Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

3 – Những Tổ Chức Chính Trị Bí Mật 


Chương 3
Những Tổ Chức Chính Trị Bí Mật

Chúng tôi chẳng cần đợi lâu. Ngay sau khi Pháp đầu hàng Đức quân đội Nhật bắt đầu đòi hỏi chánh quyền thực dân Pháp phải nhượng quyền kiểm soát ở miền biên giới Việt Nam và Trung Hoa. Lúc này, vì thiếu phương tiện chống trả lại Nhật, Toàn quyền Pháp cố tìm cách trì hoãn và cầm chân Nhật càng lâu càng tốt. Sau ba tháng đợi chờ, khi đã chán trò trì hoãn, kéo dài thời gian của Pháp, Nhật hạ lệnh biểu dương hai lực lượng quân sự để nói rõ thực tâm với Pháp. Sau hai cuộc tấn công của Nhật, một vào Lạng Sơn và một vào Hải Phòng, Toàn quyền Pháp tuyên bố đầu hàng. Pháp vẫn được quyền tiếp tục công việc nội trị nhưng Nhật có quyền lập đồn và mang quân vào Việt Nam. Mặc dầu chánh quyền thực dân Pháp vẫn tiếp tục cai quản như thể hãy còn tiếp tục đời đời với “Sứ Mệnh Văn Hóa” tại Việt Nam, lúc này chẳng ai có thể làm ngơ trước sự hiện diện của Nhật. Quân Nhật ồ ạt dựng trại, ung dung tự tung, tự tác trước đôi mắt căm hờn của Pháp. Vì đã phải chịu đựng nhiều nhục nhã với các quan thày Pháp, đây là lần đầu tiên chúng tôi thấy rằng việc gạt bỏ chánh quyền Pháp không còn là một công việc mơ hồ, xa xăm nữa.

Những hội kín bắt đầu mọc ra như nấm, vẫn bí mật hoặc ngụy trang như những Hội Thể Thao hoặc Hội Du Ngoạn. Một trong những hàng ngũ mạnh mẽ nhất là hàng ngũ Cộng Sản, lúc này chánh thức hoạt động với chiêu bài “Giải Phóng Đất Nước.” Cộng Sản đã thiết lập những căn cứ mà họ gọi là “Chiến Khu” ở những vùng núi non hiểm trở ở Cao Bằng và Lạng Sơn. Ông Võ Nguyên Giáp không còn dạy học nữa. Người ta đồn rằng ông đã vào bưng để tổ chức các hoạt động du kích.

Các đảng phái chính trị khác cũng lần lượt xuất hiện, trong số có Việt Nam Quốc Dân Đảng được tổ chức theo chiều hướng của Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Chính Việt Nam Quốc Dân Đảng đã tổ chức cuộc khởi nghĩa chống Pháp trong thập niên trước. Sau lần càn quét dã man khi cuộc khởi nghĩa thất bại có nhiều đảng viên đã trốn sang Trung Hoa. Một số đảng viên khác lại lui vào vòng bí mật. Lúc này lại có tin VNQĐD đang hoạt động trở lại và những đảng viên lúc trước chạy qua Vân Nam đang dàn xếp để xin Tưởng Giới Thạch yểm trợ.

Những đảng phái quốc gia như Hội Phục Quốc và một số những nhóm nhỏ khác hoạt động dưới tên Đại Việt cũng đang thành hình. Cũng theo lời đồn thì một số nhóm nhỏ của Đại Việt có liên kết với Nhật. Mặc dù không ai biết rõ đường lối hoạt động hoặc tên tuổi của những người lãnh tụ các đảng phái, chúng tôi vẫn đắm chìm trong hồi hộp. Tất cả đều cảm thấy đã đến lúc quốc gia có thể đòi hỏi và tranh đấu cho tự do. Ai cũng muốn đóng góp một phần vào việc.

