Triết Lý Trầu Cau

Tác giả:

“Miếng trầu đầu câu chuyện”. Một cư dân, một dân tộc qua nghìn năm (hạt cau đã được tìm thấy trong di chỉ khảo cổ thuộc văn hóa Hòa Bình, cách ngày này trên dưới một vạn năm) đã điều chế được một hệ thống ứng xử vô cùng lịch sự qua triết lý trầu cau và sự mời trầu…

Tình nghĩa vợ chồng: xã hội Việt Nam truyền thống lấy gia đình (nhà) làm bản vị:

Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá bạc như vôi

(Hồ Xuân Hương)

Nhìn miếng trầu têm, một hòa sắc trên “gam” mầu mát: quả cau xanh (vỏ) trắng (thịt) vàng tươi (hạt). Lá trầu xanh… vôi trắng… miếng vỏ đỏ tươi… “chia ba, hòa một”, nơi “thống nhất” cái môi miệng con người. Lối hòa hợp: cái sự nhai trầu của chính con người. Và kỳ lạ thay: sự “tổng hợp” đưa lại một mầu đỏ thắm, mầu của máu, của sự sống, sự sống vĩnh hằng, sự sống vô biên…Miếng trầu tỏ tình:

Vào vườn hái quả cau xanh Bổ ra làm sáu mời anh xơi trầu Trầu này trầu tính, trầu tình, Trầu loan, trầu phượng, trầu mình lấy ta.

Cái “bạo dạn” của người thôn nữ xưa không đi “quá” đến sự “trâng tráo” mà được “cân bằng” lại bằng sự “giữ gìn”, giữ lấy cái mà phương Tây xem là “nữ tính” hơn cả: tính e thẹn:

Sáng nay em đi hái dâu Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn Hai anh đứng dậy hỏi han Miệng nói tay cởi túi trầu mời ăn. Thưa rằng: Bác mẹ em răn Làm thân con gái chớ ăn trầu người…

Đó là nghệ thuật chối từ mà giờ đây ít ai chịu học vì đã quá quen với sự “thu nhận”.

Phép biện chứng vừa bạo dạn, vừa e thẹn đúng nơi, đúng lúc, là nghệ thuật sống của người thanh nữ…

Bởi “nhận trầu” khi trước là “siêu ngôn ngữ” của sự “nhận lời”. Người ta cầu hôn bằng trầu cau. Người ta đi “hỏi vợ”, đi “chạm ngõ”, đi “ăn hỏi” bằng cau trầu. Lễ cưới ngày xưa cũng nhất thiết phải có trầu cau. Đó là một nghi thức rất Việt Nam, độc đáo Việt Nam, mang bản sắc Việt Nam mà giờ đây, không chắc đã nên bỏ đi cả, duy có điều là nên giảm bớt, chỉ giữ lại như một “biểu tượng” tốt đẹp, tốt lành…

“Nên vợ, nên chồng” rồi, thì khi người chồng ra đi vì việc công vì việc quân, người vợ đảm cũng têm trầu, giữ tình nghĩa nơi miếng trầu tiễn chồng ra trận:

Túi gấm cho lẫn túi hồng Têm trầu cánh kiếm cho chồng đi quân.

Một giá trị đẹp, một cử chỉ đẹp. Đẹp và lịch sự. Duyên thầm. Tình ẩn. Tiềm ẩn nơi miếng trầu. Một lời chúc phúc. Một ý mong chiến thắng: ở nhà, trầu loan, trầu phượng. Đi quân! Trầu cánh kiếm…

45

Miếng trầu, đơn giản thế thôi: Trầu, cau, vôi, nếu có thể thêm tí vỏ, viên thuốc lào (với người ăn “trầu thuốc”). ấy thế mà miếng trầu mang đậm “cá tính con người”. Người ta têm trầu là để mời trầu, mời người khác ăn trầu. Điếu thuốc lá công nghiệp ngày nay là phi cá tính. Còn miếng trầu thủ công nghiệp ngày xưa đã được cá tính hóa (có phải cứ “tiến lên” công nghiệp hóa là bỏ sạch thủ công đâu? Còn phát triển (đúng hướng) thủ công là đằng khác!).

Nhìn miếng trầu, đã biết được con người “têm” nó. Chàng hoàng tử trong truyện cổ tích nhận ra nàng (Tấm) là do miếng trầu, là nhờ miếng trầu. ở cái dáng đẹp (hay xấu) của miếng trầu têm, ở nếp gấp lá, cài trầu ở cái cánh trầu…

Ăn miếng trầu, càng biết được “tính nết” người têm nó. Giản dị hay cầu kỳ. Đậm đà hay nhạt nhẽo. Do chất lượng và số lượng vôi bôi trên lá trầu. Và có khi miếng trầu “ở giữa đậm quế hai đầu thơm cay”…

Thảo luận cho bài: "Triết Lý Trầu Cau"