tác giả:

Chương Ba


Chuyện bắt đầu từ trại Sáng kiến. Đúng hơn, bắt đầu từ một trăm năm mươi triệu. Không, bắt đầu từ một sợi dây. Chà! Dù có nói bắt đầu từ chiếc máy bay không được phép bay cũng chẳng sai.
Hoặc từ thứ hóa chất để xử lý rác trong bùn cống. Cũng có thể nói: từ con ếch, cái giếng và một mảng trời. Không. Nói chính xác nhất: bắt đầu từ… người kể chuyện này – nghĩa là từ tôi.

Bạn chịu khó một chút, hồ sơ nhân vật chỉ vỏn vẹn mấy dòng ngắn ngủi thôi. Tôi, hai mươi ba. Nhân viên tổ cắt thuộc Xí nghiệp X, Công ty may mặc Y, Tổng công ty may mặc và thời trang W. Không trải qua ngưỡng cửa đại học, vì tôi tự thấy mình không đủ sức.

Bạn hiểu đó, người ta có nhiều cách để đi vào đời. Trúng tuyển trong đợt tuyển dụng công nhân rầm rộ của X (không thân thế, không quen biết, không nhờ vả, không thư tay), vừa học nghề vừa tập sự ba tháng, chính thức làm hưởng lương từ tháng thứ tư.

Thợ cắt thì tất nhiên công việc của tôi là cắt. Đại khái bạn có thể hình dung: sử dụng những rập bìa (đã được tổ thiết kế mẫu làm sẵn) dùng phấn hoặc sáp can lên vải (nhiều lớp xếp dày), quay tới quay lui tùy ý sao cho tiết kiệm nhất, sau đó dùng máy cắt cặm cụi cắt theo đường vẽ… Quá tẻ nhạt phải không? Nên tôi tạm dừng tiết mục kê khai lý lịch mình tại đây để chuyển sang vụ sáng kiến.

Dù bạn chán thì vẫn cần phải biết đôi điều về máy cắt vải hiện nhà máy tôi đang sử dụng. Nó là một giàn khung kim loại cỡ vừa, nửa cơ khí nửa tự động. Bộ phận điều khiển được lập trình bằng một hộp có nhiều nút bấm, cần gạt.
Phần trụ lưỡi cắt giống như trục cưa đứng, có tay cầm để nâng, hạ bàn kẹp vải (chân vịt) phía trên, phối hợp với bàn inox đỡ vải (bàn lừa) phía dưới. Khi chỉnh dữ liệu xong và khởi động, lưỡi cắt sẽ vận hành, luồn lách tới lui theo đường vẽ. Ưu tư của tôi nằm ở lưỡi dao cắt. Nó mỏng, dẹp và dài vừa đủ, đảm nhiệm chức năng một lưỡi cưa nhỏ pha cắt những chi tiết trên vải. Mất thì giờ là ở những khúc gãy góc, lưỡi dao buộc phải bẻ quẹo, uốn cong, lạng lách vô cùng khó khăn.

Nhất là với những chi tiết nhỏ như cổ, tay, măngsét, đô áo, baghết, lưng, túi quần… nếu không dùng máy cắt cầm tay cắt riêng bên ngoài mà chỉ dùng máy cắt lớn thì cực kỳ khó bám sát đường vẽ. Có nghĩa sẽ mất oan uổng thêm một công đoạn can vẽ, gọt tỉa chi tiết trên vải của người thợ may ráp. Khoan, bạn đừng nản. Đừng nói việc quái gì phải quan tâm tới cái máy cắt chết tiệt của tôi. Tôi phải kể, vì nội dung chính của câu chuyện này liên quan tới nó.
Sau một thời gian miệt mài loay hoay cắt theo truyền thống cũ, tôi nảy ra một sáng kiến nhỏ: tại sao không thay lưỡi dao mỏng, dẹp và dài kia bằng một sợi dây cho đơn giản? Tất nhiên dây phải đủ dai, bền và sắc, để khi được căng thẳng sẽ không khác gì một lưỡi cưa hoàn hảo. Tôi nảy ra ý này từ những buổi ngồi quan sát thằng bạn (làm nghề gia công hàng mỹ nghệ, lưu niệm) cưa lộng những chi tiết bằng gỗ thông và sừng trâu.

