Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

21 – Đại Sứ tại Hoa Thịnh Đốn 


Chương 21
Đại Sứ tại Hoa Thịnh Đốn

Tôi từ Manila trở về lử người vì mệt. Cơn cúm khốc liệt bắt đầu từ lúc ở Manila đã khiến tôi phải nằm liệt giường gần một tuần lễ. Thời gian tĩnh dưỡng đã cho tôi cơ hội suy nghĩ. Tôi nhận ra rằng mình đã quá mệt mỏi cả về tinh thần lẫn thể xác. Những xích mích ngấm ngầm giữa tôi với những người trong giới quân nhân trong nhiều tháng qua đã khiến tôi hao tổn khá nhiều tinh thần. Trường hợp tướng Có nói đùa về tôi ở Manila chẳng qua chỉ là một trong những triệu chứng rõ rệt gần đây nhất mà thôi.

Sự thật thì nhiều tướng lãnh trong giới quân nhân ngày càng khó chịu vì những chính sách của thủ tướng Kỳ, nhất là việc ông Kỳ đi mạnh quá và nhanh quá vào con đường dân chủ. Khi gạt bỏ ra ngoài chính phủ một vài thành phần tham nhũng và bất tài, ông Kỳ đã vô tình tạo ra những chống đối mãnh liệt. Khó thể tấn công ông Kỳ trực tiếp, những quân nhân đã đổ hết phẫn nộ vào tôi vì hẳn nhiên tôi là người đứng sau ông Kỳ.

Ông Kỳ cũng bị những người Nam chỉ trích rằng ông tin tưởng vào những người Bắc Kỳ thái quá. Trong những câu chuyện chỉ trích, chính tôi cũng lại là một thí dụ điển hình. Để tránh chỉ trích, ông Kỳ đã cố cải tổ chánh phủ của mình. Tuy những thay đổi của ông Kỳ hoàn toàn không nhắm vào tôi, những chỉ trích ngày càng tăng vẫn khiến tôi phải bận tâm ít nhiều.

Khi nhìn lại mọi việc, tôi thấy ít ra mình cũng đã đạt được một phần các mục tiêu ban đầu. Tôi đã hài lòng một phần vì ở Việt Nam lúc này, giai đoạn đầu của việc thiết lập một chính phủ hợp hiến đã bắt đầu và chẳng bao lâu nữa, quốc hội lập hiến cũng sẽ hoàn thành nhiệm vụ. Càng nghĩ, tôi lại càng thấy rằng đã đến lúc mình nên rút lui. Quyết định rút lui của tôi lúc này một phần là do những bực dọc vì phải chịu đựng những chỉ trích hoàn toàn vô căn cứ. Vả lại tôi quan niệm rằng mình phải biết lúc nào nên ở, nên đi. Nếu cần rút lui tôi cho rằng mình nên tự ý rút lui trước thay vì đợi đến lúc thực sự bị người ta đẩy ra ngoài.

Sau khi đã hoàn toàn bình phục, tôi đến gặp ông Kỳ để bàn về vấn đề từ chức. Khi nói chuyện với ông Kỳ, tôi chỉ đề nghị sơ qua rằng có lẽ đây đúng là lúc tôi nên rút lui. Tôi nói với ông Kỳ tôi hiểu rất rõ việc ông Kỳ đang phải chịu rất nhiều chỉ trích của cả những người Nam lẫn của các tướng lãnh về việc có quá nhiều người Bắc trong chính phủ. Vì tôi chính là một trong những mục tiêu chính của sự chỉ trích, nếu tôi rút lui có thể ông Kỳ sẽ có nhiều cơ hội hơn. Hơn nữa, ông Kỳ luôn luôn có thể tham khảo ý kiến của tôi từ phía bên ngoài.

Nghe tôi trình bày xong ông Kỳ không hề phát biểu ý kiến. Ông chỉ trầm ngâm một lát, rồi lại tiếp tục với những vấn đề khác. Tuy thế, tôi biết mình đã chọn đúng lúc để ngỏ lời. Lúc tôi đưa ra ý kiến cũng chính là khi ông Kỳ đang suy nghĩ dữ dội về việc cải tổ chính phủ của ông. Ít lâu sau, trong một lần gặp khác với ông Kỳ, tôi lại trở lại câu chuyện rút lui mà tôi đã bàn với ông khi trước. Lần này thì ông Kỳ phát biểu rằng nếu cần rút lui, có lẽ tôi nên làm đại sứ chứ không nên về hưu.

Ý kiến của ông Kỳ đã làm tôi vô cùng ngạc nhiên, nhưng khi cân nhắc kỹ vấn đề, tôi cho rằng đây có lẽ cũng là một ý kiến hay. Vì lúc trước, khi còn làm việc ngoại giao, tôi vẫn thường đến Tokyo, do đó tin đồn bắt đầu lan tràn rằng tôi đã được chọn làm đại sứ ở Nhật. