Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

4 – Đảng Đại Việt


Chương 4
Đảng Đại Việt

Sau khi tuyên thệ vào đảng tôi được giới thiệu với hai đảng viên Đại Việt khác để hợp thành một tiểu tổ. Ngoài mặt, tôi chỉ được biết những bạn cùng tổ và thượng cấp của đảng qua bí danh của họ mà thôi. Tôi chọn tên Kim cho chính mình, Kim là tên một thiếu nữ đã đến xin tôi dạy kèm toán khi tôi còn ở nhà ông chú. Cô có nụ cười thật duyên dáng. Lúc này chẳng hiểu sao khi chọn bí danh tự nhiên tôi lại nghĩ đến tên cô.

Khi tiểu tổ đã được thiết lập, chúng tôi hội họp thường xuyên, không bao giờ hai lần ở cùng một chỗ. Vì tiểu tổ chúng tôi thuộc thành phần “trí thức” của Đại Việt, công việc chính của chúng tôi là tuyển mộ đảng viên. Chúng tôi tự luyện mình thành những nhân viên tuyển mộ chính cho đảng và luôn luôn tìm cách thuận lợi để tuyển thêm những người mới. Chúng tôi cố tìm cách để khêu gợi, thúc đẩy lòng yêu nước của họ, làm họ mang mặc cảm tội lỗi về việc phải “làm gì” cho đất nước. Những nhóm Đại Việt còn lại thì được phân công để lo việc an ninh, tin tức và tài chánh. Giờ đây lòng yêu nước không còn trừu tượng như lúc ở với Tổng Hội Sinh Viên nữa mà chuyển thành một phong trào cách mạng. Việc bị cảnh sát Pháp bắt là chuyện bình thường, thỉnh thoảng lại có người mất tích thình lình. Thường thì không thể nào nói được sự mất tích là do Pháp hoặc các hội khác tiêu diệt. Tính cách bí mật về hành động của chúng tôi làm gia tăng bầu không khí hiểm nguy và đe dọa. Hung hiểm bỗng nhiên ám ảnh đời sống. Tôi bắt đầu mang một khẩu súng đút vừa vặn vào chiếc túi nhỏ sau lưng.

Đảng Đại Việt tôi gia nhập gồm nhiều nhóm Đại Việt liên lạc thật lỏng lẻo với nhau và với cả VNQĐD. Một trong những nhóm Đại Việt nhỏ là nhóm Đại Việt Quốc Xã, một nhóm có liên hệ mật thiết với Nhật. Một nhóm Đại Việt khác là Đại Việt Dân Chính lại hoạt động theo đúng với chiều hướng cách mạng Tam Dân của Tôn Dật Tiên. Nhóm Đại Việt này vì vậy gần gũi nhất với VNQĐD. Mặc dù chưa liên lạc được với chi nhánh chính của Quốc Dân Đảng ở Trung Hoa nhóm này vẫn tự xưng là Đại Việt Quốc Dân Đảng và cũng chính là nhóm Đại Việt mà tôi đã gia nhập trước bàn thờ với khẩu súng ngắn.

Những cương lĩnh dân chủ và tinh thần quốc gia cuồng nhiệt của Đại Việt Quốc Dân Đảng đã thu hút được một thế hệ sinh viên Việt Nam. Rủi thay, ngoài việc cam kết rằng chủ trương của đảng có khuynh hướng Dân Tộc Sinh Tồn, Đại Việt Quốc Dân Đảng chỉ có một khái niệm mơ hồ về những hoạt động thực tiễn trên các lãnh vực xã hội và kinh tế. Xuất xứ của đảng Đại Việt Quốc Dân thực sự là do nhiệt tâm tranh đấu cho Độc Lập, do những tình cảm cuồng nhiệt đã được tinh thần tranh đấu âm ỉ hun đúc tích tụ suốt 60 năm dưới chánh quyền thực dân. Những cảm xúc mãnh liệt ngấm ngầm đó giờ đang tiến đến giai đoạn nổ bùng. Sự hiện hữu của đảng là một biểu tượng diễn tả tinh thần cương quyết chống thực dân. Lý do hiện hữu của đảng là sự đòi hỏi tự do. Bởi thế cho nên đảng không có thời giờ hoặc tâm trí để nhìn xa hơn những mục đích chủ chốt lúc đó.

