Tìm Ngựa

Tác giả:

Hồi đó, gần Tết Nhâm Ngọ, ông Thất Cừ ở kinh đô về cỡi con ngựa ô tuyệt đẹp. Một tối ông ghé nghỉ lại quán trọ bên đường, sáng dậy thì con ngựa ông biến mất. Dò theo các dấu chân ngựa, ông Thất tìm đến một ngôi nhà nhỏ ven rừng. Ngôi nhà xác xơ cô độc, khiến ông nghĩ tới sào huyệt bọn cướp. Lúc đó, trời đã đứng bóng, ông Thất bụng đã đói mèm. Ông tới sát vách, ghé tai nghiêng mắt nhìn vào bên trong. Gian nhà trống trải, chỉ chiếc giường tre ọp ẹp trên đó một người nằm ngủ say vùi, tiếng ngáy kêu ồn như tiếng cưa gỗ. Ông Thất gọi cửa. Hồi lâu, người kia mới bừng tỉnh giấc. Dụi mắt, vươn vai, anh ta lảo đảo bước ra, chống cửa mời ông Thất vào. 
Ông Thất vội nói: 
– Tôi đến đây làm phiền anh, là vì tôi mất con ngựa trong đêm vừa rồi. 
Chủ nhà, một người gầy ốm, với đôi mắt sáng và chiếc miệng nhỏ nhìn xéo ông Thất mà không nói một tiếng nào. 
Ông Thất lại tiếp: 
– Kẻ đã sơ suất bị trộm lấy mất đồ vật phải chịu thiệt thòi. Đáng lẽ thì tôi không được quyền hỏi đến anh, nếu tôi không nhìn thấy dấu chân ngựa của tôi đi vào nhà này. 
Người kia vẫn trầm ngâm một lúc lâu, rồi chậm chạp nói: 
– Kể ra đôi mắt của ông khá tinh, nhìn ra dấu ngựa trên nửa ngày đường bụi cát không phải là chuyện dễ dàng. Vậy xin hỏi thiệt: bây giờ ông muốn thế nào? 
Ông Thất đáp ngay: 
– Muốn chuộc lại con ngựa ấy. 
Người chủ nhà đáp: 
– Chậm quá. Ngựa đã bán rồi. 
– Bán ở nơi nào? Tôi sẽ tìm đến. 
Người chủ nhà nhíu mày bảo: 
– Ông có sẵn tiền nên mua ngựa khác mà dùng, chuộc làm gì thêm phiền phức. 
– Nhưng đó là con ngựa quý, tôi đã nuôi lâu. Vật đã quen người, không thể nhất đán xa lìa mà không tìm cách thâu hồi trở lại. 
– Chắc là ông chưa ăn trưa? 
– Thú thiệt là chưa. Quanh đây không tìm thấy quán xá nào. 
– Còn ít cơm nguội và mắm để dành buổi chiều. Ông có thể ăn đỡ đói. 
Chủ nhà lại xuống lúi húi dọn cơm. Ông Thất ngồi nhìn căn nhà vắng vẻ, trống trải, nghĩ ngợi lan man về người đã lấy trộm ngựa của mình. Nhưng quá đói lòng nên khi chủ nhà vừa bưng cơm lên, ông không đợi mời tới tiếng thứ hai, cầm đũa ăn liền. Bữa cơm quá mức thanh đạm nhưng chưa bao giờ ông Thất ăn ngon như vậy. Uống một bát nước chè tươi để thêm no bụng, ông ngả lưng ra trên giường, gối đầu trên chiếc gối gỗ, lim dim tìm giấc ngủ trưa. 
Thiếp được một giấc, và thấy đã bớt nhọc mệt của chuyến đi tìm vất vả từ sớm, ông bèn ngồi dậy. Chủ nhà ngồi im dưới đất, dựa lưng vào cột, phì phèo một điếu thuốc lớn. Ông Thất xẵng giọng: 
– Thế nào? Con ngựa tôi đâu? 
Chủ nhà nhìn ông, trả lời: 
– Đã nói bán rồi. 
Ông Thất hùng hổ đứng lên, nói lớn: 
– Tôi bảo cho tôi chuộc lại kia mà. 
Chủ nhà vẫn cứ ngồi yên không đáp. Ông Thất giận dữ la lên: 
– Hay thiệt! Ngươi đã ăn cắp ngựa quý của ta, đã chịu thú nhận như vậy, rồi khi ta thấy cảnh ngươi nghèo đói muốn bỏ tiền ta ra chuộc lại, ngươi vẫn làm thinh là nghĩa lý gì? Coi thường luật pháp như nhà ngươi đây là quá lắm rồi. 
Chủ nhà bỗng cười to lên, đáp lại: 
– Ông đừng nổi nóng, vô ích. Đáng lẽ ông phải hiểu rằng ta không thèm chối chuyện ăn cắp ngựa từ đầu, bởi ta không phải là hạng chuyên nghề ăn cắp. Nếu cần nói cho ra lẽ, thì dấu chân ngựa của ông vào đây chưa phải là lý do chắc để ông nhất quyết là ta ăn trộm. Ai cấm kẻ gian cỡi con ngựa quý của ông ghé vào xin nước, xin cơm, như ta sẵn sàng để thết đãi ông vừa rồi? 
