Trầu Cau Trong Đời Sống Văn Hóa Dân Tộc

Tác giả:

II


4. Trầu Cau Trong Nghi Lễ Cưới Hỏi

Người bình dân Việt Nam xưa nhờ vào hoàn cảnh sống gần gũi với thiên nhiên, nhờ điều kiện sinh hoạt tập thể về nông nghiệp, hội hè, hát xướng, lại nhờ vào tục mời trầu của xã hội… đã giúp cho tình yêu của họ dễ dàng nẩy nở, cởi mở, hồn nhiên. Dù thế nào chăng nữa, tình yêu của họ cũng không cuồng nhiệt, tự do quá trớn đến vượt ra khỏi vòng lễ giáo gia đình và phong tục xã hội.

Thực tế, người thiếu nữ vẫn hằng nhủ lòng “áo mặc sao qua khỏi đầu”, nên khi vừa bước vào cuộc tình là không quên nhắc nhở bạn về thủ tục đầu tiên:
-Thương tôi rượu chén, trầu cơi
Đến cùng phụ mẫu, đến nơi sinh thành.

Nếu người con trai còn nghi ngại:
-Tốn hao anh chẳng màng chi
Chỉ e lỡ dở uổng thì trầu cau. 

thì người con gái xin hứa trước một lời để bạn vững dạ về trình cha mẹ, rồi nhờ mai dong đến thưa chuyện cùng song thân nàng:
Đợi lệnh song thân em phải vậy
Song em quyết một lời rồi, anh hãy cậy mai dong.
 

Người con trai sau khi đã được lời hứa chắc của bạn lòng , mặt mày hớn hở, đi khoe cùng làng, khắp xóm:
Tôi về thưa với mẹ cha
Chạy lo sáu lễ đem qua cưới nàng. 

Nhưng khi vào chuyện rồi người ta mới thấy trong ba việc khó khăn ở đời mà người xưa đã từng xác nhận qua câu tục ngữ:
Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà
Trong ba việc ấy thật là khó thay! 

thì việc cưới xin, việc hệ trọng nhất trong cuộc đời của mỗi con người, là khó khăn nhất, nghi thức cũng nhiêu khê nhất, và tốn kém nhất.

Trước hết, nhà trai phải đem phẩm vật đến cầu cạnh người mai mối, nhò họ chuyển lời cầu hôn đến nhà gái, đúng như phong tục đã định:
Mâm trầu hũ rượu đàng hoàng
Cậy mai đến nói phụ mẫu nàng mới xong.

Khi ông mai, bà mối đã trình bầy tự sự, nhà gái thấy xứng đôi (xưa theo tiêu chuẩn môn đăng hộ đối) thì ưng, liền cho so đôi tuổi cô dâu, chú rể; tuổi tác có hợp rồi mới bắt đầu tính đến chuyện cưới hỏi. Đâu đấy xong xuôi, hai bên gia đình nhà trai, nhà gái cho tiến hành các thủ tục hôn phối. 

Bắt chước Trung Hoa, tất cả phải trải qua sáu lễ. Đó là:
– Lễ Nạp thái còn gọi là lễ sơ vấn, nhà trai đưa lễ vật để tỏ ý đã kén chọn. Lễ này nôm na gọi là lễ chạm ngõ hay lễ giạm vợ.
– Lễ Vấn danh: hỏi tên tuổi và họ người con gái.
– Lễ Nạp cát: báo cho nhà gái biết đã bói được điềm tốt.
– Lễ Thỉnh kỳ: xin định ngày cưới.
– Lễ Nạp tệ: tệ là lụa, nghĩa là đem lụa hay phẩm vật quí đến nhà gái, nói chung là đem đồ sính lễ đến nhà gái trong ngày lễ cưới.
– Lễ Thân nghinh: lễ đón dâu.


Sáu lễ kể trên về sau ta giảm xuống còn ba là lễ Sơ vấn (chạm ngõ), lễ Vấn danh (ăn hỏi) và lễ Thân nghênh (đón dâu). Nghi thức cũng đã được thay đổi phần nào cho hợp với phong cách Việt Nam. Theo phong tục của nước ta thì cả ba lễ này, trầu cau đều là lễ vật căn bản (7).

– Lễ chạm ngõ: nhà trai chỉ phải đem tới nhà gái vài gói trà, vài chai rượu và một nhánh cau cùng một xấp lá trầu (tất cả đều phải đi số chẵn). Theo tục lệ trong Nam thì ngoài trà rượu bánh mứt, nhà trai còn đem tới nhà gái một khay trên bầy 2 cái chung (ly) nhỏ, 1 nậm rượu và 1 cơi trầu têm sẵn 4 miếng, để mời anh chị sui mà trực tiếp thưa chuyện giạm vợ cho con.
Chiếc khăn nhiễu tím đội đầu
Quai thao, nón thúng, cơi trầu cầm tay
Xu xê, bánh cốm, bánh dầy
Anh nhờ cả mẹ cùng thầy đưa sang.

Nếu cô dâu, chú rể tương lai chưa hề biết nhau thì đây chính là dịp họ được thấy mặt nhau, nên lễ này còn gọi là lễ xem mặt.
Người thiếu nữ từ ngày nhận trầu cau coi như đã là dâu con nhà người, tục ngữ có câu: “Miếng trầu nên dâu nhà người” là vậy.

Tuy nhiên lễ chạm ngõ không quan trọng mấy, vì dù sao mới chỉ là “giạm”, nghĩa là ướm hỏi trước giữa hai gia đình mà thôi. Do đó sau này vì lẽ gì một bên muốn bãi bỏ thì cũng dễ dàng, chỉ cần thông báo cho bên kia biết chứ không phải thưa kiện, bồi thường gì. Thế nên tục ngữ lại có câu: “Miếng trầu chạm ngõ là miếng trầu bỏ đi”.

– Lễ ăn hỏi: trong Nam lễ vật quan trọng nhất kỳ này là trầu cau, rượu trà và cặp đèn cầy để lễ gia tiên bên gái. Ở ngoài Bắc, xưa có lệ vào dịp lễ ăn hỏi, nhà gái chia phần trầu bánh cho bà con họ hàng, xóm giềng, bạn bè để báo tin lễ đính hôn chính thức của đôi trẻ; vì thế nhà trai phải dẫn cho đủ số trầu cau, trà bánh, nem trạo để nhà gái biếu xén.

Sau lễ ăn hỏi, hai gia đình mới bàn đến chuyện đám cưới. Theo phong tục xã hội Việt Nam xưa, nhà gái được quyền thách cưới. Ngoài vụ thách cưới áo quần, chăn chiếu, màn gối, nữ trang cho cô dâu, nhiều bậc cha mẹ còn đòi thách cưới cả tiền mặt để trang trải cỗ bàn thết đãi hai họ, cùng là ruộng vườn, trâu bò cho đôi vợ chồng mới ra riêng lập nghiệp. Nhiều chàng trai nhà nghèo, không theo được đành phải mất vợ.
Vắn tay với chẳng tới kèo
Cha mẹ anh nghèo, cưới chẳng đặng em.
 

