Trịnh Công Sơn: Cánh Hạc Huyền Hoại

Tác giả:

Nhiều năm rồi, tôi có thói quen viết về Sơn mỗi độ xuân về, đó cũng là cái cớ để thăm Sơn. Cùng sống trong một thành phố, nhưng loay hoay cả năm rất ít dịp viếng thăm nhau. Có lần, Lưu Trọng Văn nói với tôi, viết về Trịnh Công Sơn không bao giờ hết chuyện…

Mồng 5 Tết, tôi vào Bệnh viện Chợ Rẫy cùng với họa sĩ Trịnh Cung thăm Trịnh Công Sơn. Lần này, anh bị viêm phổi nhẹ. Trước Tết, anh đã đợc đưa vào đây vì biến chứng của bệnh tiểu đờng. Ngay lần đó, tôi đã có ý định thăm anh khi anh vừa trở về nhà và nhân tiện thực hiện một bài trao đổi với anh cho số báo Xuân. Nhưng cuộc hẹn cận ngày không thành do Sơn phải vào viện tái khám.

… Sơn vẫn nằm trên giường khi nói chuyện với chúng tôi, nhưng trông anh khỏe khoắn, thần sắc tinh anh. Tôi chợt cười thầm trong bụng bởi ý nghĩ thú vị vụt đến. Con người gầy gò và nhẹ bẫng này đang mang nhiều thứ bệnh trong người, tưởng như dễ dàng rơi vào tay tử thần, lại là một “chiến sĩ bám trụ” với cuộc sống dữ dằn nhất.

Cách đây mấy năm, Sơn bị đưa vào bệnh viện cấp cứu trong tình trạng hôn mê. Lần đó, bạn bè thật sự lo lắng cho anh. Cuối cùng Sơn vẫn trở về an toàn. Gặp lại Sơn tại nhà riêng của anh lần đó, tôi tò mò hỏi: “Đúng là ông đã trở về từ cõi chết, vậy ông suy nghĩ gì về… cái chết?”.

Tôi vẫn gọi Sơn như thế, từ “ông” đợc dùng theo cách xưng hô thân mật. Sơn không cần suy nghĩ, trả lời ngay “Chết là thiệt thòi. Người Pháp nói: Les absents ont toujours tort. Chết, mình không còn được họp mặt với bạn bè, không còn được ngắm cuộc đời rất đẹp này”. Nhớ câu trả lời cách đây mấy năm, tôi lại tò mò muốn biết nằm trên giường lần này, anh nghĩ gì. Câu trả lời của anh nhanh hơn và gọn hơn lần trước: “Mình muốn ra khỏi đây càng sớm càng tốt!”.

Thái độ của Trịnh Công Sơn đối với cuộc sống rõ ràng và dứt khoát như thế.

Hãy cứ vui chơi cuộc đời
Đừng cuồng điên mơ trăm năm sau,
Còn đây em ngọt ngào
Đứng bên ngày yêu dấu
Nhìn mây trôi đang tìm về núi cao
(Hãy cứ vui như mọi ngày)

Vóc dáng mảnh khảnh quen thuộc của Sơn với mọi người trong những năm qua, khiến không ai có thể nghĩ rằng Sơn đã có một thời trai trẻ là con nhà thể thao chính cống. Mỗi buổi sáng anh đều quần một hai hiệp quyền Anh. Anh đồng thời còn là đệ tử Vovinam từ những ngày đầu môn này đợc thành lập tại Sài Gòn và là vận động viên điền kinh 10 môn. Nếu người em trai của Sơn không tung một cú quật, khiến ngực anh đập mạnh xuống sàn nhà làm vỡ mạch máu phổi phải nằm giường suốt hai năm, thì chắc chắn chúng ta chỉ có một vận động viên Trịnh Công Sơn… (chưa hẳn xuất sắc?) và mất đi một Trịnh Công Sơn – tài năng âm nhạc.

Đó là khúc quanh cuộc đời của anh. Sơn nói: “Trên giường bệnh, mình suy nghĩ rất nhiều…”. Khi rời giường bệnh năm 1957, trong anh đã có một đam mê khác – âm nhạc. Với nhiều người, tác phẩm đầu tay của Sơn là “Ướt mi”. Nhưng Sơn tiết lộ “Bản nhạc đầu tiên đúng nghĩa của mình có tên “Sương đêm”. Không ai biết sáng tác này. Nó đã bị thất lạc. Bản thân mình cũng không nhớ lời và nhạc như thế nào?”.