– Nhưng ta bảo thật , ta cần tìm con ngựa, dù phải trả bằng giả nào. 
– Vậy thì ông cứ tự tiện tìm ngựa, nào ai có cản ngăn đâu? 
Ông Thất không nén được giận, nhảy đến toan nắm lấy cổ người kia kéo dậy thì gã gạt tay ông ra, chồm lên: 
– Được lắm . Ngươi thắng nổi ta, thì cho ngươi lại con ngựa. 
Hai người hăm hở xông tới, hươi quyền đánh nhau. Trong ngôi nhà chật, họ phải áp tới loạn đả và cả hai người ban đầu còn tỏ đôi chút dè dặt để dò sức nhau, dần dần chính sự va chạm mạnh mẽ ở trên cơ thể khiến họ được đốt nóng lên, quyết ăn thua đủ. 
Nhưng hai đối thủ thật là cân sức nên sự thắng bại khó quyết định được. Họ im lặng tấn công nhau, dùng các ngón nghề thành thạo để mà giành lấy ưu thế. Ông Thất tinh thông võ nghệ nhưng các đòn đánh không lanh, không chắc như người chủ nhà, ngược lại các thế đánh của chủ nhà đều bị ông Thất ngăn chận. Cuộc đấu kéo dài khá lâu, hai đối thủ đã mệt nhoài và đến một lúc họ dừng tay lại để thở. 
Người chủ nhà nói: 
– Vậy thì ông chưa thể lấy lại con ngựa quý. 
Ông Thất đáp lại: 
– Được lắm. Ta sẽ tiếp tục. 
Cả hai lại xông vào cuộc giao đấu. Bây giờ ông Thất quyết dùng các ngón độc hiểm để hạ tên trộm gan lỳ, nhưng tất cả ngón bí truyền của ông vẫn không thể nào quật ngã được hắn. Có lúc ông dùng song phi tới tấp theo kiểu liên hoàn tưởng quật ngã nhào được gã, nhưng lúc ông toan áp đến khóa chặt gã nằm dưới đất thì gã đã lanh hơn một con sóc trườn mình nhổm dậy hươi cả song quyền vào bụng của ông. Càng tiếp tục cuộc giao đấu, ông Thất nhận thấy gã ăn trộm ngựa là tay bản lĩnh cao cường và gã không dùng một ngón đòn nào thật là ác độc để triệt hạ ông. 
Họ đánh nhau đến chiều thì mệt rã rời. Hai người chỉ còn thủ thế nhìn nhau, chờ đợi đối thủ sơ hở để mà tấn công. Bên ngoài hoàng hôn xuống mau giữa chốn rừng cây vắng vẻ, và tiếng bìm bịp, chào mào kêu vang trong các bụi rậm, nhớn nhác chờ đón đêm về. Trong nhà, hai người không còn nhìn rõ nhau nữa. Đó là hai cái bóng đen vờn nhau, tiếng thở hào hển mỗi lúc mỗi vang to hơn. Cuối cùng, gã chủ nhà bảo: 
– Trời đã tối rồi, chúng ta hãy tạm nghỉ đã. Tôi còn phải lo cơm nước cho hai chúng ta. 
Ông Thất không mong đợi gì hơn cuộc hưu chiến. Ông buông tay, đến ngã người trên chiếc giường, kéo áo lau lớp mồ hôi dầm dề trên mặt. Người chủ nhà chậm chạp xuống bếp thổi lửa, đốt một bó đuốc dầu chai cắm giữa gian nhà. Đoạn, hì hục nấu cơm tối. Ông Thất thiếp đi một giấc mê mệt rồi nghe gọi dậy. Chủ nhà đã đặt mâm cơm dưới đất, cạnh ngọn đuốc sáng và mời ông lại. Trên chiếc mâm gỗ cũ kỹ chỉ có một chén mắm lớn, một ít rau rừng luộc chín, cạnh một nồi cơm. 
– Mời ông dùng tạm bữa cơm nghèo khó. Chắc ông đã quen với món cao lương, khó lòng dùng mãi các thứ đồ ăn thanh đạm thế này. 
Ông Thất cố giữ vẻ mặt tự nhiên, đáp lại: 
– Chủ nhà có lòng cho ăn là tốt lắm rồi. 
Và ông ngồi lại, ăn khá ngon lành. Vừa im lặng nhai cơm nóng với món rau rừng chấm mắm, ông tự hỏi thầm: "Quái, sao tên trộm sống nghèo khổ thế này? Món tiền bán ngựa vừa rồi hắn đã làm gì?". 
Hai người ngồi ăn, không ai nói chuyện với ai lời nào. Cơm nước xong rồi, ông Thất lại giường ngồi nghỉ. Chủ nhà đã vấn cho ông một điếu thuốc khá lớn đặt trên chiếc đĩa, để ở đầu giường. Đợi cho ông Thất hút tàn gần nửa điếu thuốc, gã nói: 
– Bây giờ đã tối, cơm nước đã xong, ông muốn chúng ta tiếp tục đấu nữa hay là chờ đợi ngày mai? 
