Tình Bắc Duyên Nam

Tác giả:

Ngày cuối cùng của đời học sinh là vậy sao? Trong trạng thái bần thần tôi tự hỏi. Vậy là xong mười hai năm đèn sách. Không biết có còn cơ hội tiếp tục, hay là … Tôi thật sự không dám nghĩ tiếp. Tiếng thở phào chưa thể thóat ra khỏi lồng ngực. Bởi vì, hai tuần nữa chúng tôi phải trả nợ công thầy, nghĩa bạn, ơn cha mẹ. Rồi sau đó phải tiếp tục giành giựt cái vé vào cổng trường Đại Học. Trong tâm trạng vui buồn lẫn lộn, tôi bước về nhà. Xóm làng tôi dường như tưng bừng hẳn lên. Điều gì đang xảy ra vậy ? Thì ra một đòan địa chất đang thăm dò khóang sản trong vùng tôi. Đó là đòan địa chất 500, chi nhánh tại Sài Gòn. Đòan chia ra làm nhiều nhóm nhỏ, đến tạm ở với từng gia đình của bà con lối xóm. Nhà tôi có ba anh con trai đến tá túc. Hai anh nói giọng Bắc đặc sệt. Một anh giọng miền Nam. Sau vài ngày thì tin tức chị em chúng tôi thu lượm được là một anh nói giọng Bắc đã có vợ. Còn hai anh thì chưa. Cái anh miền Nam bề ngòai đẹp trai, tên là Hải, công nhân tạm tuyển dụng. Còn anh kia tên Đào Ngọc Đình. Tuổi tác chắc không chênh lệch bao nhiêu. Nhưng theo thói thường, hễ bất cứ người nào đội mũ cối, mặc đồ giống bộ đội, thì chị em tôi gọi là chú. Từ già đến trẻ, răm rắp một bậc chú. Cái anh chàng miền Bắc chửa vợ kia, nước da trắng hồng hơn tụi con gái nhà quê như chúng tôi. Đôi con mắt tròng đen to, lông mi rậm cong, trông sao mà buồn. Nhưng mà chú ta là miền Bắc chính gốc đấy. Cái chú đó có một túi xách mang kè kè bên người. Mỗi đêm viết cái gì gì trong quyển sổ nhỏ, rồi cất vào cái túi ấy. Mặc dầu đang bận rộn chuẩn bị ôn thi cho kỳ thi tốt nghiệp sắp tới, tôi tò mò muốn biết cái gì trong cái túi đó. Cơ hội đã đến. Cả đòan đi lên Đại Lộc điều tra suối nước khóang nào đó trên ấy. Không biết vô tình hay cố ý, cái chú Đình kia để báu vật ở nhà. Mặc dù, họ vừa mới đi thôi, tôi sợ họ quay trở lại bất thình lình. Cho hai thằng em canh cổng, đứa nhìn ra hướng ngòai, đứa nhìn vào hướng trong. Một đứa đứng trước cửa. Có gì thì hai đứa gác cổng ra hiệu cho đứa gác cửa, và đứa gác cửa sẽ mật báo cho tôi. Đâu đó dặn dò kỹ càng. Tôi đóng cửa, gài then. Mở cái túi kia ra, coi thử cái gì ở trong đó. Vừa lục lọi vừa run. Tôi nghe rõ tiếng thình thịch của tim, muốn làm tôi nghẹn thở. Trong đó, ngòai những dụng cụ cá nhân, còn có hai quyển sổ tay nhỏ. Một quyển đã viết đầy, một đang còn dang dở. Quyển kia bắt đầu cách đó bốn năm. Ngày anh ta được giấy báo vào tổng hợp Hà Nội, thay vì ngành Tóan như anh đã điền đơn dự thi, nhưng vì lý do thiếu điểm hay gì đó anh lại đậu vào ngành địa chất. Anh không thích cái ngành ấy chút nào. Ba mất sớm, nhà chỉ có Mẹ và cô em gái tên là Đào Anh Thịnh. Bên cạnh những vui buồn của đời sinh viên là nỗi thương nhớ Mẹ, thương em. Tuyệt nhiên không thấy