Trịnh Công Sơn, Kẻ Hát Kinh Trong Cõi Người Lầm Lạc

Tác giả:


Căn lầu 2 ngó xuống một giòng sông ra biển. Bầu trời đùn mây, trắng ơi là trắng. Mỗi cốc rượu trên tay mỗi người, cạn rồi đầy. Đầy rồi cạn. Đã có nước chữa lửa là sữa trời ngoài kia.Có nước chữa lửa là tiếng hát của những bài ca đã sáng tác, vừa mới sáng tác, trong này. Nên cứ uống, mài miệt uống. Rượu say người mà người nào say rượu: Cuộc sinh hoạt ly chén đã được bày biện.
Nói rõ ra, sông là sông Đồng nai. Căn lầu là thuộc cư xá Thanh Đa, miền phụ cận Sài gòn, nơi đây đã bày ra cuộc vui giữa kẻ hèn tôi, một người làm nhạc , ông Nguyễn Sáng, và một cán bộ địa phương. Người làm nhạc có tên TCS, lần đầu tiên tôi gặp, thời gian sau bảy lăm.

Anh đã hát nhạc mình say sưa, bài này qua bài khác,không ngưng nghỉ.

Dù mới gặp anh qua hình hài xương thịt, quả thực tôi đã từng gặp anh từ thuở ấu thơ, qua trí tưởng.

Hồi đó, TCS đã phá những giấc ngủ trưa của tôi. Anh đã mượn môi người đẹp Hà Thanh, vẽ lên hình dạng những mùa thu đi ở Huế. Những mùa thu rang rảng đi, rồi những mùa thu rang rảng về, cái cần cổ radio của đài phát thanh Huế, cứ rướn lên mỗi trưa, không cho tôi ngủ, làm tôi thao thức, làm tôi xao xuyến, làm tôi …nhìn những mùa thu đi, tôi nghe sầu lên trong nắng, …giữa trưa ngọ hanh hao của Huế, lại chói chan như cặp mắt trừng của ngài Đạt mạ. Hồi đó, tôi dần trở thành người hát “hay” trong lớp trường Nam Ngọc. Và cũng hồi đó, có lẽ cái cortex trong đầu tôi đã nở ra lần thứ hai, sau một thời nằm nghe tiếng mẹ ru ngủ bên nôi, với điệu nam ai, nam bình… ôi khúc hát râm ran rạo rực, làm như cõi đời này chỉ có những mùa thu là đáng nói, mà tôi không biết ai làm, cho tới khi lớn lên. Những buổi trưa không ngủ chới với, hụt hẫng trong ngày của Huế ấy, sau này đã giúp tôi hiểu thế nào là tư tưởng giờ ngọ của Nietzsche, living on the edge của Gurdieff…, ít ra qua cảm tính, qua trái tim bừng bừng thổn thức của tôi.

Tôi đã theo gió và lớn lên, đúng như ý thơ của e.e cumming, với cái biền ngẫu rhétorique này: the harder the wind blows, the taller I am mà nôm Việt đã khéo gọi “lớn như gió”. Tôi đã lớn lên cả thần trí lẫn thân xác song song với những bài hát của TCS mỗi ngày mỗi đầy, mỗi ngày mỗi khởi sắc đa dạng, cho tới ngày…

Tôi đã uống với anh trong một buổi trưa với mây trắng lồng lộng như thế. Anh đã dành cho tôi hát nhạc tôi làm lén lút trong trại cải tạo …Cho người tình cố xứ. Xa nhau bao tháng ngày. Gió đêm này trổ dậy. Thổi hồn em tới đây… Và cái coda: Em ở xa chắc đã hắt hơi. Tin anh về tình lại sáng ngời.. Kẻ hát người nghe, chén thù chén tạc.Nhưng tôi đã dở chứng nói sảng về thời thế những gì, trong cơn túy lúy lúc cuộc gần tàn? Cốc rượu nhỏ do người cán bộ châm vào, sau mỗi câu tôi cứ nốc ực, liên tục, liên tục đến không biết bao nhiêu nữa. Đó chính cái hứng tình cho lần đầu tiên giáp mặt thiên tài TCS đã đẩy tôi vào chỗ tê liệt phản ứng.Tôi không còn ngăn được mình . Càng uống càng nói, không còn nhớ chi tiết gì nhưng nhớ chắc là nói đến đề tài hận thù dân tộc đang xảy trên quê hương Việt nam. TCS đã nhìn tôi ái ngại, bàn tay anh đặt trên miệng cốc: Thôi Tiến, thôi Tiến (tên anh đã học được lúc rời tạm bàn và hỏi nhỏ người nhà) Nhìn cử chỉ của anh, người cán bộ biết không thể châm rượu thêm để khai thác tôi được nữa(?). Tôi không muốn nghĩ như thế. Chính bàn tay anh giúp tôi thoát ra ngoài cạm bẫy lần đó.Rồi cũng đến phút chia tay… Tôi rời bàn, lúc bước xuống lầu còn ngó ra , trên cao mây trắng còn rót sữa, hơi ngã vàng vì buổi chiều đang tới.