Ông Thất yên lặng suy nghĩ, rồi móc túi bạc đặt ở trên giường. Ông nói: 
– Dù có đấu sức suốt cả đêm nay ta chắc cũng không làm sao phân được thắng bại với anh. Coi như là tài võ nghệ của ta không sao giúp ta đoạt được lại con ngựa quý. Vậy ta bằng lòng đem tiền để chuộc, anh cứ ra giá cho xong. Ngặt con ngựa ấy là vật kỷ niệm cha ta lưu lại, nếu không ta cũng sẵn sàng cho đứt luôn anh, chẳng phải mất tiền chuộc lại làm gì. 
Gã chủ nhà đáp: 
– Tôi không phải sống bằng nghề trộm đạo. Ông coi, một tên trộm cướp không phải cực khổ thế này. Một con ngựa quý của ông cũng đủ cung cấp rượu thịt cho tôi suốt mấy tháng trường, can chi lại ăn rau rừng với mắm cho khổ tấm thân. Nhưng nghề đốn gỗ của tôi không lấy gì làm thong thả. 
Ông Thất bèn hỏi: 
– Vậy ngựa tôi đâu? 
Gã chủ nhà đáp? 
– Được rồi, ông cứ ngủ lại. Ngày mai, ông sẽ có ngựa cỡi về. 
Ông Thất do dự giây lát, rồi hỏi: 
– Anh không phải là trộm cắp, sao lại có ngựa để giao cho ta? 
Gã chủ nhà có vẻ buồn, trả lời: 
– Chính tôi là kẻ cắp nhưng tôi không sống bằng cái nghề này. 
– Ta thực chưa hiểu ý anh thế nào… 
Gã chủ nhà đi tìm chiếu, trải dưới nền đất cạnh cây đuốc sáng và nằm dài ra phì phèo điếu thuốc. Ông Thất cũng nằm trên giường nghiêng nhìn phía gã, chờ đợi một câu trả lời. 
Lâu lắm không thấy gã nói tiếng nào ông bèn gợi hỏi: 
– Sao anh không chịu lấy món tiền chuộc của ta. 
Gã chủ nhà đáp: 
– Lấy để làm gì? Tôi mến tài năng và đức độ của ông, nên phải nói hết sự thật để cho ông nghe. 
Và gã bắt đầu kể chuyện… 
Gã có người bạn là một thợ rừng bị cây đè ngã ở trong hốc núi. Nhà nghèo, bệnh nặng, bạn gã không sao chạy nổi thuốc thang. Cảm thương cảnh ngộ của bạn, gã tìm mọi cách giúp đỡ nhưng không biết phải xoay xở thế nào. Biết tên Chánh Tổng trong vùng thích ngựa, gã nảy ý kiến ăn cắp một con ngựa tốt để bán cho y. Một tối, tìm đến quán trọ bên đường, gã bỗng gặp con ngựa ô của ông Thất Cừ. Nghĩ rằng người cỡi ngựa quý không phải là hạng nghèo nàn – lấy mất của nó, thì nó tìm mua ngựa khác – gã đã lẻn vào trong chuồng giữa lúc đêm khuya, mở dây, dắt ngựa ra đường, cỡi phóng như bay. Sáng đến, đem bán cho tên Chánh Tổng lấy đúng năm trăm quan tiền. Cả số tiền ấy, gã đã đem giúp người bạn nghèo khổ lâm nguy. 
Người chủ nhà tiếp: 
– Tối nay, tôi sẽ giở trò trộm đạo một lần thứ hai để mang ngựa về cho ông. 
Ông Thất bèn nói: 
– Rất tiếc là ta không còn đủ số năm trăm quan tiền. Túi bạc mà ta mang theo chưa đến nửa phần giá ấy. Nếu có, ta sẽ giao hết cho anh đem chuộc lại con ngựa kia cho khỏi ân hận trong lòng. 
Người chủ nhà ngồi dậy, nhìn ông Thất Cừ với một vẻ mặt xúc động rồi tiến đến gần bên ông chắp tay thưa rằng: 
– Xin cảm ơn ngài. Thực là ít có một người hào hiệp như ngài. Dù có đủ số tiền ấy, ngài giao tôi cũng chẳng dám nhận lãnh. Một là viên Chánh Tổng kia mua được ngựa quý, giá hời, lão đâu chịu cho chuộc lại? Của tốt vào được trong kho nhà giàu, dễ gì đã được buông ra mà không đem lại món lời gấp chục, gấp trăm. Hai là tôi không muốn người bạn tôi phải chịu ơn ngài. Anh ta nghèo khổ nhưng rất trong sạch, lại quá khí khái đâu muốn nhận số tiền của kẻ lạ mặt. Bởi ngài chuộc ngựa là coi như cho gia đình anh ta cả món tiền kia. 
Ông Thất Cừ nói: 
– Sao lại không thể coi đó là tiền mà ta cho mượn dài ngày? 
– Mượn mà biết không trả được, có khác gì là xin xỏ hay cướp giật đâu. Ngài đừng bận tâm. Khuya nay, tôi sẽ lẻn vào bắt lại con ngựa cho ngài. Viên Chánh Tổng kia giàu quá, lấy bớt năm trăm quan tiền cũng chẳng hề gì. Trong khi người ta lâm nạn chờ chết, đến van xin nó cũng chẳng có được đồng nào. 