Từ lễ ăn hỏi đến lễ cưới khoảng một hai năm, người con trai phải sêu tết nhà vợ. Theo tài liệu trong Việt Nam Phong Tục của Phan Kế Bính thì bốn mùa xuân hạ thu đông, mùa nào thức nấy. Tháng ba thì sêu vải; tháng năm sêu dưa hấu, đường, ngỗng; tháng chín sêu cốm, hồng, gạo mới, chim ngói; tết sêu bánh mứt, cam bưởi. 

Không sêu mà xin cưới thì người ta cho là thiếu lễ.

-Lễ đón dâu: sáng sớm ngày lễ đón dâu, chính bà mẹ chồng đích thân mang một cơi trầu, ngoài phủ khăn điều, trong đựng 6 miếng trầu, tượng trưng đủ 6 lễ, đem tới nhà gái để xin dâu cho trịnh trọng (nếu bà mẹ chồng mất sớm mới phải nhờ tới cô, bác hay người chị lớn của chú rể đi thay). Đồng thời báo cho nhà gái biết trước giờ phái đoàn nhà trai đến để sửa soạn nghênh tiếp.

Phái đoàn đón dâu đi đầu là vị chủ hôn (phải là người trọng tuổi, vợ chồng song toàn, con cái đề huề, kén chọn trong gia đình họ hàng chú rể), sau đến vợ chồng người mai dong, tiếp theo là đoàn người đội phù trang mang đồ sính lễ, gồm trầu, cau (nguyên buồng), trà rượu, bánh mứt, xôi heo… Với người miền Nam còn phải thêm đôi đèn cầy lớn, trạm rồng phượng và đôi bông tai (hoa con gái) cho cô dâu. Chú rể, bà con đi sau chót.

Cặp đèn cầy nhà trai đưa tới được thắp sáng trên bàn thờ gia tiên nhà gái, một phần lễ vật đem ra bầy cúng. Sau khi lễ gia tiên, (4 lạy, 3 vái) cô dâu chú rể lạy tạ cha mẹ vợ (2 lạy, 1 vái), đoạn đi chào ra mắt cùng mời trầu, mời thuốc chú bác, cô dì nhà gái ; đồng thời họ nhận được tiền phong bao cùa họ hàng. Xong xuôi, lễ vật còn lại với cỗ bàn được bưng ra, đãi đằng hai họ:

Anh hai đi cưới chị hai,
Mâm trầu, hũ rượu tốn hai mươi tiền.
Còn dư mua chả mua nem
Mua cặp lồng đèn, hai họ cùng lên.
Ông cai, ông ký ngồi trên
Sui gia ngồi dưới, hai bên họ hàng.
 

Mọi người ăn uống say sưa, chuyện trò vui vẻ; chờ tới giờ hoàng đạo (giờ tốt) mới đón dâu về nhà chồng.
Về tới đằng trai, cô dâu, chú rể lễ gia tiên trước rồi mới lễ tơ hồng ( chủ đích tạ ơn Nguyệt Lão đã xe duyên đôi lứa) .Lễ tơ hồng cốt yếu có đĩa trầu cau, đĩa sôi gấc trên đặt con gà trống thiến luộc, mỏ cắm một bông hồng đỏ và đôi bạch lạp. 

Theo tài liệu của Đỗ Thì Kênh G, trên nguyệt san Thế Kỷ 21 số 88 thì lễ gia tiên cũng như lễ tơ hồng lúc này đều có bài bản sẵn. Có thể mỗi gia đình soạn một bài riêng, nhưng đại khái cũng không khác nhau là bao.
Thí dụ lễ gia tiên:
Cung cúc bái trước bàn thờ
Kính dâng lễ bạc hương hoa rượu trầu
Cùng là phẩm vật trước sau
Lòng thành tâm nguyệt thỉnh cầu gia tiên…
 

Lễ gia tiên xong, cô dâu chú rể ra sân, quỳ trước bàn thờ Nguyệt Lão để lễ tơ hồng:
Cung duy tơ hồng… Nguyệt Lão thiên tiên
Xích thằng giao cấu kết nhân duyên.
Gối phượng, chăn loan tưng bừng đôi lứa
Chèo lan, lái quế êm ấm một thuyền …
 

Người chủ tế vừa hoàn tất việc xướng lễ, bái lễ, chú rể bước tới bàn thờ, nâng chung rượu uống nửa rồi trao cho cô dâu nhắp phần còn lại, đoạn rón 2 miếng trầu trong cái đĩa đặt trên bàn thờ, chia cho cô dâu một miếng, xong hai người cùng ăn. Ðể kết thúc buổi lễ tơ hồng, người chủ tế nhấc hai cây bạch lạp trên ban thờ xuống cho châu đầu vào nhau để hai ngọn lửa nhập làm một, đoạn thổi tắt, hàm ý vợ chồng từ nay sống chết cùng nhau, không rời bỏ nhau. 
Sau lễ tơ hồng, cô dâu chú rể vào nhà lạy cha mẹ chồng cùng chú bác bên chồng, lại được tiền phong bao nữa.

Buổi tối, mâm cỗ lễ tơ hồng được hạ xuống cho cô dâu chú rể ăn chung.
Hôm sau ngày cưới gọi là ngày nhị hỉ hay ba hôm sau gọi là ngày tứ hỉ, cô dâu chú rể đem heo, xôi – sau này được thay bằng trà rượu – về bên ngoại cúng từ đường, thăm nhà va đi chào cùng cám ơn bà con cô bác.

Tục lệ thách cưới và dẫn lễ này không chỉ áp dụng trong dân gian mà ngay cả trong triều nội.

Theo tài liệu của Ông Tiến Hưng, đăng trong báo Thế Kỷ 21 số 84, cho biết, vua Thiệu Trị có em gái là công chúa Hương La, đến tuổi kén chồng. Các quan trong triều và hội đồng hoàng gia thấy ông Hoàng Kế Viêm đỗ cử nhân, 23 tuổi, là người hiền đức, lại là con cụ Hoàng Kim Xán, nổi tiếng hiếu hạnh, có bài vị thờ tại miếu Hiền Lương, nên đồng thanh tiến cử làm phò mã va được chuẩn y (mặc dầu ông đã có vợ và có 1 con gái, đang sống cùng mẹ chồng tại làng Văn La, Quảng Bình). 

Đám cưới công chúa trước sau đủ 6 lễ rườm rà, mỗi lễ đều có lễ vật, tính chung gồm 2 mâm trầu cau, 2 trâu, 2 bò, 3 heo, 4 ché rượu, 2 cây gấm, 12 cây lụa, 10 nén vàng, 36 nén bạc và 2 chuỗi ngọc. Ngoài ra còn các thứ lặt vặt khác như 2 hộp chỉ ngũ sắc, 100 đồng tiền tượng trưng sự phú quí, 2 lá thiên tuế tượng trưng cho sống lâu, 2 con ngỗng thay cặp nhạn ở xứ ta không có (chim nhạn không lìa đôi).

Nghi lễ ấn định như thế, nhưng sau Bộ Binh và Bộ Lại tâu lên vua về gia cảnh nhà trai nên nhà vua chấp nhận mọi chuyện chi phí về hôn lễ sẽ do công bố đài thọ.