Thiếu lập trường chính trị là một nhược điểm mà Đại Việt Quốc Dân Đảng và nhiều đảng phái khác cùng có chung, ngoại trừ một đảng duy nhất là đảng Việt Minh. Vốn được những thành phần Cộng Sản nòng cốt, tháo vát và đầy nhiệt tâm ra công tổ chức, Đảng Việt Minh có những ưu điểm mà những đảng phái quốc gia hoàn toàn không có. Một trong những ưu điểm tối quan trọng của Việt Minh là những kinh nghiệm lão luyện về chiến thuật và chiến lược của chiến tranh phe phái.

Khoảng giữa thập niên 1940, ông Hồ Chí Minh đã là nhân viên của đảng Cộng Sản thế giới tròn một phần tư thế kỷ. Ông đã góp phần thiết lập đảng Cộng Sản Pháp và đã theo học tại Đông Phương Đấu Tranh Học Viện Stalin. Ngoài ra ông còn là một trong những đảng viên của đảng Nông Dân Quốc Tế (Peasant ‘s International) đã cùng hoạt động với vị lãnh tụ khét tiếng Michael Borodin trong sứ mạng giúp đỡ cách mạng Trung Hoa. Khi đảng Đại Việt và các đảng phái khác hãy còn trong thời kỳ phôi thai thì ông Hồ Chí Minh đã hiểu rõ tường tận cả về lề lối cách mạng lẫn cách tiêu diệt các đảng phái chính trị đối lập khác. Cho đến khi các nhân vật tăm tiếng như ông Võ Nguyên Giáp, ông Lê Đức Thọ, ông Phạm Văn Đồng và Lê Duẩn cùng về hợp tác thì đảng Việt Minh đã liên kết tạo thành thế răng cưa để nghiền nát các đảng phái quốc gia khác yếu thế hơn.

Chẳng rõ trong lúc đó các lãnh tụ Đại Việt có hình dung được rõ rệt những thế lực khủng khiếp của các lực lượng đối nghịch hay không, riêng phần tôi và các bạn bè vẫn hoàn toàn không hề mảy may hay biết.

Vào cuối năm 1944, đầu năm 1945, tôi đã cảm thấy vai trò của mình trong tiểu tổ thật quá hạn hẹp. Khi nhận thấy khả năng mình có sức làm nhiều hơn những công việc đã được ủy thác, tôi bắt đầu tìm cách gặp ông Trương Tử Anh, lãnh tụ đảng Đại Việt, người mà chúng tôi vẫn gọi là Ông Cả Phương.

Lúc đầu công việc hoàn toàn thất bại. Người liên lạc độc nhất giữa tôi và đảng cứ trì hoãn bảo rằng chuyện đó không thể làm ngay được và khuyên rằng nếu muốn gặp ông Trương Tử Anh thì tôi phải kiên nhẫn hơn. Việc chẳng thể vượt qua được đường dây liên lạc độc nhất để tiến xa hơn đã khiến tôi vô cùng thất vọng. Tôi tự thấy mình không thể chịu được đường lối ép buộc khắt khe của đảng và cũng chưa hiểu rõ rồi đây những cảm tưởng khó chịu lúc này sẽ ảnh hưởng đến mối liên hệ giữa tôi và đảng nặng nề đến mức nào. May thay chỉ một thời gian ngắn sau đó tôi lại tình cờ được gặp ông Trương Tử Anh. Cuộc gặp gỡ giữa tôi và ông Trương Tử Anh đã dẫn đến những liên hệ mật thiết giữa tôi cùng ông Anh và những xung đột chính trị về đường lối của đảng về lúc sau này.