– Nhưng viên Chánh Tổng có biết rõ mặt anh không? 
– Cũng ở trong vùng, biết nhau rõ lắm. 
– Vậy anh lấy lại ngựa rồi, hắn gặp phải nghi ngờ anh, đâu có sống yên đây được. 
– Từ tối, tôi có nghĩ đến điều này. Chắc tôi sẽ phải trốn đi nơi khác. 
Ông Thất đỡ gã chủ nhà cùng ngồi xuống giường với mình, thân mật nói rằng: 
– Một người tốt lòng với bạn như anh bao giờ cũng tốt với những bạn khác. Mong rằng tôi sẽ được anh coi như là bạn, kể từ đêm nay. 
– Xin cảm tạ ngài. 
– Đừng gọi bằng ngài. Chúng ta đã là anh em cứ gọi nhau bằng thứ bậc ở trong gia đình. Tôi là thứ năm. Còn anh thứ mấy? 
– Dạ, tôi thứ tám. 
– Chú Tám, nếu chú liệu không thể sống ở đây được nữa hãy về quê anh mà cùng nương tựa với nhau, đừng ái ngại gì. 
Ông Thất nói rõ quê quán chức vụ của mình cho người bạn mới hiểu rõ. Chủ nhà tỏ vẻ hết sức xúc động trước tấm lòng tốt của khách. Cả hai chuyện trò khá lâu, cho đến gần khuya thì ông Thất giục: 
– Chú hãy nằm nghỉ giây lát rồi chúng ta cùng lên đường. 
– Không, anh để tôi đi một mình. 
– Đâu được. Chú đã cho biết nhà viên Chánh Tổng hào sâu, thành dày, gia đình đông đảo, chú đi một mình có thể gặp sự cố khó khăn. Chúng ta đã là anh em, lẽ nào lại để chú đi vào nơi nguy hiểm một mình. 
Ông Tám cảm động trước những lời nói chí tình, đáp lại: 
– Đã làm phiền anh, còn nhọc đến anh làm gì. Em phải chịu phần trách nhiệm đem con ngựa về. 
Ông Thất nghiêm sắc mặt bảo: 
– Chú nói như vậy, anh không bằng lòng. Anh có bổn phận với chú, đừng nên thắc mắc bận tâm gì hết. 
Ông Tám đáp lời: 
– Vậy thì mời anh lên đường, vì còn xa lắm. Nghỉ ngơi e lại trễ mất. 
Cả hai cùng giắt vào mình một thanh đoản đao, uống thêm ngụm nước chè nguội rồi tắt lửa, mở cửa, đi vào đêm tối. Ông Thất im lặng theo sau người em kết nghĩa, nghĩ thấy mọi sự xảy ra là một run rủi kỳ lạ đã đưa đẩy ông, một người lương thiện có chút phẩm trật ở trong làng nước thành một kẻ trộm, và ăn trộm chính con vật của mình! 
Sang đầu canh ba hai người đi tới một vùng đất cao, cây cối rậm rạp. Ông Thất nhìn được trong bóng đêm dãy tòa nhà sừng sững trước mặt; chung quanh có thành lũy cao. Ông Tám ghé vào tai ông, bảo nhỏ: 
– Đây là nhà viên Chánh Tổng, dinh cơ của lão nằm trên sườn đồi, nhìn xuống phía trước là đồng ruộng lớn. Tất cả ruộng đất ở đây đều thuộc về lão. 
Ông Thất nghĩ thầm: "Làm Chánh Tổng như tên này có khác gì làm vua đâu. Hẳn là mồ hôi, xương máu của dân bị nó vơ vét cuốn hút đã quá nhiều đời nên mới có một sản nghiệp lớn lao như thế". Ông Tám bảo thêm: 
– Anh nên cẩn thận. Bây giờ phải lội qua một hào sâu mới đến chân thành. Leo được tường rồi, phải qua mấy dãy sân rộng mới đến khu vực nhà ở. Chó săn của lão nhiều lắm mà gia đình cũng đông đảo. 
– Thế chú biết rõ chuồng ngựa của lão nằm ở đâu không? 
– Dạ không. Mua bán vật gì chỉ đến gặp lão ở nơi tiền đường, không phải tâm phúc đâu có vào trong ấy được. 
– Chúng ta sẽ tìm, đừng ngại. 
Hai người lặng lẽ cởi đồ, đội lên đầu, rồi cùng men xuống bờ hào, nhẹ nhàng lội qua vùng nước lạnh buốt và sang được bờ bên kia. Mặc quần áo xong, cả hai men theo bờ tường đi về phía sau. Theo sự suy luận của ông Tám thì các cửa hậu bao giờ cũng kém kiên cố hơn là cửa tiền và chỉ có bằng lối ấy mới lọt vào được bên trong. Tới nơi, cả hai hợp sức dùng đao mới đẩy bật được cánh cửa. Hai người lách vào, bò rạp xuống đất men theo bờ tường bên trong để tìm chuồng ngựa. Cứ được một quãng, ông Tám lại ghé tai sát xuống đất nghe ngóng. Khi vừa đến sau một dãy nhà dài, có lẽ là dãy kho thóc, ông Tám vội ngồi thụp xuống và kéo ông Thất ngồi theo. Có tiếng người đi và tiếng chó hực, gầm gừ đánh hơi người lạ. Giây lâu, không thấy động tĩnh gì nữa, cả hai lại cùng nhổm dậy, lom khom bước tới. Đêm tối làm cho họ bước khá chậm. Cuối cùng ông Tám ghé sát ông Thất, bảo nhỏ: 
– Đến chuồng ngựa rồi. 