Lưỡi cưa của nó thường xuyên phải luồn lách khúc khuỷu, uốn éo gấp nhiều lần so với mảnh dao cắt của tôi, nhưng giải pháp sợi dây đã gỡ êm mọi khúc mắc. Ơrêka, sợi dây là lối thoát! Tuy nhiên, tôi hơi tự ti một chút. Bạn thử nghĩ: tôi học hành không tới đâu, bày đặt tài lanh ra vẻ ta đây hiểu biết phát minh này nọ, lỡ người ta chỉ mặt “cười văng nước miếng”, chắc chỉ còn đường tìm kẽ nứt chui xuống…

Vậy rồi tới một bữa, tôi đọc được một bài viết trên báo. Kể về một anh nông dân chế tạo máy bay. Mục đích rất thiết thực: gieo hạt, phun thuốc trừ sâu, làm mưa tưới ruộng. Máy bay sau đó không được phép bay (và bị tịch thu) nên không ai biết có bay được hay không, nhưng dư luận xôn xao rõ ràng ủng hộ anh.

Cái hay của anh nông dân là ở chỗ dám làm những điều dám nghĩ. Rõ hơn, trường hợp khác: một anh công nhân nạo vét cống đã mày mò mất vài năm để chế tạo ra hợp chất “Phân hủy nhanh rác trong bùn cống – sử dụng nguyên liệu thiên nhiên”, được giải thưởng lớn của cuộc thi “Những phát minh xanh phục vụ môi trường”.

Trong buổi lễ trao giải, anh ta nói: “Tôi không quan trọng việc mình sẽ được giải thưởng, cái chính là sản phẩm của tôi có ý nghĩa hết sức tích cực và cụ thể với công việc mà tôi đang làm”. Từ đó, tôi đã phải bận tâm suy nghĩ rất nhiều, để rồi rút ra kết luận “không thể bỏ cuộc”. Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề ngổn ngang cần được giải quyết như kỹ thuật chế tác, giá thành sản phẩm, cách thức vận hành… Và nữa, nếu đâu đó trọn vẹn rồi, tôi sẽ phải đem công trình sáng tạo của mình đi trình cho ai?

Ông quản đốc phân xưởng tôi là một bậc trung niên uể oải nhất trong số các trung niên uể oải tôi từng biết. Châm ngôn sống của ông: “Chi mà mất công vậy?!”. Tôi không sao lý giải nổi vì sao người ta giao việc quản lý những con người trẻ trung, hăng say, nhiệt tình hừng hực cho một người chậm rãi, rề rà, uể oải tới mức đó!
Càng lạ hơn nữa, sống từng ngày trong bầu không khí sôi nổi, tuôn trào nhưng ông cứ ù lì, tuyệt nhiên không thèm thay đổi bản chất trì trệ của mình… Thắc mắc rồi tự trả lời: có lẽ họ (ban giám đốc) dùng ông như cái phanh để kìm hãm và phong tỏa bớt những loại ngựa non háu đá như chúng tôi? Chỉ biết rằng: khi tôi đem sáng kiến của mình lên thăm dò ý kiến ông thì nhận được câu trả lời quen thuộc: “Chi mà mất công vậy!?”.

Mất công thiệt chứ! Tôi đã cặm cụi tốn gần một năm để tìm cho ra những phương án tối ưu, cặm cụi áp dụng, cặm cụi theo dõi, cặm cụi chỉnh lý. Cho tới khi hoàn thành… Được rồi, bạn đừng nhăn mặt. Vì đây là một cái truyện – không phải bản giải trình chi tiết kỹ thuật, nên tôi sẽ không bắt bạn phải biết các thông tin tỉ mỉ có tính chất quá chuyên biệt.

