Thuỷ chung

Tác giả:

"Chị Hương kể chuyện chị Hai."
"Kể sao?"


Ông Hai khiêm nhường nhưng tự hào. Làm sao mà một người vừa khiêm nhường vừa tự hào. Bình thường khiêm nhường khi nhậu thì hay: đừng tưởng thằng Hai này nghèo mà khi dễ, thằng này chưa biết lừa lọc ai, lường gạt ai, chưa làm điều gì thất nhân để ai phiền luỵ, mà cũng chưa mang ơn mang oán gì ai. Kiểu như vậy!


Mà ổng làm ăn chí thú, nhiều con gái theo lắm! Rồi bà Hai không ghen à! Ghen gì. Ổng đâu thèm bà nào đâu. Ổng qua Mỹ này mười năm mới làm đơn bảo lãnh vợ con, rồi mười năm sau vợ con mới qua được. Là con Hạnh được hai mươi tuổi, hai má con bà Hai mới qua Mỹ được đó. Sao lâu vậy?


Đoạn Nachez Trace Parkway gần sông Mississippi này kém thích thú mặc dù phong cảnh vẫn đẹp. Đường ít quanh co hơn, cũng chẳng lên đồi xuống dốc nhiều. Thỉnh thoảng lại vài con rùa chầm chậm băng qua đường bất kể xe cộ. Rùa nó ngu hén!


Hồi xưa chị Hai con nhà giàu dưới quê. Quê nào? Gò Công, nhà có ghe đi biển. Ông Hai đi làm công, hình như ổng mồ côi, không họ hàng ngoại trừ gia đình một bà má nuôi. Cũng nghèo. Ổng đi ghe cho ba má chị Hai. Chị Hai hỏng biết sao đem lòng thương ổng, bỏ ba má theo ổng luôn. Chuyện giống như cải lương mà có thiệt. Sao cưng biết có thiệt? Thì chị Hai kể cho chị Hương, chị Hương kể cho em.


"Ok! Rồi sao?" Chuyện kể có vẻ thích thú như cảnh hai bên đường.


Hai người ra một cái chòi lá với bả một bộ đồ trên người, ổng một cái quần đùi và bộ đồ bà ba để đi ra ngoài. Trong chòi hàng xóm cho được tấm ván làm giường. Đêm ngủ ông Hai phải ôm hết người chị Hai để mong dùng thân mình giữ chút ấm cho vợ. Má chị Hai nhắn hàng xóm kêu chị Hai về sẽ tha cái tội theo trai. Chị Hai ở lì. Bả nổi máu xách đòn gánh qua tính là đập lên đầu đứa con gái ngu cho chết luôn, nhưng ông Hai nhào vô đỡ đòn, bả lên cơn, thấy đập thằng dụ con gái mình có lý hơn nên đập dữ hơn nữa. Xong cơn thịnh nộ lưng ông Hai bầm dập cả tháng. Chị Hai thương chồng khóc miết.


Khi cái bầu con Hạnh lớn qua khổ cái quần của chị Hai, ông Hai phải hy sinh bộ bà ba của mình cho vợ luôn. Thế là ổng chỉ còn cái quần đùi. Tới kỳ sanh nở, ông Hai đi vòng hàng xóm hỏi han làm cách nào đỡ đẻ cho vợ. Nào là kiêng cử, nào là lò than; đun nước, xức dầu, bóp chân. Ổng làm ráo. Trời thương, mẹ tròn con vuông. Con Hạnh càng lớn càng xinh, nửa giống má, nửa giống ba. Đẹp hết sức.


Một sớm, hồi con Hạnh được ba tháng, ông Hai nựng má hai mẹ con để đi biển. Chị Hai đêm thức dỗ con khóc nên có dậy trễ, định bụng chiều chồng đem cá bỏ về chỉ sẽ nấu miếng cháo ăn cho có sữa. Tối hôm cũng không thấy chồng về chỉ đã nóng lòng. Sáng hôm sau cũng hỏng thấy càng nóng lòng hơn. Chỉ bồng con đi vòng hàng xóm hỏi thăm thì nghe cả nhà chủ tàu cũng không thấy đâu. Người ta nói cả ghe đi vượt biên. Từ đó hai vợ chồng biệt tăm tin tức.