– Thật hả? Sao biết ? 
– Có tiếng ngựa hí, tiếng chân đạp trên nền đất. 
Ông Thất áp tai xuống đất nghe ngóng hồi lâu: 
– Quả chú tài thật. 
Hai người lần mò đi một quãng nữa, quanh co qua các dãy nhà. Mùi rơm cỏ, mùi phân, bao nhiêu là mùi ẩm mốc bốc nặng trong đêm giúp cho lỗ mũi hai ông thay thế được cặp mắt nhìn một cách khá rõ. Lát sau, họ đến chuồng ngựa. Nhẹ nhàng, ông Tám lấy dao nạy cửa. Nhiều tiếng ngựa hí vang lên trong đêm tối dày. 
Ông Thất kéo ông Tám lại: 
– Chú gác ngoài cửa, để tôi đi vào. Ngựa tôi quen chủ, tôi dễ tìm hơn. 
Ông Tám vâng lời. Đứng im một lát cho bầy ngựa bớt náo động và cặp mắt quen bóng tối đông đặc bên trong, ông Thất rón rén đi vào. Quả con ngựa ô đánh hơi được chủ, nện móng đì độp và hí vang rền. Ông Thất vỗ nhẹ trên lưng con vật: 
– Ta đây. Ta đến đưa con về lại với ta. 
Con ngựa vung đầu, đạp chân, ngoay ngoảy mình mẩy ra tuồng vui vẻ gặp được chủ cũ. Tháo vội dây cột, ông dắt nó đi ra ngoài. Bỗng trước mặt ông, một người xuất hiện. Ông hỏi: 
– Chú Tám đó hả? 
Một giọng ngái ngủ trả lời: 
– Tám, chín gì nào. Bây to gan thật, dám ăn trộm ngựa cụ Chánh… 
Ông Thất lợi dụng bóng tối, đánh ngay một quyền vào bụng dưới gã. Người kia kêu ối một tiếng, ôm ruột, gập người, ông Thất đã nhanh như cắt, nhảy tới ôm vật gã xuống, đè lên, dùng đùi chận lấy cổ họng, sờ soạng tìm khăn nhét vào họng gã. 
Người kia ú ớ: 
– Xin đừng giết tôi… Tôi là đầy tớ trong nhà. 
Im đi, ai muốn giết mày làm gì… Tao chỉ cần lấy ngựa thôi. Chiều nay thấy thằng Chánh Tổng mua được con ngựa đẹp quá, tao mượn cỡi chơi ít lâu, khi nào có dịp ghé lại tao sẽ trao trả. 
Ông nghĩ một chút, lại tiếp: 
– Nhưng cái đó còn tùy ở túi tiền mua rượu của tao. Hễ Thiên Vương này dư tiền uống rượu thì tao chẳng tiếc gì ngựa mà không trao trả… 
Khi ông Thất nới đầu gối của mình để nhét khăn vào cổ họng gã, gã run rẩy nói: 
– Xin ông… 
– Cái gì? 
Ông trói giúp tôi thật chặt và bỏ tôi vào góc chuồng… 
– Sao mày lại muốn trói chặt? 
– Ông có trói kỹ thì ông Chánh trừng phạt tôi nhẹ hơn. Không vậy, ông Chánh tưởng tôi thông đồng với cướp. 
– Tao không phải cướp! 
– Dạ, tôi không có ý nói thế. Xin ông… 
– Được rồi, nằm im, tao sẽ làm theo ý mày. 
Sau khi trói chặt, ôm gã bỏ vào một xó, ông Thất tháo khăn nhét vào họng gã, dắt ngựa ra ngoài. 
Rồi cả hai người vòng ra ngoài thành tìm đến cầu treo bắc qua hào nước hạ xuống. Dắt ngựa qua khỏi, ông Thất bảo ông Tám cùng leo lên và trên con ngựa thiếu yên cương, hai người phi gấp về nhà. 
Đến nhà, thì trời hửng sáng. Ông Tám nhảy vọt xuống ngựa, nói liền: 
– Gia đình của thằng Chánh Tổng không thiếu gì đứa trước kia là tay trộm đạo có tài. Nó sẽ dò theo dấu ngựa tìm đến nơi đây rất sớm. Để em thổi gấp cơm ăn rồi anh lên đường. 
Ông chạy xuống bếp lo cơm. Ông Thất theo xuống phụ lực, rồi hỏi: 
– Vậy chú làm sao ở yên nơi này? 
– Thưa anh, em sẽ liệu cách đối phó. 