Từ nửa đầu thế kỷ XX trở đi, các nghi lễ cưới xin nào quá rườm rà và không hợp lẽ đã bị nhiều nhà văn, nhà báo tiến bộ như nhóm Phong Hóa, Ngày Nay… viết sách viết báo đả kích kịch liệt. Như chuyện thách cưới chẳng hạn, sự đòi hỏi quá lố của nhà gái có khác gì bán con? Khẩu ngữ “gả bán” cũng từ đấy mới có. Nhiều nhà trai nghèo phải vay nợ để cưới dâu nên đem lòng oán hận, cưới được dâu về rồi cha mẹ chồng mới hành hạ cho đáo để:
Mất tiền mua mâm
Bà đâm cho thủng.
 

Chỉ vì cha mẹ tham của hay vì chút tự ái, thích huênh hoang với xóm làng ra cái điều con gái ta cao giá mà để cho con phải chịu đọa đầy. Đã vậy, hai vợ chồng trẻ còn phải làm việc còng lưng, tróc da, trầy vẩy để trả nợ cưới mà mãi vẫn không xong.

Những tục lệ nào phiền nhiễu và vô lý như thế, không chỉ bị đả kích mà còn vì xã hội đã có nhiều đổi thay, chiến tranh kéo dài, kinh tế khó khăn, tiêm nhiễm văn minh tây phương nên chúng đã phải suy giảm rõ rệt. Tuy nhiên ở ngoài Bắc trước năm 1954, và ở trong nam trước năm 1975, lễ ăn hỏi vẫn còn giữ lại tục lệ chia trầu cau, trà và bánh mứt (thường là bánh dầy, bánh chưng, sau mới đổi ra bánh xu xê – chính là bánh phu thê – hay bánh quế, bánh cốm, mứt sen) cho bà con họ hàng, xóm giềng và bạn bè. Tất nhiên nhà nào nghèo thì chỉ cần chia trầu cau với gói trà nhỏ cũng đủ.

Xưa kia trong Nam chưa có tục chia trầu cau thì lại có tục gửi rể. Trong khoảng thời gian từ lễ giạm đến lễ cưới kéo dài hai ba năm, người con trai phải về nhà vợ ở rể, giúp đỡ cha mẹ vợ mọi việc khi được yêu cầu, thường là những công việc nặng nhọc như cầy cấy, tát nước, dọn nhà, đào giếng… ăn uống thì lại kham khổ khiến nhiều chàng đã phải than thở:

Trời mưa cho ướt lá khoai
Công anh làm rể đã hai năm ròng
Nhà em lắm ruộng ngoài đồng
Bắt anh tát nước, cực lòng anh thay.
Tháng chín mưa bụi, gió bay
Cất lấy gầu nước, chân tay rụng rời!

Chẳng qua chàng trai này vì nhà nghèo, không đủ điều kiện cưới vợ nên khi ở rể phải làm những công việc nặng nhọc để đền bù… nhờ vậy nhà gái mới chịu gả con cho.
Trái lại,chàng trai nào chữ nghĩa lầu thông thì chẳng những nhà vợ nể vì mà còn được phục dịch là đằng khác:
– Ham chi rể học hơn người
Ngồi trên phản vọng còn đòi lửa lư.
(phản vọng là phản kê ở gian giữa, lửa lư là lửa than trong cái đỉnh nhỏ, dùng để mồi thuốc hút)
Như thế ai dám bảo cứ “ở rể” là khổ?

5. Tục cheo cưới 

Ở xứ ta những tục lệ liên quan tới việc cưới xin thì ngoài những lễ nghi đã trình bày ở trên, còn một tục lệ rất đặc biệt và cũng rất quan trọng là tục nộp cheo (tục này không có ở Trung Hoa).

– Nuôi lợn thì phải vớt bèo
Cưới vợ thì phải nộp cheo cho làng.
 

Nộp cheo là gì? Khi người con trai muốn cưới vợ thì phải nộp một khoản tiền hay vật liệu cho làng xã bên người con gái (gọi là cheo ngoại) để chứng thị lễ hôn nhân, rồi xin tờ cheo ở lý trưởng trong làng, tương tự như tờ hôn thú ngày nay.
Muốn cám ơn những hương chức đã xét và đã chấp nhận cuộc hôn phối của họ là phải phép, người con trai ngoài tiền nộp cheo còn phải dẫn thêm xôi thịt, trầu cau, trà rượu để khao đãi các vị.

Ông xã đánh trống thình thình
Quan viên mũ áo ra đình ăn cheo.
 

Bằng chưa nộp cheo, chưa khao đãi thì dù đám cưới đã được cử hành trọng thể giữa hai họ đến thế nào, làng cũng không cần biết, và coi đôi trẻ như chưa thành vợ, thành chồng.

– Ai chồng ai vợ mặc ai
Bao giờ ra bảng, ra bài sẽ hay.
Bao giờ tiền cưới trao tay
Tiền cheo rấp nước mới hay vợ chồng.

Cuộc nhân duyên này sẽ không có gì là vững chắc vì không được làng bảo vệ:
– Có cưới mà chẳng có cheo
Nhân duyên trắc trở như kèo không đinh.

Trai gái cùng làng lấy nhau thì tiền cheo có được giảm bớt (gọi là cheo nội).
Lệ nộp cheo này có xuất xứ từ tục “lan nhai”, tức tục bọn trẻ trong làng nhà gái giăng dây tơ hồng (lụa đỏ) ở cổng hay trên đường làng để đón mừng hôn lễ, có nơi còn đốt pháo. Để cảm ơn, nhà trai mời trầu và thưởng tiền. Dây được cởi ra, đoàn đón dâu tiếp tục lên đường. Về sau nhiều người có ý đồ bất chính, họ giăng dây làm trở ngại đường đi với mục đích vòi tiền. Tiền không nộp đủ, họ không cởi dây cho đi, hoặc họ cắt dây và nói những lời không hay. Nhà trai sợ xui, đồng thời sợ trễ giờ tốt, cứ phải nộp tiền hết chặng này đến chặng khác. Tục “lan nhai” trở thành một tục lệ xấu. Triều đình thấy vậy ra lệnh bãi bỏ và thay vào đấy, cho phép làng được thu tiền cheo. Tiền này sẽ được làng chi dùng vào những việc công ích.