Cuộc gặp gỡ xảy ra trong một cuộc họp của đảng Đại Việt tại nhà một người bạn cùng lớp. Chuyện tôi không biết người bạn cùng lớp cũng là đảng viên Đại Việt chẳng qua cũng là một chuyện bình thường lúc bấy giờ. Tuy vậy, trong lúc đến họp tôi đã nhận ra vài người bạn có mặt tại đó cũng là đảng viên Đại Việt. Mọi người hình như đang tựu quanh một người trung niên đầu hói phía trong một căn phòng ngủ. Khi không nhận ra được người trung niên đầu hói là ai, tôi đã hỏi Phúc. Phúc thì thào: “Đó là ông Trương Tử Anh.”

Vừa nghe xong tôi vội bắt Phúc giới thiệu. Phúc từ chối trong kinh ngạc: “Không được đâu!!! Như vậy không đúng với thông lệ của đảng. Anh phải thông qua trưởng nhóm.” Tuy vậy, tôi hết sức nài nỉ. Tôi đã chờ cơ hội này từ lâu. Hiện đang có dịp may, đời nào tôi bỏ lỡ? Sau cùng, phần thì bối rối, phần thì vì cũng chẳng còn cách nào khác, Phúc đồng ý.

Ông Trương Tử Anh là người rất dễ dãi và đáng mến. Dường như ông không hề bận tâm chút nào về việc giới thiệu bất ngờ. Ông mỉm cười thân thiện rồi nhìn tôi với đôi mắt sáng long lanh gần như thu hút. Ông khuyên tôi nên bỏ thì giờ tìm hiểu nguyên tắc của đảng để có thể biết rõ đường lối của đảng đối với quốc gia. Tôi trả lời ngay rằng đây đúng là việc tôi đang thắc mắc muốn tìm hiểu thêm vì quả thật tôi hoàn toàn chưa có căn bản vững chắc về đường lối và quan niệm của đảng.

Ông Trương Tử Anh vừa ngước đầu về phía cửa chỗ Phúc đi ra ngoài vừa tiếp lời tôi rằng: “Anh có thể học hỏi anh Phúc thêm. Phúc là một lý thuyết gia đứng đắn.”

Tôi lấy làm ngạc nhiên: “Phúc? Tuy Phúc quả là một người bạn tôi biết đã từ lâu nhưng làm sao tôi có thể học Phúc thêm về đường lối của đảng được? Khi còn là bạn cùng lớp Phúc lúc nào cũng thua tôi về Triết và gần như về tất cả mọi môn khác!!!”

Không rõ sự bạo dạn hay câu phê bình thơ ngây của tôi đã khiến ông Anh bật cười. Chúng tôi nói chuyện lâu hơn và ít lâu sau ông Anh tỏ ý muốn gặp riêng tôi. Khi ra về tôi cảm thấy có thể hoàn toàn tin tưởng ông Trương Tử Anh. Hơn nữa tôi biết mình đã gây được ấn tượng tốt với ông.

Trong lần gặp sau đó, ông Anh bảo rằng có rất nhiều việc có thể giao phó cho tôi nhưng việc quan trọng nhất hiện thời là dùng tôi để gây mối liên lạc giữa đảng và ông chú tôi là học giả Trần Trọng Kim. Tuy ông chú tôi chỉ là một sử gia, tác phẩm của ông đã chuyển ông thành một nhân vật quan trọng trọng việc nhận định lại nền văn hóa Việt Nam. Vốn là người nổi tiếng, được nhiều người kính nể, lại không hoàn toàn đứng về bất cứ phe phái nào nên dầu muốn dầu không ông chú tôi cũng đã trở nên một nhân vật của dư luận. Hơn nữa, lúc này ông còn được đa số quần chúng ủng hộ nên dù gia nhập đảng nào ông cũng mang lại cho đảng đó rất nhiều uy tín. Ông Trương Tử Anh cho rằng có lẽ phương pháp hay nhất là để tôi gần gũi với ông chú tôi, cho ông chú tôi biết rõ rằng tôi đã gia nhập Đại Việt Quốc Dân Đảng và rồi tự tìm cách thuận lợi để biến mình thành một đường dây liên lạc bí mật giữa Đại Việt và ông chú tôi.