tên của một cô gái nào khác. Quyển thứ hai, bắt đầu kể từ ngày anh ra trừơng. Rồi tham gia đòan địa chất. Anh rất ghét cái nghề phải rày đây mai đó, anh không thích vào miền Nam. Anh ghi lại nhiều kỷ niệm về những nơi anh đã đi qua như Nha Trang, Tuy Hòa, Quy Nhơn, Quảng Ngãi, và chưa có dòng nào cho cái nơi anh đang dừng chân … Đấy là một sự khám phá ly kỳ. Trước đó, tôi vẫn nghĩ những con người miền Bắc ấy, ai nấy đều khô khan, không biết than van óan trách. Cái chủ nghĩa cá nhân chắc đã bị đánh tan sau mấy mươi năm. Nhưng mà Chú Đình của tôi, bộc lộ những thương ghét của mình quá thật trong cuốn vở kia. Cái tính người đó khiến tôi thấy anh trở nên gần gũi như một người bạn lâu năm. Anh lớn hơn tôi ba tuổi. Học theo hệ miền Bắc thì chỉ tốn mười năm để vào đại học. Anh thân mật với đám em của tôi một cách thỏai mái. Tuyệt nhiên chưa hề biểu lộ một cử chỉ gì khác với tôi, dù chỉ là một ánh mắt. Tôi có tật học bài đọc to rổn rảng, bằng không đầu óc tôi nó bay bổng, trôi giạt tùm lum. Sự có mặt của họ làm tôi mất đi cái tự nhiên đó. Nhưng được vài hôm, thì tôi đã không còn ngại ngần, cứ ê a học bài ban đêm. Tôi thấy họ dòm tôi một cách ngộ nghĩnh. Học mệt thì tôi nhảy ra sân chơi đá banh với lũ em trai, để giản gân giản cốt. Một hôm đang ngồi học bài, nhìn ra cửa sổ. Trời về chiều, cái nắng miền trung chói chang. Cái nền nhà mà Ba tôi cho xây móng đổ cát, định sẽ xây trại cưa khi đất nước thanh bình. Thế mà giờ đây, Ba tôi đang ở trong trại cải tạo, không biết có ngày trở về hay không. Cái nền đã mọc đầy tranh, hoang tàn, xơ xác. Không ngăn được tiếng thở dài. Thì tự nhiên tôi có cảm tưởng rằng ai đó đã xâm nhập vào cái góc tối u buồn đó của tôi. Xoay thốc người lại, tôi thấy anh đứng sau lưng tôi tự bao giờ. Vẫn lặng yên không một lời trao đổi. Còn ba ngày nữa thì tôi đi thi. Đòan địa chất đã xong công trình ở địa phương tôi. Họ thu xếp hành trang để sáng hôm sau ra Đà Nẵng mua vé rồi vào Chu Lai. Sau đó sẽ trở về Sài Gòn làm việc tại trụ sở chính, trong sáu tháng của mùa mưa. Đêm đó anh Đình dẫn mấy đứa em tôi ra nhà sách Nhân Dân của thị trấn mua mấy cuốn truyện nhi đồng và một số sách cho anh. Tôi cảm thấy như sắp sửa đánh mất cái gì đó mà tôi yêu quý. Sáng hôm sau, trong khi họ chuẩn bị đồ đạc. Tôi chạy vào nhà bà Cố, ra gốc cây ô mai ngồi khóc. Tôi không biết mình khóc vì cái nỗi gì. Tôi không dám đứng nhìn anh rời bỏ ngôi nhà của tôi. Chờ hòai, không biết họ đã đi chưa, tôi chạy trở về núp sau nhà bếp. Thì đúng lúc các anh vừa bước ra khỏi ngõ. Tôi thấy anh Đình xoay mình nhìn dáo dác. Anh không thấy tôi, vì tôi vẫn núp sau đụn rơm, chỉ ló con mắt qua cái lỗ hổng nhỏ xíu. Thế rồi anh bước đi theo đòan. Tôi vào nhà, thấy cuốn truyện "Mùa Mận Hậu" anh đã mua hôm qua, để trên bàn tôi. Tôi