Đại khái bạn cứ hiểu sợi dây máy cắt của tôi mang lại hiệu quả kỹ thuật và lợi ích kinh tế thiết thực gấp hai lần rưỡi lưỡi dao, nếu áp dụng đại trà sẽ tiết kiệm rất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc. Nhưng tất nhiên, ông quản đốc không nói mất công theo kiểu đó. Ý ông nghiêng về phía có sao để vậy, nói thẳng ra ông khuyên tôi khôn hồn thì đừng thay đổi, đừng cải tiến cải lùi làm chi cho mệt.

Tất nhiên tôi đâu cùng quan điểm với ông. Bởi nghĩ đã lỡ mất công rồi thôi để cho mất công luôn. Chưa nói làm việc gì mà bỏ dở dang nửa chừng tôi thấy khó chịu trong lòng lắm. Vậy là tôi tò tò đi gặp ông phó giám đốc phụ trách kỹ thuật để trình bày cho ông ta nghe về phát minh của mình (với ý nghĩ: cần phải tìm đúng cửa để gõ).
Có lẽ do tôi giỏi thuyết phục, hay vì ông phó này có tư tưởng tiến bộ hơn ông quản đốc, nên sau khi nghe xong, ông vỗ vai khen ngợi tôi. Vui hơn, ông đòi coi ngay sợi dây “đột phá” của tôi, và đòi tôi biểu diễn – cắt thử cho ông coi nhiều loại chi tiết khác nhau trên vải bằng máy cắt gắn dây thay vì gắn lưỡi. Tất nhiên tôi mừng húm đồng ý.
Bây giờ thì tôi ngồi trong cái trại Sáng kiến này. Ngồi không phải để phát minh ra sáng kiến, mà để nghỉ ngơi thư giãn và sảng khoái nhâm nhi thắng lợi của mình. Vì không như những người khác chỉ mới có đề án trên giấy, tôi tới trại khi đã có sản phẩm sáng tạo hoàn chỉnh trong tay, đã thực thi và kết quả đã được nghiệm thu.

Trại do Tổng công ty may mặc và thời trang W tổ chức hai năm một lần, lấy kinh phí từ nguồn tiền của Quĩ hỗ trợ những sáng kiến phục vụ cho ngành may mặc – thời trang (do Hiệp hội các doanh nghiệp dệt, may và thời trang tài trợ). Năm nay, nghe nói quĩ rót cho ban tổ chức trại một trăm năm mươi triệu đồng. Danh sách chính thức tám người, đa thành phần, đa trình độ, đa lứa tuổi.

Nói về trại Sáng kiến cũng có lắm chuyện hay. Đại khái xưa nay, với sự bàng quan cố hữu của người đời (theo kiểu “chi mà mất công vậy” như ông quản đốc phân xưởng tôi), từ từ, các nhà phát minh đâm chán nản, thui chột dần ý thức cầu tiến. Ai nấy an tâm với công ăn việc làm ổn định, sáng cắp ô đi chiều vác mũ về, chẳng thấy cần phải biến, chế này nọ làm gì cho đau đầu, nhức óc.

Mỗi lần các ông trong ban tổ chức xin được tiền từ quĩ để chia nhau, bói không ra một ai thật sự có sáng kiến. Chỉ toàn những đề cương, dự án, ý tưởng… mới nghe thấy rất vĩ mô, ghê gớm, hùng hổ; nhưng đọc kỹ thì vô bổ, chung chung. Thu hoạch xong chủ yếu cất kho, hồ sơ trong tủ dày từng chồng nuôi mập lũ mối. Nhưng không làm thì không có thành tích để báo cáo, không làm thì không có trại, và nói thẳng ra: không làm thì không có tiền chia nhau. Nên loại sáng kiến hữu ích như tôi trở thành của hiếm, và quí.