Khi các đảng phái đang triệt để củng cố lực lượng thì Nhật cũng bắt đầu khuấy động. Nhật vốn dĩ là người Á đầu tiên đứng ra đánh đuổi dân da trắng, dành lại chủ quyền với khẩu hiệu “Đại Đông Á” cho những vùng Nhật đang chiếm đóng. Tại Việt Nam đường lối của Nhật cũng không lấy gì làm lộ liễu. Ít ra là cũng không có gì quá khích vào lúc ban đầu. Vào thời gian này Nhật gửi rất nhiều sinh viên và chuyên viên văn hóa Nhật đến Hà Nội lập Hội Ái Hữu, dạy tiếng Nhật miễn phí, lập Hội Thảo Luận và giao hảo cùng tất cả các tầng lớp trí thức Việt Nam.

Chánh quyền Pháp cay cú đứng ngoài, bất lực trước những hoạt động của Nhật, nhưng Nhật chẳng làm gì quá đáng. Vả lại dù mật thám Pháp có muốn can thiệp cũng không đủ sức. Quân đội Nhật đã dũng mãnh lại vô cùng kỷ luật. Lật đổ Pháp đối với Nhật có lẽ là một việc rất dễ dàng. Trong lúc đó lính Pháp thật chẳng bõ làm trò cười cho dân chúng. Vào thời gian này, vì cả các đảng phái chính trị lẫn Nhật đều lấy sinh viên làm mục tiêu hoạt động nên môi trường sinh viên bỗng thình lình bị đảng phái chia cắt. Vì bất cứ sinh viên nào cũng có thể là người của các đảng chính trị và các đảng phái lại tranh chấp với nhau nên tất cả sinh viên đã cảm thấy nguy hiểm cận kề. Đa số sinh viên đều cố quan sát, nhận định xem có ai theo dõi hành động của mình không.

Lúc này tôi thường xuyên trú ngụ ở nhà ông chú tôi, nơi ông cụ tôi và ông chú tôi đang hợp sức viết sử. Tôi thường ăn cơm cùng cả ông cụ lẫn ông chú. Trong bữa cơm tối cả ba chúng tôi thường bàn luận về hành động của Nhật. Theo ông cụ và ông chú tôi thì người Nhật không hề thật tâm muốn giúp đỡ người Việt. Hành vi tàn ác của Nhật đã được các báo chí Pháp đăng tải thật chi tiết. Hơn nữa mật vụ Kempeitai của Nhật đã khét tiếng là tàn ác. Người Nhật vốn có tinh thần kỷ luật cao. Khi họ đã bước chân vào việc gì thì rất ít khi chịu làm việc nửa vời. Ông cụ và ông chú tôi cho rằng hợp tác với Nhật lúc này hãy còn sớm quá.

Có thể liên kết với Nhật vào lúc này vẫn còn quá sớm nhưng đây quả là việc chẳng đặng đừng. Vào một buổi sáng tự dưng có một sinh viên đứng tuổi người Nhật tên Yamaguchi đến nhà xin được phép nói chuyện với ông chú tôi. Yamaguchi diễn tả rất lưu loát bằng tiếng Pháp rằng ông đang nghiên cứu sử Việt Nam và đến tìm ông chú tôi để thỉnh cầu giúp đỡ. Yamaguchi cho biết ông đang tìm hiểu về một giai đoạn đặc biệt trong triều đại Nhà Nguyễn.