– Không được. Chú nên theo về quê anh cùng sống cho vui. Đến dịp ra kinh, anh sẽ tìm cách để tiến cử chú. 
– Em xin cảm ơn lòng tốt của anh. Nhưng em còn người bạn cũ bị cây rừng đè vẫn chưa bình phục, không thể xa được. Khi nào em liệu khó sống nơi đây, em đến tìm anh. 
Mối duyên gặp gỡ giữa hai người ấy khởi sự là vậy. Trước khi lên ngựa ra về, ông Thất cầm tay người em kết nghĩa, bảo rằng: 
– Em ráng giữ mình, đừng nghi ngờ sự chân thật của anh. Chúng ta đã là anh em, còn hơn cả ruột thịt đó. 
Rồi ông tạm biệt, lên đường về quê. 
Khi ông Tám dọn chiếc giường ông thấy gói bạc ông Thất còn trên đầu nằm. Ông thật bối rối không biết làm sao đuổi theo cho kịp để trao lại cho ông Thất. Ông cũng không dám mở ra để xem, vì ông nghĩ rằng bạc ấy chẳng phải của mình, lại là của người mà ông kính mến, làm mất dấu vết không chỉ thương tổn đến ông mà còn xúc phạm đến anh mình nữa. Nhưng một cuống lá khá dài thò ra từ gói bạc ấy. Kéo chiếc lá lên, ông đọc thấy dòng chữ nhỏ, có lẽ viết bằng gai nhọn, như sau: "Muôn sự của chung". Ông Tám cúi đầu, hiểu ý người anh kết nghĩa của mình. 
Mấy năm về sau đến khi người bạn thợ rừng qua đời ông Tám mới dời đến ở cạnh làng ông Thất là miệt Bấu Nài. Ông vỡ đất hoang làm ruộng, không chịu ở nhờ ruộng đất của người anh mình những lúc rảnh rỗi dành nhiều thì giờ thăm viếng hầu hạ ông anh. Tuổi già càng làm cho đời sống họ thiên nhiều về mặt tinh thần, do đó tình anh em họ lại càng đậm đà nhiều hơn. 
Một đêm ông Thất Cừ nhận lời mời của người quen ở xã Long Hồ, đến dự tiệc rượu. Giữa lúc chén uống đang nồng thì có một người trong đám bỗng hỏi ông ta: 
– Xin vô lễ với ông Thất chẳng hay ông còn nhớ những chuyện cũ hay không? 
Ông Thất đáp lời: 
– Chuyên cũ có trăm ngàn thứ, có thứ đáng nhớ, có thứ nên quên. Chẳng hay ông muốn nói đến chuyên gì? 
Người kia đáp lại: 
– Chuyện này chắc hẳn là ông không thể quên được, trừ phi ông muốn quên đi. 
Ngừng lại một chút, người kia nói tiếp: 
– Ông còn nhớ Lý Văn Hổ hay không? 
Ông Thất nhíu trán, suy nghĩ cố lục lọi trong ký ức: 
– Lý Văn Hổ à. Là ai? Ta không nhớ rõ được con người ấy. 
Người kia lại nói: 
– Phải rồi, ông đã muốn quên. 
– Không, ta chẳng muốn quên. Ta không thể nhớ đó thôi. 
Người kia im tặng, nốc từng ngụm rượu khá lớn. Mâm tiệc trở thành khó chịu vì cái không khí mập mờ của sự khiêu khích bắt đầu. Ông Thất chăm chú nhìn kỹ người kia qua đôi mắt đã chấp chóa hơi men cố lục lọi trong ký ức vẫn không nhìn thấy được gì hơn nữa. Thời gian đã phủ một tấm màn lớn như lớp sương mù dày đặc ngăn che quay về dĩ vãng xa mờ. 
– Quả tình ta không nhớ được tên ấy là ai. 
Câu nói có vẻ ôn tồn của ông rơi giữa mâm rượu bỗng làm người kia ngẩng mái đầu lên quắc đôi mắt sáng, nhìn ông một cách hằn học: 
– Thật tình là ông đã quên Mười Hổ phải không? 
Ông Thất gật đầu? 
– Đã quên. Ta có sợ gì phải chối nhớ lại cái tên không buộc cho ta bận lòng. Mười Hổ là ai, anh cứ nói ra. 
Hơi rượu làm ông bốc nóng, ông tiếp: 
– Mười Hổ hay trăm ngàn hổ, cũng vậy mà thôi. 
Rồi cười ha hả: 
– Cũng đều là hổ, chứ có khác gì! 
Người kia đặt mạnh cốc rượu xuống chiếu, nói lớn: 
Ông đừng khinh mạn, xúc phạm cha ta! 
Ông Thất ngạc nhiên: 
– ủa! Tên của thân sinh anh à? Làm sao mà ta biết được điều ấy? 
Người kia vội rời chiếu rượu đứng xuống chống nạnh gườm nhìn ông Thất. Chủ nhà vội can: 
– Thôi, thôi, đây là tiệc vui. Xin đừng gây nên những chuyện đáng tiếc. 