Tác phẩm đầu tiên của Sơn, như công chúng yêu nhạc biết, đã được Thanh Thúy – nữ ca sĩ thời thượng những năm 50 có “giọng ca liêu trai” – trình diễn đầu tiên tại phòng trà Văn Cảnh. Không giống suy nghĩ chung của nhiều người, Khánh Ly không phải là người đầu tiên và duy nhất hát thành công nhạc Trịnh Công Sơn trước năm 1975. Sau Thanh Thúy, một giọng ca lừng danh khác của Sài Gòn thời đó góp phần giới thiệu các tác phẩm của Sơn – đó là Lệ Thu.

Khánh Ly là người thứ ba và là người hát toàn bộ các nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn. Lần đầu chính Sơn chủ động tiếp xúc với Khánh Ly tại phòng trà Night Club ở Đà Lạt bằng cách tự giới thiệu mình là tác giả bản Ướt mi. Sau một tháng tập đến bể cả giọng, Khánh Ly cùng Trịnh Công Sơn xuất hiện lần đầu tại sân sau của Đại học Văn khoa (hiện là Thư viện thành phố Hồ Chí Minh trước 5000 sinh viên. Khánh Ly trình bày luôn 24 sáng tác của Sơn trong đêm đó. Sau đó, Khánh Ly đã nói với Sơn: “Trớc đây mình chỉ hát trong phòng trà, lần đầu tiên hát trước hàng ngàn sinh viên, tối đó mình không làm sao ngủ được”. Đó là năm 1965, các sáng tác của Sơn bấy giờ đều là tình ca.

Đến năm 1968, Sơn mới sáng tác nhạc phản chiến. Cũng từ đó nhạc của Sơn bị chính quyền Sài Gòn cấm phổ biến (“nỗi buồn trên ấy” trong bài “Những mùa thu đi” bị chính quyền Sài Gòn quy chụp là “nỗi buồn trên chiến khu; còn “Mưa hồng” lại bị hỏi: mưa làm sao hồng được?).

Tôi hỏi Sơn: “Ông không sống nhiều ở Hà Nội sao ông sáng tác về Hà Nội như người Hà Nội?”. Và Sơn kể: “Mình rất yêu Hà Nội. Năm 1985, mình cùng ba đồng nghiệp được Bộ Văn hóa Liên Xô mời thăm Liên Xô, khi trở về, mình ở lại Hà Nội luôn một tháng. Mỗi sáng, mình và Thái Bá Vân đi loanh quanh Hà Nội gặp bạn bè. Chiều nào cả hai cũng lên Hồ Tây, nằm bên hồ với chai Ararat, uống lai rai và nhìn bầy sâm cầm đáp xuống bay lên”.

Chiều thu hồ Tây, mặt nước vàng lay, bờ xa mời gọi.
Màu sương vương nhớ, bầy sâm cầm nhỏ, vỗ cánh mặt trời
(Nhớ mùa thu Hà Nội)

Hình như Trịnh Công Sơn có đến hai bài sáng tác về Hà Nội và chẳng có bài nào viết cho Huế. Tôi hỏi anh điều ấy. Sơn không trả lời thẳng thắc mắc của mình mà nói “Có lần Hoàng Hiệp phát biểu, bài nào của Sơn cũng có Huế trong đó mặc dù không có nói Huế trực tiếp”.

Thêm một thắc mắc… tò mò khác “Có bao giờ ông nghĩ đến chuyện lấy vợ?”.
“Có một lần thoáng qua lúc mình còn trẻ. Nhưng thời đó, các cô gái ít chịu lấy những ông chồng nghệ sĩ sống bấp bênh!”

“Nhưng ông yêu nhiều phải không? Bao nhiêu phần trăm trong các sáng tác của ông lấy cảm hứng từ một người đẹp nào đó?”

“Một phần năm mình viết cho một con người cụ thể.” Họa sĩ Trịnh Cung, bạn thân Trịnh Công Sơn từ thời trẻ nói chen vào: “Theo tôi, hơn con số đó, phải là 40%. Tôi có thể chứng minh bài nào ông viết cho người nào”.
Sơn không phản đối. Sáng tác gần đây nhất của Trịnh Công Sn là Đồng dao 2000.

Tôi hỏi anh: “Ông tiếp tục sáng tác chứ?”
“Bây giờ không phải gặp cảm hứng nào mình cũng viết. Chờ gặp một thứ inspiration divine (thần cảm)”. Thế là cuối cùng tôi cũng có một bài gặp gỡ Trịnh Công Sơn. Chỉ trễ ít ngày đã chệch sang một… thế kỷ!

 

Thảo luận cho bài: "Trịnh Công Sơn: Cánh Hạc Huyền Hoại"