Từ đó Yamaguchi thường xuyên lui tới. Ngoài mặt thì ông đến để phỏng vấn ông chú tôi về sử nhưng ý đồ thực sự của ông là gì thì chẳng ai trong chúng tôi được rõ. Có thể ông ta chỉ muốn giữ mối giao hảo với ông chú tôi. Tuy chẳng làm cách nào rõ được ý đồ của Yamaguchi, chúng tôi biết rõ là ông đến với ý định khác. Bất kể ý định riêng của Yamaguchi là gì, chúng tôi vẫn biết rằng ý định đó chắc chắn chẳng liên quan gì đến các triều đại Nhà Nguyễn. Trong khi đó Yamaguchi cũng xuất hiện tại nhiều nơi khác. Dường như ông có mặt ở khắp mọi nơi. Ông hoạt động, tổ chức các buổi họp lớn, nhỏ, động viên bạn bè và sinh viên đến tham dự các buổi thuyết trình. Ông liên lạc với các giáo sư, nói về tình huynh đệ giữa những người Á, về việc giúp đỡ lẫn nhau dành lại chủ quyền. Ông cũng nhắc nhở, hô hào “Người Á, đất Á” và cố đề cao vai trò của Nhật trong các phong trào giúp đỡ, giao hảo với người Việt. Tất cả những điều ông nói đều không có gì nóng bỏng, sôi sục hoặc điển hình cụ thể. Chỉ có những lời hứa hẹn xa xôi. Chẳng hạn như Nhật và Việt Nam có cùng chung lý tưởng. Nhật là người đáng tin cậy. Vì đã gặp ông nhiều lần tại nhà ông chú tôi nên có lẽ tôi biết ông rõ hơn những sinh viên khác. Có lần Yamaguchi gián tiếp cho tôi biết rằng ông là đảng viên của đảng Hắc Long, một tông phái có tầm hoạt động khắp Á Châu đã từng giúp Tôn Dật Tiên lật đổ chế độ Mãn Thanh. Theo lời đồn thì đảng Hắc Long từng có ảnh hưởng ngầm trong khắp Á Châu. Tôi cũng chẳng biết liệu có nên tin hay không. Lúc này quả thật chúng tôi không biết phải đối xử với Người Nhật cách nào. Chúng tôi chỉ biết rằng họ hoạt động rất mạnh mẽ, họ bàn cãi rất nhiều, họ có vẻ đứng đắn, thật tình và không hề hứa hẹn điều gì cả.

Tuy rằng đang ở vào tuổi 17 và rất đam mê những việc mạo hiểm náo nhiệt, tôi vẫn cố không để chính trị xen vào những chuyện phải làm đang tràn ngập, chờ đợi trước mắt. Công việc của những học sinh sắp sửa tốt nghiệp trung học như tôi là phải chiếm cho được mảnh bằng tú tài. Đây là mảnh bằng học vấn mà học sinh được cấp sau khi vượt qua một kỳ thi vất vả bao gồm tất cả các môn. Không có bằng tú tài thì cuộc đời học sinh kể như vứt bỏ. Mảnh bằng là bước tiến dẫn đến đại học và những gì cao xa hơn ở bên trên. Tôi học ngày, học đêm trong suốt nửa năm đầu của năm 1941 để chuẩn bị cho kỳ thi tháng 7. Khi có tin tôi đậu ngay kỳ thi đầu tiên, nhà tôi mở tiệc ăn khao ở quê làng Phủ Lý. Tôi đã thật sự bước vào đời sống của một thanh niên trên đường trưởng thành.

Bước thứ nhì là phải quyết định học ngành gì ở Đại Học Hà Nội, một ngôi trường đại học độc nhất Pháp dựng lên cho cả toàn cõi Đông Dương. Tôi loại bỏ ngay dự định học Luật vì cho rằng trông chờ vào những cơ hội cho phép một người Việt Nam được quyền thực thi luật pháp dưới chánh quyền Pháp chỉ là việc hão huyền. Họa may chỉ còn ngành Y Khoa.

Vì tò mò muốn tìm xem mình có hợp với ngành Y hay không, tôi tìm đến buổi hướng dẫn sinh viên Y Khoa. Chẳng hiểu người xếp đặt chương trình hướng dẫn là ai mà lại có thể tàn nhẫn đến thế! Nhóm chúng tôi gồm 15 người hội đủ tiêu chuẩn khả năng theo học Y Khoa được hướng dẫn vào những khung cảnh khiếp đảm nhất ở bệnh viện Bạch Mai. Đầu tiên chúng tôi phải mục kích một số bệnh nhân đang rên rỉ vì đau. Sau đó lại phải xem cảnh một số khác đang kêu gào thảm thiết. Chúng tôi còn phải xem cả cảnh bệnh nhân đang quằn quại trong những vòng băng. Vì chẳng thể chịu đựng nổi những điều trông thấy, song song với Luật, Y Khoa cũng bị tôi gạt phắt sang bên.