Ông Thất để ý giọng nói của gã chủ nhà không có một chút nhiệt tình nào chừng như đó chỉ là câu chiếu lệ mà thôi. Bất giác trong một thoáng mau, ông Thất chợt nhớ ra là trong dĩ vãng họ có nhiều mối tị hiềm nhưng được thời gian làm cho phai mờ như những bãi sình đã được cát lấp và trên cát ấy người ta tưởng rằng có thể trồng được những loài hoa đẹp. Nhưng đó chỉ là loài hoa ảo tưởng. 
Người kia nghe chủ nhà nói, gằn giọng đáp lại: 
– Được rồi, ta sẽ ra khỏi nơi đây để mà hỏi tội tên già. 
Giọng nói mạnh mẽ của gã đối với chủ nhà cũng có vẻ gì giả tạo. Ông Thất nghĩ rằng có thể họ đã ăn ý cùng nhau trong một âm mưu hãm hại ông chăng? Nhưng chất men nồng bốc cháy hừng hực trên đầu mọi ý đề phòng nhường bước cho lòng phẫn nộ, ông thấy căm giận cực độ vì lời xúc phạm của kẻ gây chuyện, nên cũng bước ra khỏi chiếu, hét lên: 
– Mày đừng vô lễ. Ta muốn biết mày cố tình gây chuyện là vì lẽ gì? Cha mày với ta nào có quen biết gì với nhau đâu? 
Gã kia hằn học: 
– Mày đã đánh chết cha ta, rồi ném xác dưới bờ hào còn nhớ hay không? 
Ông Thất chợt thấy bàng hoàng. Trong cuộc đỡ huấn luyện ngựa cho vua. Ông ta đã làm chết một người. Đó là một tên ăn trộm ngựa quý của vua đem về bán lại cho các nhà giàu ở những miền xa hẻo lánh. Hành vi trộm đao của gã là một xúc phạm lớn lao đối với quyền uy thiên tử và cũng là một thách thức sỗ sàng đối với những người có phần trách nhiệm như ông Thất Cừ. Ông đã để tâm dò xét nhiều ngày và một đêm kia, ông đã bắt gặp thủ phạm. Hai người đấu sức quyết liệt và cuối cùng tên ăn trộm bị ông quật ngã. Trong lúc tuyệt vọng, gã đã tự vẫn để khỏi bị những cực hình giày vò và để gia đình khỏi bị liên lụy. Không ai biết gã là ai, quê quán nơi nào. Tên trộm đã chết đã được vứt xác ngoài thành, rồi được treo lên lơ lửng đôi hôm trước khi chôn lấp. 
Bây giờ, thì con trai hắn xuất hiện nơi đây, mang mối căm thù dồn chứa từ ba bốn mươi năm rồi. Chắc gã còn phải lớn lên, còn phải tầm sư học đạo, còn đợi và tìm cơ hội đến gần ông Thất. Căm thù đã lớn như cây cổ thụ và muốn đơm bông kết trái bây giờ. 
Cũng có đôi lần ông Thất áy náy về sự nặng tay của mình, nhưng lòng tự ái của một kẻ có quyền uy như ông đã sớm xua đuổi ra khỏi tâm hồn một điều thắc mắc kiểu đó. Ông gào to tên: 
– à, ra mày là con của tên ăn trộm ngày xưa. Mày muốn những gì? 
Gã kìa trợn mắt: 
– Mày phải đền tội! 
Ông Thất hét to: 
– Tội gì? Tao không đánh chết thằng cha của mày. Nhưng dù có đánh chết được một tên đạo tặc như vậy, tao cũng hả dạ. 
Vẻ mặt người kia tối sầm hẳn lại, có lẽ phẫn nộ của gã lên đến cực điểm. Gã đứng câm lặng như tuồng giận dữ làm cho lời nói nghẹn ngào. Giây lâu, gã mới cất tiếng phều phào: 
– Nếu ngươi có lòng sám hối, biết quỳ lại ta thì ta tha mạng. Bằng không, thì hãy đến bìa rừng này. 
Quỳ lạy một người con trẻ hơn ông, và là con của một kẻ đạo tặc, làm sao có thể nghe những lời hỗn xược ấy mà không lồng lộn lên được. Kẻ kia đã để ông uống rượu say, rồi nung chín muồi tự ái của ông cho ông choáng váng mới hạ độc thủ đó chăng? Tự nhiên, ông Thất cũng cảm thấy nỗi lo sợ. Tuổi già đã đánh mất niềm tự tin khi phải đối đầu chướng ngại. 
Ông quay nhìn các người quanh mâm rượu. Hầu hết là những người quen, điểm vài khuôn mặt thân hữu và đôi mặt lạ. Ông chờ đợi họ một lời cản ngăn và tốt hơn nữa, một lời bênh vực. Nhưng họ thảy đều im lặng, một sự im lặng đồng lõa chứ không phải là kết quả của lòng sợ hãi. 
Ông Thất cảm thấy lạc loài, cô độc. Thế ra những người từng tỏ ra trọng vọng ông, những người từ trước đến nay từng khâm phục ông, nay lại chối bỏ đột ngột sự tín nhiệm ấy là vì lẽ nào? Cuộc đời có lẽ đã đổi thay rồi, và các giá trị mà ông khoác vào từ trước hẳn đã suy giảm rồi chăng? Nhưng gã đối thủ của ông như hiểu được nỗi bàng hoàng đang làm xáo động hồn ông, gã nói một cách khinh bỉ. 