6. Nghệ Thuật Têm Trầu Bổ Cau 

Chúng ta cũng nên biết, trầu cau không chỉ được têm để ăn hay đãi khách hằng ngày mà còn được dùng làm tặng phẩm hay làm lễ vật trong các dịp cúng Phật, tế lễ thần linh, cúng gia tiên hay trong tang lễ, hôn lễ v.v…

Lễ Phật và tế thần linh thì trầu phải để nguyên lá, cau phải để nguyên trái. Riêng lễ bàn thờ gia tiên thì bao giờ trầu cau cũng được têm sẵn để trong cơi hay trên đĩa. Đặc biệt trong lễ cưới, từ miếng trầu đi xin dâu, trầu đặt trên bàn thờ gia tiên hay bàn thờ lễ tơ hồng, hay ngay cả trong các cơi trầu để thết đãi bà con họ hàng đều nhất nhất được o bế cẩn thận. Cau phải bổ làm sao, trầu phải têm thế nào cho có nghệ thuật. 
– Cau non tiễn chũm hạt đào
Trầu têm cánh phượng rọc dao Lưu Cầu

Tại sao thế? Vì quả cau có cùi cứng, dao phải sắc bổ cau mới ngọt, trông mới ngon, cau già cũng tưởng là non:
– Cau già, dao sắc lại non
(Nạ dòng trang điểm lại giòn hơn xưa).
Dao sắc đã có, người ta bắt đầu róc vỏ cau, nhưng phải khéo vì chỉ cắt vứt đi chừng 1/3 vỏ phía dưới thôi, rồi tiễn chũm. Xong đâu đấy, lấy loại dao tỉa thủy tiên khắc hoa trên phần vỏ xanh còn lại. Quả cau trổ hoa hay không đều được bổ dọc chia làm 5 hay 6 phần đều nhau, khi ăn thì tước bỏ chỗ vỏ xanh đi.

Muốn têm trầu cánh phượng thì người ta gấp lá trầu làm hai theo chiều dọc, đoạn đưa một nhát dao hơi xéo vào hai bên phiến lá, khoảng từ giữa lá lên phía cuống, nhưng không được để đứt. Phần giữa lá, xén bỏ hai bên mép lại cho thẳng như têm trầu ăn thường ngày, đoạn phết một chút vôi ở giữa, rồi cuộn tròn lại; sau đó dùi một lỗ ở giữa cuộn trầu, xong gài cuống lá vào cho chặt. Hai rẻo lá hình cong được cắt gần sát cuống lúc đầu, vì không cuộn nên vểnh lên trông như hai cánh con chim phượng.

Hai rẻo lá hình cong vểnh lên ở hai đầu cuộn trầu trông cũng giống hình vành trăng non lưỡi liềm, mà theo thần thoại Trung Hoa thì trên cung trăng, nơi Hằng Nga ở có cây quế nên cung trăng còn được gọi là cung quế, và trầu cánh phượng cũng được gọi là trầu cánh quế.

Têm trầu cánh kiến cũng vậy thôi, chỉ khác là thay vì rọc một đường khá rộng (1cm) hai bên phiến lá thì người ta rọc làm hai, ba đường hẹp, rẻo lá vểnh ra có nhiều cánh nhỏ trông như những cánh của con kiến xòe ra vậy.
Ngày xưa người đàn bà nào mà chả biết têm trầu, bổ cau? Nhưng têm khéo hay không lại là một chuyện khác. Dù sao miếng trầu têm có nghệ thuật cũng làm tôn được giá trị về nữ công, về tài khéo của người phụ nữ. Bởi thế, trong nhiều hội làng, theo tài liệu của Phan Kế Bính trong Việt Nam Phong Tục, người ta vẫn thường tổ chức các cuộc thi têm trầu bên cạnh các cuộc thi nấu cỗ, thổi cơm, làm bánh… để khuyến khích con em.

Miếng trầu têm vô hình trung còn phản ảnh cá tính của người têm nó. Thật thế, nhìn hình ảnh cuộn trầu trông lùng bùng hay tròn trịa, mực thước hay bay bướm; lại qua hương vị của miếng trầu khi thưởng thức, nhạt hay vừa hay mặn vôi, cay thơm dìu dịu hay cay nồng vì quế vì hồi mà đoán biết được phần nào tính nết chủ nhân của nó: cẩu thả hay cẩn thận, vụng về hay khéo léo, giản dị hay cầu kỳ, điềm đạm hay nồng nhiệt …

Chính nhờ miếng trầu têm cánh phượng xinh đẹp, nhà vua trong truyện cổ tích Tấm Cám đã thấy lại những nét thân quen xưa mà nhìn ra vợ.

Chẳng những tính nết người phụ nữ lộ ra qua hình dáng, qua hương vị miếng trầu têm mà còn lộ ra cả trong cách chọn mua từng lá trầu, quả cau nữa kia. Ca dao có câu:
– Mua cau chọn những buồng sai
Mua trầu chọn những trăm hai lá vàng
Cau tiễn ngang, trầu vàng ngắt ngọn
Thời buổi này kén chọn nữa chi
Sao em chả lấy chồng đi!

Ngày xưa những bà những cô nhiều kinh nghiệm, khi đi mua cau thì cứ buồng sai nhắm trước, sau đó mới kén đến quả, vì hễ buồng nào có được một quả cau ngon là cau cả buồng đó đều ngon. Bởi vậy kén được buồng cau ngon cũng không mấy mất công. Cau ngon là cau có dáng trái đào, vỏ màu xanh thúy ngọc nhạt, được mệnh danh là vỏ mã lụa, cùi mềm, thịt trắng nõn và dầy, hạt thì phơn phớt lòng tôm; nhai sẽ thấy giòn, sau lại dẻo và ngọt. Trái lại cau nào vỏ xanh xẫm xịt, thịt teo, hạt nâu đậm và có gân trắng là cau già, nhai sẽ thấy cứng và trát.

Mua trầu thì khác, phải kén từng lá. Lá trầu nào xanh xì là lá già (mọc gần gốc), ăn sẽ cay. Trái lại, lá trầu nào có màu xanh ngả vàng là trầu non (mọc phía ngọn), ăn sẽ thơm và cay dịu. Trầu này được gọi là trầu vàng hay trầu ngọt, trong khi trầu xanh thì gọi là trầu cay.

Như thế đủ thấy người thiếu nữ này quá kỹ lưỡng. Chọn mua cau, mua trầu, soát lá còn cẩn thận đến thế thì kén chồng phải kỹ đến đâu! Chả trách giờ này nàng vẫn chưa chồng khiến cho bao chàng trai phải sốt ruột hộ!

Nhưng tại sao lại phải ngắt lá trầu vứt đi trước khi têm? Theo tài liệu của Hương Giang Thái Văn Kiểm thì chuyện này có một xuất xứ mà ít người còn nhớ.

Chuyện kể rằng vào đời chúa Hiếu Minh Nguyễn Phúc Nguyên (1691 – 1725), O Thảng về làm dâu bà Hương bên chợ Dinh. Nhằm ngày rằm tháng bẩy năm Canh Tý (1720), O Thảng ngoáy trầu cho mẹ chồng ăn như thường lệ, nhưng lần này ăn xong bà cụ ngộ độc, lăn ra chết. O Thảng bị nghi bỏ thuốc giết mẹ chồng nên bị bắt ngay. Trên quận tra khảo thế nào O Thảng cũng một mực kêu oan.
Nhân dịp quan Nội Tán kiêm Án Sát Sứ Nguyễn Khoa Đăng về Hồ Xá (1722), bà lý, mẹ O Thảng đội đơn xin quan tái xét để minh oan cho con gái. Nội Tán tìm hiểu xuất xứ lá trầu bà Hương ăn, biết là trầu nguồn đến từ thượng du Thuận Hóa, do ông em đem về biếu. Ngài liền lên núi, đến tận Cà Lơ thăm nhà người bán trầu nguồn. Sau ba ngày dò xét, ngài phát giác chính rắn hổ mang nơi đây là thủ phạm, loại rắn độc này được tụi Cà Lơ nuôi để lấy nọc, tẩm tên đi săn. Rắn hổ mang đã leo lên dây trầu, liếm giọt sương đầu ngọn lá rồi nhấm nhấm, do đó lá bị ngấm độc.
Chuyện phát giác ra, O Thảng được minh oan và được trả tự do ngay. Từ đó chúa Hiếu Minh ra lệnh cho thần dân, mỗi khi têm trầu phải ngắt ngọn lá vứt đi để tránh hậu họa.
Tập quán này lâu đời bị quên xuất xứ, chỉ còn truyền lại câu ca dao nhắc nhở:
– Ăn trầu phải mở trầu ra
Một là thuốc độc hai là mặn vôi. 