Cuối cùng, tôi quyết định học toán. Tôi đã thích toán từ lâu. Hơn nữa, ngành này vừa khiến tôi tránh được tiếng cộng tác với thực dân lại vừa khiến tôi thoát được cảnh bị buộc phải mục kích những cảnh đau khổ của người khác. Sau khi đã quyết định, tôi được nhận vào một lớp toán cao cấp cùng 14 sinh viên Pháp và hai sinh viên Việt Nam khác. Vì chương trình toán là chương trình cấp tốc nên chúng tôi phải đến lớp 40 giờ mỗi tuần. Thời giờ dành cho bài tập còn nhiều hơn vậy. Chương trình toán đã chiếm hết tất cả thời giờ. Tôi chẳng còn đủ thời giờ làm bất cứ chuyện gì khác. Thế giới chính trị mới đầy dẫy thu hút đã lại tan dần. Trong những lớp toán chuyên ngành chỉ có toán, toán và toàn toán…

Tôi mê toán vô độ: mê những phức tạp huyền diệu của phương trình, những đan thanh tao nhã của các phương thức trừu tượng. Thế giới toán học là một thế giới thanh tịnh có thể tóm thâu hoàn toàn suy tư và năng lực của tôi. Trong suốt một năm, tuy vẫn còn theo dõi tin tức chiến sự và đã biết thêm rằng vận mệnh của Nhật tùy thuộc hoàn toàn vào khả năng oanh tạc của không lực của đồng minh qua bầu trời Việt Nam, tôi chẳng còn biết được điều gì hơn vậy. Phi cơ Mỹ đã bắt đầu xuất hiện trên những mục tiêu Việt Nam.

Chiếc đầu tiên tôi thấy là một chiếc chiến đấu cơ P-38 lộn vòng qua bầu trời xanh lơ, tấn công vào đồn trại Nhật gần chỗ trạm hỏa xa ở quê tôi là Phủ Lý. Khi chiến tranh lan tràn rộng hơn đến vùng đất chính Á Châu thì máy bay đến ngày càng nhiều. Tôi đã quen với tiếng rú của máy bay oanh tạc, với tiếng xe cứu thương chạy vút qua đường chở nạn nhân vào nhà thương. Tuy thế những biến cố này tan ngay trong giây lát và cơn đam mê toán học lại trở về đưa tôi đi sâu vào thế giới trừu tượng bên trong.

Sau khóa toán, các sinh viên Pháp trở lại Pháp để tiếp tục theo học các đại học danh tiếng khác, còn tôi và các sinh viên Việt Nam vì gia đình không đủ sức tài trợ cho đi ngoại quốc và vì lúc đó chưa có chương trình học bổng nên lại trở lại với chương trình toán phổ thông ở Đại Học Hà Nội.

Chẳng bao lâu sau tôi chuyển từ nhà ông thân đến Đông Dương Học Xá cách bệnh viện Bạch Mai khoảng gần cây số. Việc tôi chuyển nhà lúc này không hẳn chỉ giản dị như việc đơn thuần thay đổi chỗ ở. Tình hình chính trị hỗn loạn tôi tạm bỏ qua lúc trước không hề suy giảm. Ngược lại, nếu ở Trung Học tôi chỉ biết về các đảng phái bí mật qua lời đồn đãi hoặc qua tai người thứ hai chẳng hạn như anh người đó mới gia nhập; cha người đó mới bị bắt vì là đảng viên thì hiện tại, mới khoảng một năm sau thời kỳ kể trên, các đảng phái đã thực sự gây được cả sức mạnh lẫn uy tín vượt xa lúc trước. Đông Dương Học Xá đầy những sinh viên Việt Minh, Đại Việt hoặc VNQĐD. Chuyện bàn cãi chính trị và tuyển mộ đảng viên xảy ra hàng ngày ngay phía sau bề mặt của Tổng Hội Sinh Viên. Đây là một hội gồm đủ các thành phần từ rất nhiều các tầng lớp có quá khứ khác biệt nhưng thảy đều có tư tưởng quốc gia. Đây cũng chính là Tổng Hội mà tôi đã tham gia từ lúc đầu tiên.