Mặc dầu ông chú tôi vẫn chăm chỉ viết sách, cuộc sống của ông thực sự đã thay đổi rất nhiều vào năm vừa qua. Những biến chuyển chính trị dồn dập đã đẩy ông phần nào ra khỏi tư thế khách quan trong vấn đề tranh đấu cho độc lập. Lúc này ông khách sinh viên Yamaguchi đến thăm viếng ông chú tôi thường xuyên hơn bao giờ hết. Hơn nữa, cả mật thám Pháp cũng đã giám sát cẩn mật nơi cư ngụ và các hành động của ông chú tôi.

Tuy đã biết rành rọt mọi chuyện mà vào một hôm đến chơi tôi vẫn bàng hoàng khi được bà mợ cho biết tin chú tôi không còn ở nhà nữa. “Chú phải lên đường đi xa,” mợ tôi tiếp tục cho thêm tin “vì mật vụ Pháp rình rập và đã lên đường đi Singapore cùng ông Yamaguchi rồi.”

Vào mùa hạ năm 1944, quân đồng minh rầm rộ kéo qua Pháp. Khoảng tháng 8, ngày 23, họ đã chọc thủng tuyến phòng sông Seine. Hai ngày sau tướng Jacques Philippe Leclerc và quân Pháp dưới quyền chỉ huy của ông đã giải phóng Ba Lê thoát ách bốn năm đô hộ của Đức. Việc chánh phủ Vichy Pháp sụp đổ đã khiến tình hình phức tạp nội địa Đông Dương suy yếu hơn một tầng, nhất là khi quân Nhật tỏ ý lơ là với những điều kiện khắt khe phải giữ với chánh quyền thuộc địa Pháp trước đây. Đã có lời đồn đãi rằng Nhật đang mưu mô lật đổ Pháp. Do đó khi có tin Nhật đảo chánh chẳng ai lấy làm ngạc nhiên.

Vào trưa ngày 9, tháng 3 năm 1945. tôi nhận được tin từ bà mợ rằng Yamaguchi mời tôi cùng ăn cơm tối tại nhà bà ta. Nhưng tối đó, khi tôi đến thì không hề thấy bóng Yamaguchi. Ngồi đợi một chút, lúc trời vừa xâm xẩm tối bỗng có tiếng súng nổ từ những khu phố kế cận. Rồi bất thần Yamaguchi tông cửa vào nhà, kéo tay tôi vào một góc phòng. “Chúng tôi đang tấn công Pháp,” Yamaguchi nói, “cuộc tấn công đã bắt đầu rồi. Anh phải giúp tôi. Xin anh đến trường cùng tôi. Sẽ có nhiều tổn thất. Tôi muốn nói cho các anh em sinh viên được rõ rằng chúng tôi cần họ giúp đỡ, nhất là những sinh viên y khoa. Xin anh giúp dùm cho.”

Vừa khẩn khoản đốc thúc, Yamaguchi vừa bắt đầu kéo tôi về phía cửa ra vào. Tuy vậy tôi không hề cảm thấy nóng lòng như Yamaguchi. Tôi không muốn những sinh viên khác nghĩ rằng tôi là người hợp tác với Nhật. Bởi thế tôi gỡ tay Yamaguchi, xoay người đối diện với ông trong tư thế sửa soạn tranh luận về tình thế hiên thời…

Nhưng tôi chẳng còn đủ cơ hội nữa! “Khổ quá!” Yamaguchi nài nỉ, “Thật không còn thời giờ tranh luận nữa mà. Anh thật tình không hiểu sao? Chúng tôi đã tấn công rồi. Không phải chỉ có người Pháp thương tổn không thôi mà còn nhiều thường dân khác nữa! Xin anh giúp dùm ngay cho!”