7. Miếng Trầu Trong Cách Ứng Xử Đối Với Tha Nhân 

Từ việc dùng trầu trong vấn đề xã giao, người bình dân xưa đi xa hơn đến việc mượn trầu cau để nói lên quan niệm ứng xứ và bầy tỏ tình cảm của mình đối với tha nhân.

– Đối với bạn bè, bà con láng giềng: tục lệ chia trầu cau trong lễ vấn danh (lễ ăn hỏi) cho khắp họ hàng cũng như cho bà con láng giềng và bạn bè đã nói lên đầy đủ quan niệm ứng xử của người xưa, coi tất cả đều là anh em một nhà, đều được chia vui (cũng như sẽ buồn) như nhau. Một khi đã coi nhau như anh em thì cách đối xử tất dựa trên tình cảm, yêu hay ghét cũng chỉ theo tinh thần “chín bỏ làm mười”: yêu thì cho thêm một chút, ghét thì bỏ bớt một chút, chứ không thẳng thừng “cạn tầu ráo máng”. Thế nên:
– Yêu nhau cau bẩy bổ ba
Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.
Cách ứng xử theo tình nghĩa này còn trải rộng đến khắp cả bà con trong làng, ngoài nước, nói chung về những người cùng một nòi giống, một dân tộc, vì tất cả đều là anh em ruột thịt, cùng một bọc mẹ Việt sinh ra. Từ ngữ “đồng bào” đã giải thích trọn vẹn ý nghĩa này. Và theo thiểu ý, đây chính là một truyền thống tốt đẹp nhất trong đời sống văn hóa dân tộc. Một truyền thống có giá trị tích cực, vĩnh cửa và phổ cập đến mọi tầng lớp trong xã hội.

– Đối với cha mẹ, qua miếng trầu, buồng cau người con gái tỏ được sự săn sóc và lòng hiếu kính.
Khi còn ở nhà thì:
– Cau non khéo bổ cũng dầy
Trầu têm cánh phượng để thầy ăn đêm.
Khi đi lấy chồng xa thì:
– Ai về tôi gửi buồng cau
Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy.

– Đối với người bạn trăm năm, công việc têm trầu cho chồng xơi hằng ngày đã được xem là một bổn phận không thể thiếu của người đàn bà. Những ai biếng nhác têm trầu để đến nỗi chồng thèm trầu phải đi nhờ cô bạn hàng xóm têm hộ:
– Có trầu têm cho anh một miếng
Anh có vợ nhà làm biếng không têm.
thì phải tự hiểu là đã bị chồng chê, và hạnh phúc gia đình có thể từ đó bị đe dọa.
Dưới con mắt người xưa, những người đàn bà sung sướng là những người đàn bà chẳng phải làm gì khác ngoài sự nhàn hạ, thảnh thơi ngồi têm trầu để hầu chồng:
– Cô ấy mà lấy anh này
Chẳng phải đi cấy, đi cầy nữa đâu.
Ngồi trong cửa sổ têm trầu
Có hai thằng bé đứng hầu hai bên.

Nói chung, người dàn bà yêu chồng, biết để ý săn đón, chiều chuộng từng thói quen, từng ý thích của chồng tất không bao giờ quên sửa soạn sẵn một đĩa trầu thật ngon, chờ chồng sau mỗi bữa cơm chiều:
– Tôi đà biết tính chồng tôi
Cơm thôi thì nước, nước thôi thì trầu.
Và những giờ phút hạnh phúc tuyệt vời nhất trong cuộc đời tính ái lứa đôi của họ chẳng là những giờ phút riêng tư, giữa đêm khuya thanh vắng, đôi vợ chồng cùng chung hưởng những miếng trầu ngon do chính tay người vợ têm sẵn, dành riêng cho họ đó sao?
– Ðêm khuya thiếp mới hỏi chàng
Cau xanh ăn với trầu vàng xứng không ?
– Trầu vàng nhá với cau xanh
Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời !

Hạnh phúc của người xưa giản dị thế đó nhưng cũng đằm thắm và mặn nồng biết bao!
Những khi người chồng có việc phải đi xa, bất kể vì công tác gì, thì người vợ dù có bận đến đâu cũng cố gắng lo chăm sóc thật chu đáo những gói trầu hay những túi trầu têm sẵn để tiễn chồng lên đường.

Này đây là người chồng sắp ra đi vì nghĩa vụ quân dịch, vợ chàng đã sửa soạn túi trầu ra sao cho chàng đem theo ăn đường?
– Trời mưa nước dội dọc dừa
Sắp tiền anh trẩy bây giờ nàng ơi!
Quan trên có lệnh về đòi
Tôi vâng lệnh người, tôi phải bước ra.
Túi vóc mà cải bốn hoa
Hai tay hai túi mở ra, khép vào.
Cau non tiễn chũm hạt đào
Trầu têm cánh phượng rọc dao Lưu Cầu
Trầu em têm những vôi tàu (6)
Anh cất miếng trầu, anh bước chân đi.

Ngay người vợ quê nghèo nhất, không tiền mua vóc, mua gấm, không có tài thêu phượng, kết hoa may túi đựng trầu cho chồng, nhưng trong khả năng của mình, nàng cũng cố chọn cho được mớ “trầu lộc” là những lá trầu ra lứa đầu vừa ngon, vừa quí, rồi cẩn thận bọc trong chiếc lá dừa, cốt bảo vệ cho trầu được tươi lâu để chồng mang theo:
– Lính này có vua có quan
Nào ai bắt lĩnh cho chàng phải đi
Nay trẩy Kim Thì, mai trẩy Kim Ngân.
Lấy nhau chửa được ái ân
Chưa được kim chỉ Tấn Tần như xưa.
Trầu lộc em phong lá dừa
Chàng trẩy mười sáu, em đưa hôm rằm.

Còn đây là một chinh nhân vào hàng võ tướng thì người vợ chăm chút gói trầu như thế nào khi tiễn chồng cất bước hành quân?
– Trèo lên trái núi mà coi
Coi ông quản tượng cưỡi voi, đánh cồng.
Túi gấm cho lẫn túi hồng
Têm trầu cánh kiến cho chồng trảy quân.