Dự trại tôi mới biết có rất nhiều sáng tác gia là những thành viên thâm niên ăn tiền mòn mép. Những đề tài sáng tạo của họ luôn lấy những tiêu đề uyên bác: “Cải tiến đồng bộ dây chuyền làm hàng quần áo xuất khẩu theo công nghệ EU phù hợp tình hình Đông Nam Á”, “Những ý tưởng táo bạo trong kỹ thuật chế biến da thuộc, đáp ứng việc sử dụng hàng da trong mọi điều kiện thời tiết trên 24 múi giờ”, “Sản xuất người máy công nghệ cao thế kỷ 21, thay thế công nhân may thủ công”…

Tôi thật sự khâm phục, trong kho chữ nghĩa hạn hẹp của tôi không thể tìm đâu ra những ý tưởng lớn lao cỡ đó. Họ là những nhân vật gây được sự chú ý, đăng đàn phát biểu trong lễ khai mạc, bế mạc trại luôn thu hút hàng tràng pháo tay giòn giã tán thưởng, được ban tổ chức đầu tư chiều sâu (tiền đầu tư cao). Dù như đã nói, khi kết thúc, nghiệm thu, những công trình vĩ đại của họ chẳng hề mang ý nghĩa thực tế.

Tôi như nốt nhạc sai khuôn, như bông hoa trồng lạc luống. Với tôi, trại là nơi nghỉ mát. Không được ăn được nói thì vẫn được gói đem về. Bất ngờ, qua một dịp tửu hậu trà dư, một phóng viên biết tôi. Anh ta đưa tin. Nối tiếp theo anh ta là hàng loạt báo khác. Lợi thế của tôi: hay, trẻ, lạ, mới. Lợi điểm sáng kiến của tôi: thiết thực, hữu dụng. Nào chân dung, nào phỏng vấn, nào ảnh chụp, nào bài đăng…

Tôi hả hê, vênh váo, xênh xang. Tôi được quá nhiều, được đủ thứ từ lợi tới danh. Tôi muốn học theo anh công nhân nạo vét cống của công ty vệ sinh (khi nói về phát minh xanh xử lý chất thải của mình) rằng danh lợi chẳng có nghĩa gì, nhưng tôi uốn lưỡi bảy lần vẫn không nên. Bởi lòng tôi đầy sự ham hố. Có danh thật sự rất thích, có lợi không thể không ham. Hơn hết, tôi thích được trở thành nhân vật trung tâm…

Mệt quá, không gì mệt bằng tự “tố khổ” bản thân. Nhưng câu chuyện của tôi vẫn chưa hết. Tan trại trở về, tôi sống lâng lâng trong không khí u mê, ngây ngất. Thật khó trở lại làm người bình thường sau một thời gian đột nhiên sống khác thường. Sống ầm ĩ vì nổi tiếng. Tâm trạng tôi bây giờ: chỉ muốn làm gì để lại tiếp tục gặt hái những danh và lợi như đã có. Môi trường xung quanh cũng tạo thành áp lực.

Từ nhà tới xưởng, từ cha mẹ, anh chị, lũ cháu tới hàng xóm láng giềng, từ bà con họ hàng tới đồng nghiệp, từ bạn bè tới người yêu… ai nấy đều phấp phỏng đợi chờ. Họ thật sự tin tôi sắp tung ra những tuyệt chiêu sáng kiến mới còn ý nghĩa hơn lần đầu gấp mấy. Nhưng những kẻ đố kỵ thì trề môi, nói tôi chỉ là con đom đóm cháy bùng, lóe lên một lần rồi vĩnh viễn tắt. Quả tình, đầu óc tôi ngày càng mụ mị, trống rỗng. Tôi như đi lạc trong mê cung tối mò, quanh co, cửa ra cửa vào đều bị bít kín.