mân mê cuốn sách. Ôm nó vào ngực, nghe tim mình đang thổn thức. Lật từng trang, tôi thấy anh đã ghi lại địa chỉ cơ quan làm việc của anh tại Sài Gòn. Tôi cảm thấy lòng mình ấm lại. Tôi biết sau khi ra Đà Nẵng thì cả đòan sẽ đi vào Chu Lai, ngang qua nhà tôi lần nữa. Tôi bỏ học buổi sáng đó, qua nhà ngọai ngồi canh. Vì nhà ngọai gần mặt quốc lộ hơn là nhà của tôi, vả lại tôi không muốn anh thấy tôi đứng trông đợi anh từ nhà của tôi. Xe nào chạy qua tôi cũng dóng con mắt lên mà dòm. Cho mãi đến gần trưa thì tôi thấy có một chiếc xe vừa chạy ngang qua, có một người mặc áo bộ đội, ngóai đầu ra dòm về phía nhà của tôi. Xe vút qua nhanh quá, tôi không biết chắc có phải là anh hay không. Tôi cứ chờ tiếp cho đến chiều. Tối đó trằn trọc, không học vô một chữ. Suốt hai ngày kế tôi không nhét vô được chữ nào. Cứ hỏi ái tình là cái chi chi. Đọc sơ qua được một tập thơ của TH. Nhờ vậy mà lúc làm bài thi tôi không dẫn chứng thơ lộn xà mèo, lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia như tôi đã từng làm. Bài thi ra trúng tủ trong tập thơ, tập thơ duy nhất mà tôi dòm qua. Không biết nhờ thất tình hay sao mà tôi đạt điểm văn cao nhất, trong khi các môn toán – lý – hóa chuyên thì tôi đã khiến thầy cô thất vọng. Theo tôi biết khỏang nửa tháng thì anh sẽ có mặt tại Sài Gòn. Sau khi thi xong, trong khi chờ đợi treo bảng. Thời gian rảnh rỗi, tôi nhớ anh quá chừng. Không dằn lòng được, tôi đã dẹp lòng cao ngạo, kiêu hãnh đã hạ bút viết thư cho anh. Bức thư đầu tiên không gì ngòai việc nói về chuyện thi cử, và nói đã nhận được cái địa chỉ nên theo phép lịch sự báo cho anh rõ. Không dè, thư mới gởi đi được ba ngày thì tôi nhận được thư của anh. Thông thường thư từ dạo đó tốn ít nhất mười ngày một chuyến. Tôi tiếc hùi hụi, là đã để lộ cho anh biết tình cảm của mình. Anh cũng không nói gì nhiều ngòai chuyện không nói được lời chia tay sáng hôm đó. Và nói rằng, nếu tôi cho phép anh sẽ tiếp tục viết thư cho tôi khi về đến Sài Gòn. Nhận được thư tôi, anh hồi âm ngay lập tức. Và diễn tả nỗi sung sướng khi được đọc những dòng chữ của tôi. Những tháng ngày kế tiếp chúng tôi cứ ngóng và viết thư cho nhau. Trong khi chờ kết quả kỳ thi vào đại học, nhân có cô tôi về thăm quê, tôi đi ké vào Sài Gòn để có dịp thăm anh. Vừa đến Ngã Bảy Sài Gòn hôm trước, hôm sau tôi lên Bảy Hiền thăm bà con, dò la lối đi Phú Nhuận. Dòm chuyến xe buýt đang đậu ở Ngã Tư Bảy Hiền, tuyến Bình Triệu-Xóm Củi, tôi đọc bên hông xe, thấy có tên Phú Nhuận. Mừng quá, tôi vọt lên xe. Mắt mở banh, tai vễnh lên coi ai đó có đề cập đến cái chỗ mà tôi muốn xuống không. Chỉ vì tôi không dám xổ cái giọng Quảng Nam quí hiếm của mình ra. Canh chờ hoài chẳng thấy chỗ nào là Phú Nhuận. Đến trạm cuối cùng, bà con lục đục xuống hết. Nhìn quanh nhà cửa thưa