Theo lời ông ta thì thật chẳng còn gì để lựa chọn. Tôi vẫn còn nửa tỉnh nửa mơ thì Yamaguchi đã đẩy tôi vào xe chạy vòng vèo qua đường phố đầy lửa đạn. Tôi cũng chẳng hiểu chúng tôi đến được Đông Dương Học Xá bằng cách nào. Khi đến nơi, tuy có giới thiệu Yamaguchi cùng những sinh viên đang tìm hiểu tin tức quanh đó, tôi vẫn cố tránh xa ông ta. Nhiều sinh viên đã biết sơ qua về Yamaguchi. Ông đã theo học nhiều năm tại đại học và đã hoạt động rất tích cực trong việc nối kết tình hữu nghị Việt-Nhật. Do đó, tôi nói với mọi người rằng tôi cũng như những sinh viên khác, biết Yamaguchi và hiện ông ta đang ngỏ lời xin giúp đỡ.

Ngay sau khi tôi giới thiệu, Yamaguchi đọc một bài diễn văn ngắn và mở lời nhờ sinh viên săn sóc những người đang gặp hoạn nạn hoặc bị thương do súng ống loạn lạc đang bao trùm thành phố. Nói xong ông ta lên đường. Khi tiếng súng gần kề, chúng tôi cùng nhau bàn bạc về những chuyện phải làm. Như tôi đã tiên đoán, có nhiều học sinh nghĩ là tôi cùng hoạt động với Yamaguchi. Họ muốn biết rõ ông ta yêu cầu gì. Tôi bảo với họ rằng tôi cũng chỉ biết Yamaguchi như những sinh viên khác mà thôi. Tất cả chúng tôi đều muốn tránh tiếng hợp tác với Nhật nhưng những tiếng súng bên ngoài cho thấy rằng chắc chắn sẽ có tổn thất lớn về phía dân sự. Chúng tôi chẳng thể khoanh tay không giúp đỡ.

Sau cùng tất cả quyết định giữ tư thế trung lập. Sinh viên y khoa sẽ chia toán đổ ra đường phố, nhưng tất cả đều đeo băng thập tự đỏ cứu thương rõ rệt. Chúng tôi sẽ hết sức giúp đỡ nạn nhân nhưng tất cả cùng cố tránh càng ít liên lạc với người Nhật càng tốt.

Thật sự thì những dự đoán về chuyện đánh nhau hỗn loạn và tổn thất nặng nề chỉ là chuyện lo xa. Quân Nhật tổ chức đánh chiếm thiện nghệ cho đến nỗi chỉ mới rạng đông Hà Nội đã hoàn toàn ngưng hẳn tiếng súng. Quân Pháp bị diệt sạch vào lúc rạng ngày. Lính Nhật thay thế Pháp đi tuần khắp các nẻo đường phố. Sau hơn sáu mươi năm đô hộ, ách thống trị của Pháp bỗng dưng bị lật đổ.

Khi người Nhật đã nắm quyền thì câu hỏi chủ yếu là: Họ sẽ làm gì? Qua suốt thời gian chiếm đóng họ đã tránh né không nói rõ chủ trương, không hứa hẹn, hoàn toàn nấp mình sau sự điều khiển của những người lai lịch bí ẩn và khôn khéo lợi dụng thời cơ như Yamaguchi. Lúc này chúng tôi đã thấy rõ là Nhật chỉ nắm quyền tạm thời mà thôi. Các lực lượng khủng khiếp của Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương đang tiến dần vào quần đảo Nhật và chương trình Đại Đông Á đang chết dần. Bởi thế dù Nhật có an bài Việt Nam bằng cách nào đi nữa thì cơ hội lịch sử cũng đã đến.