– Ngươi đừng tưởng rằng giữ ngựa cho lũ vua quan là đáng kính nể hơn những người ăn trộm ngựa. 
Ông Thất quắc mắt: 
– Nhà ngươi không được xúc phạm… 
– Xúc phạm! Xúc phạm đến ai? Đến ngươi hay là đến lũ vua quan? Thôi đi, chuyện đó xưa rồi. Nhưng còn mối thù của ta thì không bao giờ cũ được. Hãy ra ngoài này, không thì ta sẽ kéo cổ ngươi ra tức khắc. 
Ông Thất lảo đảo ra ngoài bìa rừng. Đêm trăng, cỏ ướt đẫm sương lốm đốm điểm bạc. Ông nghe lạnh dưới đôi chân, lạnh khắp mặt mày. Lòng căm hờn của kẻ kia đã dựng ông thành đối thủ của nó. Đáng lẽ thì ông không chịu giao đấu, nhưng tự ái và danh dự đã tổn thương rồi, không thể im lặng, không thể từ chối, và điều chắc chắn đối thủ của ông không cho phép ông được quyền từ chối. 
Họ đã im lặng đánh nhau dưới ánh trăng soi vằng vặc. Những ngón quyền đánh trúng mặt làm cho ông Thất bừng tỉnh, và ông tìm lại phong độ đã mất ít nhiều trong những năm qua. 
Đối thủ của ông tuy còn trẻ hơn và mang căm hờn sôi sục nhưng tỏ ra bình tĩnh, gã đánh những đòn quyết liệt nhưng có tính toán. Chừng như gã biết là phải đối phó với một hạng người như thế nào rồi. Cả hai vờn nhau, sử dụng quyền cước và tất cả ngón bí truyền đã học tập được. Nhưng rồi ông Thất không chịu được nổi một tay đối thủ lợi hại như vậy. Khi ông bị đánh ngã qụy xuống đất, vừa toan lồm cồm trỗi dậy thì bàn chân gã đã đạp lên giữa mặt ông. Ông lại ngã ngửa người ra, chịu bàn chân ấy ấn mạnh đầu ông xuống cỏ rất lâu tưởng chừng nghẹt thở. Đất cát dẻo quánh hơi sương chà xát trên lớp da mặt nhăn nheo do bàn chân kia đem tới đã phủ một màng ô nhục lên con người ông. Nằm yên trong sự thảm bại đau đớn, ông chờ đợi một cái chết giáng xuống vội vàng. 
Nhưng ông đã đợi khá lâu mà không nghe động tĩnh gì. Ông Thất hé mắt và thấy đối thủ đứng im nhìn ông một cách lặng lẽ. Chắc hẳn bây giờ gã mới thấy kết quả của sự báo thù héo hắt, nhỏ nhoi không biết chừng nào. Rồi gã từ từ rời bàn chân ra khỏi cái đầu bạc, nói giọng chán nản: 
– Bây giờ ta có giết mày cũng được, nhưng cái mạng mày có nghĩa lý gì! Mày bảo trước kia đã không đánh chết cha ta, thì nay ta cũng không đánh chết mày. 
Rồi gã lặng lẽ quay lưng đi thẳng vào rừng. Hồi lâu ông Thất mới ngồi dậy nổi, bởi những đau đớn thể xác cùng với đau đớn tinh thần thật quá nặng nề. 
Khi ông loạng choạng đứng lên, ông thấy chung quanh vắng lạnh mênh mông như cõi nhà mồ rộng lớn. 
Ông về đến nhà thì trời gần sáng. Không rửa sạch vết cái bùn lấm đầy mặt mũi, ông gọi đứa cháu sang tìm ông Tám ở mạn Bầu Nai. 
Ông Tám đến ngay buổi sáng hôm ấy. Cầm lấy bàn tay gầy guộc của em, ông Thất nghẹn ngào kể lại sự việc, rồi tiếp: 
– Thằng Mười Hổ đó trước kia đã phải tự vẫn vì sợ cực hình. Anh đây không thể sống nổi, vì sợ một cực hình khác đau đớn hơn nhiều, đó là nỗi nhục trong chuỗi ngày tàn. Hãy nghe đây lời anh dặn: Em đừng tính chuyện phục thù, vô ích. Em đã già rồi, mà hắn còn trẻ, lại thêm tung tích của nó không biết về đâu. Dù sao cũng là câu chuyện có vay có trả, trên cuộc đời này. 
Rồi ông uống chén độc dược, lìa đời. Và cuộc sống đã làm xong một cuộc tính sổ, trong muôn ngàn chuyện đang được kết toán hằng ngày. 
Ông Tám chôn cất anh xong, thu xếp việc nhà của anh cho được mọi phần yên ổn, rồi lâm bệnh nặng. Ông không chịu dùng thuốc thang gì hết, mặc dù người nhà đã cố ép nài, lặng lẽ đi theo người anh kết nghĩa về cõi đời khác. 

Thảo luận cho bài: "Tìm Ngựa"