Lại nữa, nếu người chồng là một anh đồ sắp lên đường ứng thí, người vợ muốn lấy lòng chồng sẽ o bế túi trầu tiễn hành ra sao?
– Túi gấm cho lẫn túi hồng
Têm trầu cánh quế cho chồng đi thi.
Mai sau chàng đỗ vinh qui
Võng anh đi trước, em thì võng sau.
Tàn quạt, hương án theo hầu
Rước vinh qui về nhà bái tổ
Ngả trâu bò làm lễ tế vua.
Họ hàng ăn uống say sưa
Hàng tổng, hàng xã mừng cho ông nghè.

Nếu chúng ta để ý tất sẽ thấy ngay là ở những trường hợp hai vợ chồng sắp phải chia xa, người vợ nào cũng cố đem hết tài khéo léo nữ công nữ hạnh của mình để sửa soạn cho chồng những miếng trầu đẹp nhất, đặc biệt nhất. Thôi thì trầu têm cánh phượng, thôi thì trầu cánh kiến, trầu cánh quế, đủ cả. Vì sao vậy? Vì nàng nào cũng hiểu rằng:

-Miếng trầu lúc này có giá trị của một tặng phẩm, biểu tượng cho sự may mắn. Nàng muốn chúc cho người chồng mọi sự hanh thông, mau mắn thành công, đắc ý trở về.

-Miếng trầu lúc này vô hình trung gắn liền với hình ảnh của nàng. Trên bước hành trình vất vả của chồng, khi giở trầu ra ăn, nhìn thấy miếng trầu xinh đẹp, ăn vào thấy lại hương vị thơm ngon nồng ấm quen thuộc, chồng nàng sẽ nhớ ngay tới nàng và cảm thấy được an ủi, tưởng như nàng vẫn luôn ở bên cạnh để săn sóc cho chàng.


-Miếng trầu lúc này là những gợi nhớ bao nhiêu kỷ niệm yêu đương, gắn bó giữa hai vợ chồng. Khi xa nhau người ta mới dễ, mới thích hồi tưởng lại những kỷ niệm đẹp xưa, tình yêu vì thế có cơ hội được hâm nóng và bồi dưỡng thêm.

Như thế miếng trầu lúc này đã gói ghém, đã chuyên chở bao nhiêu tình ý của nàng đối với chồng. Và túi trầu được nàng trân trọng và ây yếm trao tặng cho chàng trong giây phút chia ly ấy sẽ nói dùm nàng tất cả.
Vâng tất cả đó sẽ giúp chồng nàng thêm nghị lực, thêm hăng hái hoàn thành nghĩa vụ một cách tốt đẹp, để sớm được trở về xum họp với nàng, người vợ rất mực yêu thương ở quê nhà đang ngày ngày tha thiết mong ngóng chàng về.

8. Trầu Cau Qua Những Câu Ca Dao Ví Von 

Còn một điều lý thú cuối cùng chúng tôi muốn nêu ra ở đây, là khi tìm tài liệu cho bài thuyết trình “Trầu cau trong đời sống văn hóa dân tộc”, chúng tôi đã nhặt ra được rất nhiều những câu ca dao ví von thật hay, có liên quan tới trầu cau.

Điều này chứng tỏ người bình dân ta xưa rất ưa ví von. Và trầu cau đã thực sự gắn bó thiết thân vào đời sống tâm tư của họ, đến độ mỗi khi họ nhìn một người nào, nghĩ đến một chuyện gì, họ thường có thói quen liên tưởng, so sánh để cảm nhận về người đó, chuyện đó qua những hình ảnh, hương vị, mầu sắc của trầu cau, hay những vật dụng liên quan tới trầu cau. Sự ví von so sánh này rất tài tình khiến cho những vấn đề dù tế nhị đến đâu cũng trở thành rõ ràng trong sáng, đôi khi còn dí dỏm và sâu sắc nữa.

Như nói về nhan sắc của người thiếu nữ, khi vừa chớm tuổi dậy thì, đôi nhũ hoa mới nhú lên trông có khác nào “cau buồng còn non”?

– Trên đầu em đội khăn vuông
Nhìn xuống dưới ngục, cau buồng còn non.
Lại đến khi các nàng vào độ đào tơ mơn mởn, xinh tươi, hấp dẫn, thì quả là đúng thời “cau non vừa độ hái”:
– Vào vườn hái quả cau non
Anh thấy em giòn muốn kết nhân duyên.
Hai má có hai đồng tiền
Càng nom càng đẹp, càng nhìn càng ưa.

Cô gái nào có vẻ mặt bầu bĩnh dễ thương thì lá trầu nõn vàng, hình trái tim tròn trịa, duyên dáng kia hẳn sẽ là một hình ảnh diễn tả thi vị nhất:
– Trầu vàng nhỏ lá, rau giấp cá nhai giòn
Khéo khen phụ mẫu sinh em mặt tròn dễ thương.

Vẻ đẹp của phái nữ thường chia làm hai loại, có vẻ đẹp ngoan hiền:
– Trầu lên nửa nọc trầu vàng
Đội ơn phụ mẫu sinh nàng dễ thương.
Có vẻ đẹp sắc sảo:
– Cổ tay em trắng như ngà
Con mắt em biếc như là dao cau.

[/center]
Đến khi người phụ nữ lấy chồng, đã có cả bầy con, tuổi đời đã chín, nhưng nếu nàng biết khéo léo điểm trang thì ai dám bảo là không đẹp?
– Cau già, dao sắc lại non
Nạ dòng trang điểm lại giòn hơn xưa.

Những câu ca dao ví von về hạnh phúc tình yêu và hôn nhân cũng thật là dí dỏm. Như trường hợp trai gái vừa nhìn thấy mặt nhau đã ưng liền, hợp liền, khác nào “con dao vàng rọc lá trầu vàng”. Người ta bảo đó là “diện cảm thường tình” hay “phải lòng mặt” rồi. Trường hợp này thì đố tránh khỏi cảnh mắt đi, mày lại:
– Con dao vàng rọc lá trầu vàng
Mắt anh anh liếc, mắt nàng nàng đưa.

Trong thời gian yêu đương, người con trai thường thực tế, luôn luôn ao ước được gần gụi người thương:
– Ước gì anh hóa ra cơi
Để cho em đựng cau tươi, trầu vàng.

Trong khi đó người thiếu nữ lại ưa mơ mộng, hay tơ tưởng tới những chuyện hạnh phúc, tình nghĩa còn xa vời :
– Trầu xanh, cau trắng, chay hồng
Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên.

Lại nói đến chuyện hẩm hiu, nếu chẳng may người thiếu nữ đã đến tuổi trầm cài, lược giắt, má phấn môi son mà vẫn chưa có đối tượng thương yêu thì tránh sao khỏi tủi buồn cho số phận:
– Cau non, trầu lộc mỉa mai
Da trắng, tóc dài đẹp với ai đây ?

Đêm đêm nàng nhìn chăn, nhìn chiếu mà than thầm cho cảnh ngộ cô đơn bóng chiếc của mình:
– Có trầu, có vỏ, không vôi
Có chăn, có chiếu, không người nằm chung.

Nói chi đến những nàng đã từng được yêu, nay vì gặp cảnh trắc trở không lấy được người thương mới càng muộn phiền đến đâu, đến nỗi chẳng còn thiết làm ăn gì :
– Yêu nhau chẳng lấy được nhau
Con lợn bỏ đói, buồng cau bỏ già.