Vì biết rằng nhân viên và những kẻ sách động cho Pháp đang ở khắp mọi nơi nên Tổng Hội Sinh Viên hành động rất cẩn trọng. Hội viên tránh đương đầu trực tiếp bằng cách tổ chức những cuộc đi chơi ngoài mặt có vẻ hồn nhiên nhưng thật sự là để khích động lòng yêu nước. Những cuộc đạp xe hàng tuần luôn luôn có liên quan hệ trọng đến lịch sử và tinh thần yêu nước ngấm ngầm. Chúng tôi đi thăm Đền Hùng, Đền thờ Hai Bà Trưng và các lăng tẩm của những anh hùng, liệt sĩ đã từng đánh đuổi, đập tan giặc ngoại xâm. Những trùng hợp về thời khắc đôi khi có phần lộ liễu nhưng chánh quyền Pháp không thể làm cách nào để ngăn cản được những cuộc du ngoạn có trật tự như vậy. Chúng tôi cùng ngồi quanh lửa hồng, bàn bạc về cách Hai Bà Trưng lật đổ quyền cai trị của Trung Hoa vào thế kỷ đầu tiên, về Trần Hưng Đạo đập tan quân Mông Cổ 1200 năm sau đó. Sau cùng chúng tôi ca hát vang rừng:

Này anh em ơi!

Đứng lên đáp lời sông núi

Đồng lòng cùng đi, hy sinh tiếc gì thân sống…

Những cuộc họp này gây xúc động sâu xa trong lòng tất cả chúng tôi. Nhìn Đền Hùng mờ xa trong ánh đêm chúng tôi cảm thấy mình chính là một phần của một giòng liên tục luân lưu, nối tiếp truyền thống Việt Nam. Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi -Tất cả đều đã về đây, tề tựu trong giây phút này để chứng kiến đất nước lại một lần nữa vùng lên tranh đấu cho tự do. Huyền nhiệm thay, sự việc này đang diễn ra ngay trong thế hệ chúng tôi. Thời cơ của chúng tôi đã đến. Qua ánh lửa bập bùng, những khuôn mặt lung linh, chập chờn nhảy múa. Một giây phút thanh cao, thiêng liêng khi tất cả đều đồng lòng liên kết, tranh đấu cho độc lập và sẵn sàng hy sinh không hề nghĩ đến bản thân, không hề do dự. Một phút giây hồn nhiên nhất. Có lẽ đây là phút giây sau cùng trước khi hai khối Cộng Sản và Quốc Gia bắt đầu mở cuộc tương tàn sát hại lẫn nhau.

Tuy ngoài xã hội, tất cả sinh viên đều tỏ vẻ đoàn kết, khi đi sâu vào lãnh vực chính trị của từng sinh viên thì sự thật lại hoàn toàn khác hẳn. Khối sinh viên lần lần tản ra khi mỗi đứa chúng tôi tự tách ra, chia nhau đi theo những lời hẹn hò của đảng về việc đáp lại những nguyện vọng chúng tôi cùng nhau ấp ủ. Vào năm 1943 thì chỉ có một số rất nhỏ có được tí khái niệm mù mờ về những khác biệt giữa các đảng hoặc có thể nhận định chân thực được thế nào là đảng phái. Mọi đảng đều tuyên bố tranh đấu cho tự do. Thế là đủ. Chủ Trương Xã Hội của VNQĐD thế nào chẳng ai được rõ. Có lẽ chẳng có sinh viên nào có thể cắt nghĩa được rành rọt những khác biệt nổi bật của Đại Việt và Việt Minh. Chẳng hạn như lúc này tất cả đều không biết Việt Minh là do Cộng Sản cầm đầu. Hơn nữa, chưa ai nghe nói đến tên Hồ Chí Minh bao giờ.