thớt, tôi mới hỏi ông tài xế tại sao tôi không thấy trạm Phú Nhuận. Ông ta dòm tôi, như đã hiểu ra rằng cô Hai Lúa mới lên tỉnh. Rằng Xóm Củi là đây. Muốn đi Phú Nhuận từ Bảy Hiền thì phải đi chuyến ngược trở lại. Thế là tôi ngồi lại xe chạy về lại Bảy Hiền rồi đi tiếp ngang qua Phú Nhuận. Nơi tôi muốn đến không phải là chỗ tôi xuống từ xe buýt. Mà từ chỗ đó tôi phải lòng vòng lội bộ và hỏi, cứ vậy theo địa chỉ tôi đi tìm. Quận Phú Nhuận thênh thang, gái quê xớ rớ biết đường nào mà mò. Tìm đến nơi thì hay anh đang đi mua vé về Hà Nội nghỉ phép. Hẹn với những người cùng cơ quan anh, tôi sẽ ghé lại sau, nhưng không nói rõ mình là ai. Tôi đi lang thang quanh Phú Nhuận. Lúc trở lại, tôi không nhớ lối. Con đường Hòang Diệu đó nhỏ quá, ngay cả dân quanh vùng đó cũng không biết sự tồn tại của nó. Tôi đâm ra nghi ngờ cái trí nhớ của mình. Nếu như sáng hôm đó chưa đặt chân đến cơ quan anh, thì tôi đã bỏ cuộc rồi. Rõ rành rành mà, tôi còn nói chuyện với các người ở đó nữa. Tìm địa chỉ là một trong những sở thích của tôi. Nhưng lần đó thì hết còn thích thú. Thất thểu đi tới đi lui, mãi đến tối thùi thui tôi mới mò ra lại chỗ cũ. Anh Đình không ngờ gặp lại tôi. Anh bảo, anh định chuyến trở vô, tới Đà Nẵng sẽ ghé thăm tôi. Nào hay tôi đã vào đây. Anh trách là tại sao không cho anh biết sớm. Lúc đó thì quá trễ để hồi lại vé. Anh mời tôi đi ăn tối, xong ra ngồi hóng mát ở bến Nhà Rồng. Cuối cùng anh đưa tôi về. Tôi thật sự không hiểu lòng mình như thế nào. Tôi không cảm thấy thỏai mái khi đi bên cạnh anh. Tôi có cảm tưởng thiên hạ đang dòm dõ chúng tôi. Như một kiểu cuốn theo chiều gió, xuôi theo thời. Dĩ nhiên chúng tôi cảm nhau bất luận sự phân chia, bất luận hoàn cảnh. Cái made in Hà Nội của anh nó tỏa ra từ đôi giày nhựa, từ cái giọng nói, từ áo quần anh đang mặc. Tuy rất thương anh, thương như thể một người anh hay một người tình tôi không rõ. Sáng hôm sau anh đi, tôi không đưa tiễn. Tôi ở Sài Gòn dong ruỗi khắp chốn, không một chút nhớ nhung về anh, một tháng rồi về lại miền Trung. Sau năm tuần nghỉ phép, anh trở vào Sài Gòn. Chúng tôi tiếp tục thư từ , kể cho nhau những vui buồn của mình. Con người anh rất là hiền lành và trung hậu. Tôi rất quý anh và rất vui khi có một người bạn như anh. Tôi không vào được đại học, mà phải đi lao động. Anh an ủi, trao cho sức mạnh, truyền cho tôi niềm tin. Tôi thương tôi quý anh biết bao nhiêu mà kể. Một năm sau nữa, tôi vào Sài Gòn dự thi Đại Học. Vào trước ngày thi một tháng, tôi trọ nhà cô ruột ở Ngã Bảy để ôn bài. Tôi muốn đến chỗ anh ở, nhưng ngại thiên hạ dị nghị. Tôi không muốn anh đến nhà họ hàng mình, vì sợ bị phản đối. Thích rằng chỉ có tôi và anh , ở một nơi nào đó không có cái nhìn soi mói, dò xét của ai cả. Anh rất ân cần, tế nhị và rất là thương tôi. Nhưng