Lại những kẻ bị phụ tình nghĩ sao mà cay đắng, “Khi xưa ta vẫn ăn trầu một cơi”, hạnh phúc chung đôi là thế mà giờ đây phải xa lìa nhau. Vì sao? Vì sao?
– Bây giờ anh bắt gặp nàng
Hỏi sao lá ngọc, cành vàng xa nhau?
Xa nhau, ta mới xa nhau,
Khi xưa ta vẫn ăn trầu một cơi.

Những kẻ thất tình đã vậy, những người đàn bà lấy chồng, gặp phải chồng hư hèn không xứng đôi vừa lứa, kém bè kém bạn cũng buồn sao là buồn, đến hao mòn cả thể xác:
– Hai tay sách nước tưới trầu
Trầu bao nhiêu lá, dạ sầu bấy nhiêu.
– Trầu vàng ăn với cau sâu
Lấy chồng kém bạn những rầu mà hư.

Nhiều người đàn bà khác lại không chịu nổi nỗi cay đắng của cảnh gia đình nay hợp mai tan, tình duyên trỏng trảnh, chẳng có gì bền vững; thôi thì đành một lần dứt đi cho xong, nuối tiếc làm gì, kéo dài chỉ thêm mua khổ vào mình:
– Trầu nào cay bằng trầu xà-lẹt
Thịt nào khét bằng thịt kên kên.
Đôi ta gá nghĩa không bền
Dứt đi cho rảnh, xuống lên làm gì?

Ngoài ra ca dao cũng còn mượn nhiều hình ảnh cây trầu, cây cau để ví von về nhiều vấn đề tế nhị khác nữa. Như khi nói đến thời gian mà người ta nhắc tới thành ngữ “nhai dập bã trầu” thì phải hiểu họ muốn nói đến một thời gian rất ngắn, chừng trên dưới một hai phút đồng hồ thôi. Trái lại, khi nói đến một thời gian dài, ca dao có khá nhiều câu ví von để chúng ta có thể dựa vào đó mà ước tính:

T.D.1 – Thương thì chờ đợi năm sau
Chờ cau lớn trái, lột tầu sẽ hay.
T.D.2 – Thương nhau hẹn lại năm sau
Cho trầu ra lộc, cho cau trổ buồng.

Tất nhiên chúng ta hiểu ngay, thời gian chờ đợi ở thí dụ 2 ngắn hơn ở thí dụ 1.
Lại như câu:
– Thương nhau cau hết nửa buồng
Trầu hết nửa chợ chưa tường mặt nhau.
là muốn nói, chàng trai than phiền về thời gian “ở rể” đã lâu mà chưa được gặp mặt vợ.

Lại như khi nói về :
Cảnh nhà nghèo thì:
– Nhà anh lợp những mo nang
Nói láo với nàng nhà ngói ba gian.
Cảnh tình nghèo thì :
– Đôi ta như thể cây cau
Anh bẹ, em bẹ, nương nhau ở đời
Anh đừng thấy khó đổi dời
Tiền tài phấn thổ, nhân ngãi đời thiên kim.
Mẹ già cả lo thì:
– Mẹ già lo bẩy lo ba
Lo cau trổ muộn, lo già hết duyên.
Số phận không may thì:
– Chẳng qua ái số muộn màng
Buôn trầu gặp nắng, buôn đàng gặp mưa.
Những kẻ ngu đần thì:
– Mặt nạc, đóm dầy
Mo nang trôi xấp biết ngày nào khôn.
Trai già chưa vợ thì:
– Cau không buồng gọi là cau đực
Trai không vợ cực lắm ai ơi.

Nhưng trong tất cả các câu ca dao của ta thuộc loại ví von, có liên quan tới trầu cau thì bài “Thằng Bờm có cái quạt mo” phải kể là hóm hỉnh và sâu sắc nhất.

Thật thế, cái quạt mo của thằng Bờm chẳng có giá trị là bao, ấy vậy mà lại được phú ông gạ gẫm xin đánh đổi với bao nhiêu tài sản quí giá, có thứ cả đời Bờm cũng không dám mơ ước tới:
-Thằng Bờm có quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu
Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu;
Phú ông xin đổi ao sâu cá mè
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè;
Phú ông xin đổi một bè gỗ lim
Bờm rằng Bờm chẳng lấy lim;
Phú ông xin đổi đôi chim đồi mồi
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi;
Phú ông xin đổi nắm xôi, Bờm cười !

Phú ông muốn đề nghị gì thì đề nghị, Bờm vẫn lắc đầu quầy quậy, chỉ đến khi phú ông đưa nắm xôi ra đổi, nó mới khoái chí cười chấp thuận.
Tại sao thế? Bờm có ngu không? Không đâu, vì nó rất hiểu, chỉ có nắm xôi mới ngang bằng giá trị cái quạt mo của nó, đổi như thế mới là hợp lý; lại nữa , vì nắm xôi là vật cụ thể trước mắt, mới có thể “tiền trao, cháo múc”. Còn những lời đề nghị về những thứ của cải cao sang kia, ở mãi đâu đâu, chắc chắn chỉ là những lời hứa hẹn hão huyền, không bao giờ được thực hiện.

Bài ca dao Thằng Bờm không chỉ mang tính cách bông đùa dí dỏm quanh cuộc trả giá cái quạt mo giữa phú ông và thằng Bờm , mà còn hàm chứa một ý nghĩa sâu sắc.

Ở đây sự ví von đã đạt mức trình độ nghệ thuật cao, thằng Bờm và phú ông là những nhân vật biểu tượng :
– Thằng Bờm tượng trưng cho những người bình dân Việt Nam, xưa nay vốn tính hiền lành, chân thật, nhưng có đầu óc tỉnh táo, thực tế, chỉ yêu quí những gì thiết thân với đời sống hằng ngày của mình, như cái quạt mo, như nắm xôi .

– Phú ông tượng trưng cho những kẻ ăn trên ngồi trốc trong xã hội, vì lòng tham không đáy, họ sẵn sàng dùng thủ đoạn phỉnh phờ để lường gạt dân đen hầu cướp đoạt của cải, ngay đến những thứ nhỏ nhoi nhất – như cái quạt mo – chẳng đáng giá gì đối với họ, họ cũng không từ.
Như thế, bài ca dao Thằng Bờm đã cho chúng ta một bài học khôn ngoan : Hãy bắt chước Bờm, phải luôn luôn tỉnh thức để không bao giờ bị những lời đường mật của kẻ quyền thế ( tiền của luôn luôn đi đôi với quyền thế ) phỉnh gạt hòng cướp không của cải của ta. Ngày nay chúng ta còn có chiều hướng bàn xa hơn khi nói đến quyền sống tự do, dân chủ căn bản của mỗi con người.
Tóm lại, cái lối ưa ví von để diễn đạt tình cảm, tư tưởng này đã tạo nên một phong cách riêng cho ngôn ngữ nói và cho văn chương bình dân truyền khẩu Việt Nam. Đây cũng là một sắc thái độc đáo trong đời sống văn hóa dân tộc. 