Bầu không khí hồi hộp bao trùm khắp cả khuôn viên đại học. Lòng yêu nước chứa chan pha lẫn với những niềm tin vào vai trò sinh viên trong xã hội tương lai đã khiến tất cả đều háo hức. Gần như tất cả đều tin rằng dù gì đi nữa thì vai trò của sinh viên chắc chắn sẽ là những vai trò lớn rộng và phản ảnh rõ rệt được vai trò những bông hoa của đất nước. Tất cả những xúc cảm đè nén từ nhiều năm qua bỗng có dịp bùng ra thành những hoạt động cuồng loạn. Tổng Hội Sinh Viên được thiết lập. Báo chí sinh viên cùng những buổi chào mừng tung hô thống nhất nảy ra khắp nơi. Những phong trào yêu nước ngấm ngầm bị cảnh sát Pháp ngăn chận trước đây thình lình bộc phát. Tuy chưa có gì bạo động xảy ra, chưa có ai tỏ vẻ ra mặt chống đối Nhật nhưng mọi người đều đã có cảm giác là tương lai đã nằm trọn trong tay.

Chẳng bao lâu sau, tất cả những cảm xúc cuồng nhiệt được chuyển dần thành những dự định chuẩn bị cho ngày Giỗ Tổ Hùng Vương. Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương lúc nào cũng là một trong những dịp để tỏ lòng yêu nước. Trước đây vì sợ tinh thần yêu nước sẽ chuyển thành bạo động, chánh quyền Pháp đã cấm những buổi lễ lớn có tính cách cộng đồng. Lúc này, vì chưa có lệnh chánh thức cấm tụ họp cộng đồng trực tiếp từ Nhật, Tổng Hội sinh viên nô nức tổ chức những buổi gặp gỡ.

Tại Đông Dương Học Xá, những sinh viên kiến trúc dựng đài kỷ niệm khổng lồ để tưởng nhớ Tổ Hùng Vương. Tổng Hội Sinh Viên gởi người đến từng vùng trong thành phố để nhắc nhở và kêu gọi mọi người cùng đến tham gia ngày Giỗ Tổ.

Buổi sáng hôm Giỗ Tổ khoảng đất xung quanh đài kỷ niệm bắt đầu dầy đặc những người đến dự. Hình như tất cả dân chúng Hà Nội đều tề tựu ở đó. Mỗi gia đình mang một miếng bánh chưng đến đặt ở chân đài thờ Tổ. Càng lúc số lượng người đến càng tăng, chen chúc nhau vây quanh đài kỷ niệm. Bánh chất đống thành núi, mỗi lúc mỗi cao thêm. Có cả hàng loạt diễn văn, mỗi bài đều khẳng định rằng tất cả đều là người Việt Nam, tất cả đều cùng chung tổ quốc và mọi người đều phải hy sinh vì lợi ích quốc gia.

Có lẽ chỉ những người đã sinh trưởng trong một nước thuộc địa và đã từng bị người ngoại quốc đàn áp dã man mới có thể hiểu được cảm giác của những giây phút đó. Sau mỗi bài diễn văn đám đông lại hô to: “Việt Nam muôn năm! Việt Nam muôn năm!” Trong cùng khắp đám đông, cả đàn ông lẫn phụ nữ đều tràn đầy cảm xúc. Chẳng một ai để ý đến quân Nhật lảng vảng ở vòng ngoài, đang “chụp hình tất cả.” Chẳng một ai còn tâm trí cho người Nhật hoặc bất cứ chuyện gì khác. Đầu óc chúng tôi chỉ có một ý nghĩ: Tổ quốc Việt Nam.

Khi diễn văn bế mạc, tất cả đám đông đổ xuống đường phố Hà Nội, phất cờ và tung hô: “Độc Lập! Độc Lập!” Quân Nhật vẫn đứng im lìm dọc theo hai bên đường. Mặt họ lạnh lùng khi đám đông tung hô đi qua. Chẳng bên nào tỏ vẻ thù nghịch. Sau cùng đám đông rã dần thành những đám nhỏ, tản ra trên đường về, mệt mỏi vì những vui mừng, khích động trong ngày.

Vài ngày sau, Yamaguchi lại xin gặp tôi. Ông ta cho biết là chú tôi đã từ Singapore trở về. Vua Bảo Đại đã mời ông chú tôi đứng ra lập chính phủ mới. 

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"