Ông Hai vượt biên mà không biết mình đang vượt biên, khi biết thì sự thể đã rồi. Ổng qua Mỹ không liên lạc được với vợ vì chị Hai ở chòi làm gì có địa chỉ. Ông Hai có gởi quà về cho vợ con nhưng không được tin tức gì. Chị Hai cũng biệt tăm chồng, ở vậy nuôi con đến cả mười năm. Chỉ cũng nghe phong phanh chồng mình thoát chết và đã đến Mỹ, nhưng tin tức chỉ là chuyện mơ hồ. Chị Hai trông đẹp gái nên thanh niên trong xóm cũng hay dòm ngó. Ai cũng khuyên chỉ lấy chồng khác đi, nhưng chỉ không nghe. Ba chỉ thương con quá thỉnh thoảng dấu vợ đem chút gạo, bộ đồ ra chòi cho con gái; khuyên con về nhà xin lỗi mẹ, chỉ cũng không về luôn. Lì!


Mỗi lần ông Hai gởi quà và tiền bạc về cho vợ con ổng cũng nhớ gởi chút đỉnh cho gia đình bà má nuôi. Tại chị Hai ở chòi, ông Hai không làm sao liên lạc được nên có nhắn bà má nuôi đem quà qua cho vợ mình. Làm như vậy dù buồn ông cũng cảm thấy an ủi đôi phần, tự hứa nếu có dịp là ông về bảo lãnh hai mẹ con qua Mỹ ngay. Trong lòng cũng có chút nghi vấn không biết vợ mình có chờ mình không hay đã lấy chồng khác.


Rồi cả hai bên, ổng bên Mỹ chỉ và con gái bên nhà, chẳng ai được tin tức ai.


Lần đầu ông Hai về Việt Nam, ổng mới khám phá ra là bao nhiêu quà cáp tiền bạc phần của chị Hai gia đình bà má nuôi dã tâm lấy hết. Bà con chòm xóm trách ổng sao qua Mỹ sung sướng để quên hết vợ con. Ổng sùng máu qua nhà bà má nuôi chửi cho một trận tơi bời, rồi đem hết phần quà cáp của nhà bà má nuôi đem cho hàng xóm. Sùng máu.


Lần đầu tiên này cũng nhằm sinh nhật con Hạnh mười tuổi. Ổng làm một bữa tiệc linh đình đãi hết làng xóm. Bữa tiệc còn lớn hơn là đám cưới con gái nhà giàu. Tốn hết cả trăm đồng đô. Mà ổng bả đâu có đám cưới gì đâu. Chị Hai thương rồi theo ổng mà. Nhớ hông? Một cách trả thù cái nghèo!


Những năm sau, ổng mỗi năm mỗi về. Ông mua xe dream cho con, cất nhà mới cho vợ trong thời gian làm thủ tục bảo lãnh. Cái vụ bảo lãnh cũng trần ai khoai củ. Hai người đâu có hôn thú. Khai sanh của chỉ thì rút tuổi. Tính ra khi sinh con Hạnh chỉ mới có mười lăm mười ba gì đó. Bà con thấy thương, xúi ổng làm đám cưới lại, ổng cứng đầu lý luận ổng chỉ cưới vợ một lần, và sự thật vẫn là sự thật.


Chị Hương nói cuối cùng không biết nghe ai xúi phải thử máu con Hạnh, và máu ổng để chứng minh là cha con. Anh biết sao hông? Gia đình đoàn tụ. Hay hén!


Hồi chị Hai mới qua Mỹ, mấy bà cũng còn gọi điện thoại tới ông Hai hà rằm. Ổng cũng đâu có tha thiết gì nhưng theo phép lịch sự ổng cũng phải nói chuyện. Trong lòng tự hào của ông Hai ổng chỉ nghĩ cũng bà con, hàng xóm, bạn đi biển thôi. Đâu có gì, miễn là lòng mình ngay thẳng. Ổng bên Mỹ một mình cả mười năm chớ hề mê ai. Chị Hai cũng tủi nhưng có khi nào nói với chồng. Có một lần đang xi xô trên điện thoại với bà nào đó, ổng thấy chị Hai rướm hai dòng nước mắt, ổng chợt tỉnh và không bao giờ bắt điện thoại nữa.


"Chuyện vậy thôi à?"
"Chuyện cũng chẳng có gì, nhưng là người mình biết thì thấy cũng ngộ anh hén."
"Sao cưng biết nhiều chuyện vậy?"
"Thì hai chỉ kể em nghe."
"Thôi lấy cháo ra ăn đi, anh đói rồi."


Nếu cứ vận tốc tà tà này còn khoảng hai tiếng thì đến cuối đường của Nachez Trace Parkway.

Thảo luận cho bài: "Thuỷ chung"