Kết luận 

Sau khi đã trình bầy một số vấn đề có liên quan tới trầu cau trong đời sống văn hóa dân tộc, chúng tôi xin đi đến kết luận:

Kể tất cả các dân tộc có tục ăn trầu ở miền Á Đông này, có lẽ chưa một dân tộc nào lại quí và khoác cho miếng trầu, quả cau nhiều ý nghĩa như dân tộc Việt Nam mình.

Trong văn chương Việt Nam thì chưa có một loại cây cỏ nào lại được ca ngợi và nhắc nhở đến nhiều như cây trầu, cây cau.

Trong các loại thảo mộc được trồng trọt ở xứ ta thì cũng không có một loại thảo mộc nào lại được người dân khai thác kỹ lưỡng như cây trầu, cây cau. Từ giá trị vật chất nhỏ nhoi “ba đồng một mớ trầu cay” đến giá trị cao quí khi nó trở nên một tặng phẩm hay một lễ vật. Từ đời sống tinh thần cá nhân (tình cảm riêng tư) đến đời sống gia đình (tình cảm anh em khắng khít, tình vợ chồng đằm thắm, thủy chung trong sự tích Trầu Cau), đến tinh thần xã hội (trầu cau biểu tượng cho một triết lý nhân sinh đặc thù Việt Nam, lấy tình nghĩa mà khu xử ở đời).

Ngày nay xã hội Việt Nam đã quá đổi thay, một phần vì hoàn cảnh chiến tranh kéo dài hàng mấy thập niên, một phần do ảnh hưởng văn hóa Âu Mỹ đưa tới … Những thế hệ Việt Nam sinh từ 1930 trở đi đã bắt đầu bỏ tục ăn trầu, người ta không còn coi miếng trầu là phương tiện giao tế hằng ngày nữa, giới trẻ cũng không còn mượn miếng trầu để tỏ tình, và nhiều gia đình cũng đã bỏ luôn tục lệ chia trầu cau trong những kịp lễ hỏi…

Rồi đây hình ảnh thơ mộng của những giàn trầu, những hàng cau tất sẽ không còn phất phới trên khắp các nẻo đường quê hương đất nước nữa. Nhưng văn chương bình dân truyền khẩu còn đó, lại được đem giảng dạy tại học đường, thì tôi tin chắc rằng nó vẫn đóng trọn được vai trò giáo dục và bồi dưỡng tâm hồn người Việt Nam, để muôn đời con cháu chúng ta vẫn biết sống theo quan niệm triết lý tình nghĩa trầu cau, một truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc.
Chúng ta hiện đang sống ở hải ngoại thì việc bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc, những tinh hoa của nòi giống tất nhiên đã là hoài bão chung của phần đông bà con chúng ta. 

Sự bảo tồn này chắc chắn sẽ không làm trở ngại bước tiến của giới trẻ trên đường hội nhập vào xã hội mới, mà trái lại còn tạo cho họ một tiềm năng, một cơ sở dễ nhận biết, so sánh, phê bình và lãnh hội những giá trị mới. Cuộc sống của họ vì thế càng thêm ý nghĩa và phong phú.


Chú Thích 
(1) Tài liệu Trần Quốc Vượng, Trong Cõi, mục Triết lý trầu cau, trang 139
(2) Có thể xem thêm bài “Vài nét về tục ăn trầu trên thế giới” của Thúc Nguyên, Paris, sắp in, và xem thêm cuốn “Le Monde Chinois” của Jacque Gernet, trang 25
(3) Dân Việt ta xưa có truyền thống thờ các vị thiên thần (Huyền Thiên Trấn Võ, Phù Đổng Thiên Vương …), nhiên thần (thần đá, thần cây, thần sông nước), nhân thần (gồm các vị anh hùng liệt sĩ có công với dân với nước và những người có đức hạnh trung liệt, tiết nghĩa…). Họ tin tưởng rằng những vị thần này có khả năng bảo vệ và phù hộ cho những người tại thế. Xem thêm cuốn “Thần, Người và Đất Việt” của Tạ Chí Đại Trường, Văn Nghệ xb, Cali 1989.
(4) Trong sách Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim có ghi 24 điều huấn dụ của vua Lê Thánh Tông (1460-1497), sức cho dân xã để giảng dạy con em giữ lấy thói tốt về đạo nghĩa vợ chồng, anh em v.v… 
.(5) Sách Đại Việt Sử Lược do Trần Hy Tộ hiệu đính có chép: “Đến đời Trang Vương nhà Chu (696-682 trước TL) ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp
phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu nước là Văn Lang… Truyền được18 đời đều gọi là Hùng Vương”.
(6) Cau đậu: Cau khô nguyên hạt, thứ nhỏ trái, có tiếng là nhai dẻo, ngon.
(7) Câu này đáng lẽ phải nói là:
– Trầu này têm những vôi “hầu”
– Trầu em têm những vôi “hầu”
vì theo Thúc Nguyên, vôi ăn trầu do việc nung đá vôi hay vỏ sò, vỏ hầu mà có. Vôi sò, vôi hầu ngon và hiếm nên quý, chứ vôi Tàu có khác gì vôi ta, có gì là quý.
(8) Không riêng gì dân tộc ta mới có tục lệ dùng trầu cau trong các nghi lễ cưới hỏi. Trong cuốn Dictionnaire des Symboles Chinois (trang 236) Wolfram Eberhard cho biết, một số dân tộc thiểu số ở miền Nam Trung Hoa cũng có tục dùng trầu cau làm lễ cưới, và họ cũng dùng những cơi bằng bạc hay bằng thiếc để đựng trầu. 

Tài Liệu Tham Khảo 

. Bảo Định Giang – Nguyễn Tấn Phát – Trần Văn Vĩnh – Bùi Mạnh Nhị, Ca dao dân ca Nam Bộ. Nhà xb TP.HCM, 1984.
. Đỗ Thì Kênh G, Đám cưới, Thế Kỷ 21, số 88, tháng 8-96.
. Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc VN, nhà xb KHKT, Hà Nội 1983.
. Diên Khánh, Hôn Lễ, Làng Văn số 142, Canada, 1996.
. Jacques Gernet, Le monde Chinois, A.Colin, 2è éd. 1987.
. Khiếu Đức Long, Đặc tính gốc nước của nền văn hóa VN, Vietnamoligica, số 1, Canada 1995.
. Lê Hữu Mục, Lĩnh Nam Chích Quái, nxb Tân Việt, Hoa Kỳ, 1982.
. Nguyễn Trúc Phương, Văn học bình dân, nxb Sống Mới, Sàigòn 1964.
. Nguyễn Hướng (Dallas), Nam Phổ… trèo cau, Làng Văn số 135, Canada, 1995.
. Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Tục ngữ phong dao, nxb Mặc Lâm, Sàigòn 1967.
. Phan Kế Bính, VN Phong tục, nxb Bút Việt, Sàigòn, tháng 2, 1975.
. Trần Trọng Kim, VN sử lược, IQ, Bộ Giáo Dục SG xb.
. Thái Văn Kiểm, Lá trầu định mệnh, Nguyệt San Thế Giới, Austin, Texas, tháng 8, 1996.
 


Thảo luận cho bài: "Trầu Cau Trong Đời Sống Văn Hóa Dân Tộc"