Vì thiếu hiểu biết về các đảng phái các sinh viên thường cho là mọi đảng đều như nhau cả. Dĩ nhiên tất cả đều nhận định được rằng có một số đảng ngả theo Trung Hoa trong khi một số đảng khác ngả theo Nhật, nhưng mục đích chung của mọi đảng đều chẳng có gì khác hơn là đòi hỏi Độc Lập. Kết cục là gia nhập vào các đảng phái hoàn toàn lệ thuộc vào sự móc nối tình cờ của bạn bè hoặc người thân. Người ta gia nhập vì rằng một người bạn hay người thân đã gia nhập rồi. Khi một người trong gia đình họ hàng đã là đảng viên của đảng Đại Việt, VNQĐD hoặc Việt Minh thì những người còn lại trong gia đình có khuynh hướng chính trị thường gia nhập theo.

Vì ông thân và ông chú chẳng ngả theo đảng phái nào, tôi gia nhập đảng Đại Việt là do lời giới thiệu của một người bạn là ông Đặng Văn Sung. Một trong những lý do khác đã khiến tôi gia nhập Đại Việt là vì đa số các sinh viên lúc này đều gia nhập Đại Việt. Khi tôi thực sự gia nhập là khoảng năm 1944. Trong suốt cuộc chiến tôi đã theo dõi sát từng trận đánh ở Thái Bình Dương, đọc tin tức qua tờ báo viết bằng tiếng Pháp ở Hà Nội là tờ La Volonté Indochinoise. Suốt thời gian đó vào khoảng 1942, Pháp lấy làm thích thú tường thuật liên tục việc Nhật thất trận. Lúc này tất cả đều cho rằng chiến tranh sắp kết liễu. Bất kỳ kết cuộc ra sao tất cả đều cảm thấy đã đến lúc cùng nhau góp sức. Số người gia nhập nhảy vọt. Ngay cả những người đang phân vân cũng xin gia nhập.

Trong ngày đầu gia nhập đảng Đại Việt ông Đặng Văn Sung dẫn tôi qua một khu dân cư bình dân trú ngụ để đến một căn nhà cũng bình dân không kém. Khi đã vào trong tôi được gặp người tuyên thệ tôi vào đảng. Chính ông ta cũng là thượng cấp của tôi về sau. Người tuyên thệ tôi trông cũng chất phác chẳng khác nào khu cư ngụ của ông. Khi đã nhận định rõ rệt mọi việc tôi cảm thấy hơi khó chịu. Tôi thực chẳng thể ngờ rằng mình lại có thể đi tuyên thệ trung thành với một đảng phái mơ hồ trước mặt một người chơn chất, giản dị, như người tuyên thệ tôi vào đảng lúc này.

Khó chịu hơn nữa là bên trên chỗ bàn thờ tuyên thệ có dán một bức bản đồ với hai chữ ĐẠI VIỆT. Tấm bản đồ này chẳng những chỉ bao gồm Việt Nam thôi mà còn bao gồm cả toàn cõi Đông Dương và rất nhiều phần khác của Đông Nam Á. Hương khói trên bàn thờ tỏa ra làm cho quang cảnh có vẻ đượm phần tín ngưỡng. Trước ngọn nến người tuyên thệ tôi vào đảng Đại Việt đặt một khẩu súng đen. Người tuyên thệ tôi bắt đầu: “Khẩu súng này là biểu tượng cho kỷ luật của đảng. Anh phải thề trung thành với đảng và tổ quốc. Nếu anh phản một trong hai…” Ông ta khẽ nhìn về phía khẩu súng gật nhẹ.

Buổi tuyên thệ thật nghiêm trang, nhưng riêng tôi lại chẳng xem mọi sự nghiêm trang đến thế. Không khí có vẻ đượm màu thế kỷ thứ 19 đã qua mang đầy tính chất bí mật lãng mạn. Tuy vậy tôi vẫn giơ tay tuyên thệ, hứa sẽ trung thành. Với hành động tự nguyện này tôi bước vào thế giới của những người Việt Nam có tư tưởng quốc gia. Thế giới này đã ở cùng tôi trong suốt 40 năm dài cho tới ngày nay. 

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"