Trên đường về tặt lưỡi mãi, thầm cảm ơn anh, người nghệ sĩ giàu lòng nhân hậu.

Sau lần đó một tháng thì rời Việt nam. Tôi dẫn ghe, 113 người vượt biên. Đức vớt, ở đó hơn năm thì qua Mỹ. Sau chuỗi dài năm tháng ở đây, vào một ngày,tôi nhận ra ở trường ca “đóa hoa vô thường” của anh vẻ lạ lùng kỳ diệu bất khả thuyết của âm nhạc. Anh làm nhạc đấy, anh tỏ lời đấy, nhưng nhạc của anh không phải là nhạc, lời của anh không phải là lời, chúng thuộc về “cõi không”, chúng ở bên kia, chưa ai đặt chân.

Thật đó,người ta có thể làm nhạc như Beethoven, Mozart, Bach, Lehar, J. Strauss… nhưng không thể làm nhạc như TCS. Tôi không muốn nói đến bình diện thế tục những chuyển âm, tiết tấu tự nhiên như nhiên(natura naturans), lúc dìu dặt, lúc xoang điệu dồn dập tài tình trong bản trường ca vừa nhắc, tôi muốn nói đến đằng sau những tiết tấu, chuyển âm ấy sáng lên ánh đạo mầu, đạo pháp mà tôi ngưỡng mộ. Với tôi, anh chỉ mượn âm ba mà gửi gắm cho thế gian ánh đạo mầu đó thôi. Mà âm nhạc là biểu trưng rõ nét lắm giòng trầm luân, điên đảo của kiếp người, là loại hình nghệ thuật cao nhất; đạt tới một thứ khai mở tri kiến bằng âm nhạc tinh khiết thì chỉ có TCS mới đủ cơ duyên làm nổi. Trong “đóa hoa vô thường” nổi lên hình ảnh:lấy hạt sen khô, đập lên trán,hạt vỡ, nuốt hạt vào lòng. Sen và người thành một. Anh là đóa sen đó, đóa sen vô thường. Nhân và quả đồng thời. Hình ảnh siêu tuyệt!

Hẳn anh đã có lần, trong bóng tối tịch lặng, miên mật của tận đáy tâm hồn anh, tự mỉm cười thanh thản trước những công trình do anh tạo dựng, không ai hay biết.

Nhưng, TCS là ai giữa cõi người này?

Anh đã tới giữa cõi người, sống và viết nhạc. Đã xóa bỏ biên giới giữa đời sống và âm nhạc. Toàn khối, không chia chẻ. Đã sống rất nhạc và viết nhạc rất thơ. Đã trầm ẩm tận lạch nguồn của phù thế, tận khổ nạn của kiếp người chung và dân tộc Việt riêng, đã nhận mặt đảo điên mà mượn âm nhạc để đưa hơi, thống thiết kêu đòi tình yêu giữa con người… tình yêu bí nhiệm. Yêu người lòng chợt từ bi bất ngờ. Ôi chúng sinh…Sao ở nơi này mà lại có chúng sinh? (kinh Diệu pháp Liên hoa)… Anh đã mở ra thế giới âm nhạc như mở một cửa thành, tạo tiếng sấm nổ vang trong nền trời âm nhạc Việt và thế giới. Anh đã đến và đã đi. Nietzche nói như Phật: Không phải đời sống vĩnh cửu mà cái sống (aliveness) vĩnh cửu. Sự ra đi của anh chỉ đánh dấu một giai đoạn sống đã kết thúc, một giai đoạn mà anh đã mang bảo vật hiến dâng trần gian trong một tấm lòng trong ngần thanh bạch.

Hãy đảo lộn câu nói quen thuộc: Đời sống thì ngắn nghệ thuật thì dài (ars longa, vita brevis) thành : Nghệ thuật thì ngắn đời sống thì dài(ars brevis, vita longa) để áp dụng riêng cho trường hợp một TCS. Với tôi, nghệ thuật ở TCS là một cái gì đã cụ túc, hoàn tất, không dở dang. Anh chẳng cần nối tóc để sống hai đời, bởi một đời âm nhạc anh đã chạm tới bầu trời tột đỉnh của nghệ thuật cho mọi thời, mọi nơi. Cho nên,

TCS không của riêng Việt nam, TCS của chung thế giới.

Đừng nói thế, TCS chẳng bao giờ bị mắc kẹt giữa 2 lằn đạn, giữa gọng kềm nhị nguyên quốc gia -cọng sản, TCS đã siêu lên những thứ đó với tấm lòng thanh thản như nhiên. Dù anh có thể là thác đổ, nhưng phải biết rằng, tự tính của thác vẫn thường hằng ngưng đọng.

Phải biết rằng, thác Niagara vẫn muôn đời câm lặng. Và TCS đã trở về cơn câm lặng nền tảng tột cùng, sau chặng đường hát kinh trong cõi người lầm lạc.

Nguyễn Tiến
San Jose, đầu tháng tư năm 2001

 

Thảo luận cho bài: "Trịnh Công Sơn, Kẻ Hát Kinh Trong Cõi Người Lầm Lạc"