thú thiệt tôi không muốn đi chơi với anh ngòai đường, tôi bị chi phối bởi thiên hạ. Tôi không biết mình là ai nữa. Đi chơi được hai lần. Tôi từ chối không đi thêm, cáo là bận học. Khỏang một tháng thì anh báo với tôi là anh sẽ về Hà Nội nghỉ phép thường niên. Tôi cũng không nói gì. Anh viết thư cho tôi xin gặp lại một lần trước khi ra Hà Nội. Tôi viết thư trả lời, rằng tôi đang cố gắng tập trung ôn thi, xin thông cảm. Anh nằng nặc xin gặp vào đêm trước khi anh về nghỉ phép. Tôi vẫn không ra chỗ hẹn. Hôm sau khi anh đã lên tàu rồi, thì tôi nhận thư anh gởi trước khi đi. Rằng đêm đó anh đứng trước cửa bệnh viện nhi đồng, đến khuya. Muỗi cắn anh sưng cả hai chân, mà vẫn không thấy tôi ra. Anh nói rất buồn, và hẹn ngày gặp lại sẽ nói nhiều hơn. Lúc tôi thi xong rồi, anh vẫn chưa vào lại. Tôi trở về quê, tiếp tục đi lao động. Rớt nữa. Lòng tôi rất nặng nề vì đủ mọi thứ trên đời. Tôi thèm nghe anh nói, thèm đọc thư anh. Nhưng tôi không thấy thư từ gì của anh cả. Chờ đợi mỏi mòn. Một tháng nữa trôi qua. Tôi không biết rằng anh đã vào lại Sài Gòn chưa. Tôi viết thư theo địa chỉ Sài Gòn. Biền biệt mấy tháng không thấy trả lời. Viết một lá thư nữa, khỏang một tháng sau tôi nhận được hồi âm của anh từ Hà Nội. Rằng hãy quên anh đi! Sau hai năm quen biết, đến rồi chợt đi, dễ dàng vậy sao? Với cái tuổi chưa tới hai mươi, tôi không biết tôi đang và sẽ muốn gì. Có điều là tôi buồn, rất buồn, biếng ăn chán ngủ suốt một thời gian. Vật gì một khi vụt khỏi tầm với của mình, thì bỗng nhiên bành trướng. Tránh sao khỏi. Tôi thật sự cảm thấy ăn năn là quá hững hờ trong thời gian quen biết anh. Trách ai đây? Tôi ư? Tôi đâu phải là kẻ đoạn tuyệt. Biết chừng đâu khi trở lại Hà Nội anh đã ý thức được con người dù có muốn sống theo tâm hồn mình đến đâu thì vẫn bị ràng buộc, níu kéo bởi gia đình và xã hội. Khỏang thời không lâu sau đó, đòan địa chất ghé lại làng tôi, nghỉ qua đêm. Tối đó, từ công trường tôi tình cờ về ghé thăm nhà. Người ngợm đen đủi xấu xí. Tôi không muốn chường cái mặt cho ai thấy cho dù trong bóng tối, dưới ngọn đèn dầu mù mờ ở nông thôn. May quá, lần này họ không ở nhà tôi. Tôi không biết có anh trong đó không. Tôi muốn chạy đến chú Sửu, người trưởng đòan để dò thăm tin tức về anh. Nhưng rồi để làm gì, cho nên tôi chôn kín nỗi tuyệt vọng trong lòng, riêng mang nỗi buồn. Tháng ngày qua đi. Gặp gỡ rồi chia ly là chuyện thường tình. Cho đến bi giờ, tôi vẫn còn nhớ anh , một người con trai hiền hòa, đáng mến đã thương yêu tôi nhưng không có duyên nợ với tôi. Một điều đáng nói ở đây là trong suốt thời gian làm bạn với anh, tôi không hề có mặc cảm về sự khác biệt hòan cảnh gia đình và xã hội giữa chúng tôi. Cám ơn trời phật đã cho anh hiện hữu trong đời con.

 

Thảo luận cho bài: "Tình Bắc Duyên Nam"