Ông quản đốc phân xưởng trì trệ, ù lì thấy vậy rất khoái; thoải mái dồn vô đầu tôi hàng lố những câu “Chi mà mất công vậy!”. Còn ông phó giám đốc phụ trách kỹ thuật thì lạnh như băng, quăng cho tôi nguyên cục lơ to. Thật không thể tin: chính ông đã từng hân hoan tuyên bố khắp nơi rằng nếu không có ông đãi vàng ra tôi từ cát, à quên, đãi cát ra tôi thành vàng, thì làm sao thế gian biết được tôi chính là một ngôi sao.

Vậy đó, chuyện của tôi đến đây có thể coi như xong. Nhưng nếu bạn vẫn muốn biết tới tận cùng thì tôi xin kể nốt phần vĩ thanh. Sự thật là, khi đoàn chuyên gia kỹ thuật của công ty (do ông phó giám đốc – ân nhân của tôi làm trưởng đoàn) hồi cố hương sau chuyến công cán châu Âu, đem về hàng loạt máy móc vừa mua, thì sự thể bỗng trở nên khôi hài. Bởi lẽ, máy cắt vải bán tự động sử dụng lưỡi cắt bằng dây hợp kim chẳng phải là phát minh mới mẻ gì.
Bên ấy, người ta đã sản xuất ra loại sản phẩm này từ cuối những năm chín mươi – có đăng ký bản quyền quốc tế đàng hoàng, bàn dân sử dụng hà rầm. Chính bởi mù tịt thông tin nên tôi giống như con ếch lọt thỏm đáy giếng, cứ tưởng mình xênh xang phát hiện ra được châu Mỹ! Đã vậy, ở ta lại đang thời buổi cực lực lên án nạn sao chép, công luận liên tục phanh phui hàng loạt vụ việc “đạo” đủ trò, “cóp” đủ thứ… Hoàn cảnh tôi – tình tuy ngay nhưng lý thì gian, dù thanh minh tới mấy cũng không ai chịu tin, vì chỉ cần nghe cụm từ “bê nguyên xi ý tưởng của người khác” là mọi người sẽ ngay lập tức nổi cơn dị ứng.

Tiền đầu tư của trại sáng tác và hàng lô phần thưởng nhỏ, to tôi đã xài sạch trơn, vinh quang thì tôi đã hưởng. Nay bị dồn vô thế bí, tôi gân cổ cãi: “Nếu nhà máy không vô tư đem tiền đổi ngoại tệ rồi hì hục đi khuân những thứ máy móc lạc hậu phế thải về dùng, thì đâu ai cần phải bày ra cái sự cải tiến. May mà tôi chưa gửi hồ sơ lên Ủy ban Khoa học nhà nước xin cấp bằng sáng chế. Nếu không, chắc chắn không chỉ mình tôi ê mặt. Khối kẻ sẽ phải loay hoay tìm kẽ nứt để chui xuống, vì lỡ ào ào ủng hộ việc cấp cho tôi một mảnh bằng!”…

Đến hẹn lại lên, trại Sáng kiến năm nay dự định sẽ mở vào đầu tháng tới. Sáng hôm qua, tôi vừa nhận được thư mời tham gia. Người ta khuyên tôi ráng nghĩ cho được một đề tài nào đó thật vĩ mô (thực tế có sử dụng được hay không không phải là điều quan trọng), để sẽ đại diện mọi người lên “phát pháo” rổn rảng trong buổi khai mạc, gây khí thế xôn xao.

Tôi nghiền ngẫm hoài về trường hợp con ếch cứ cố phồng bụng lấy hơi để to được bằng con bò. Lại thấy mình giống con bò ảo đang ráng xì hơi ra để làm sao cho nhỏ lại bằng cỡ như con ếch ban đầu…

Thảo luận cho bài: "THỰC TẾ ẢO"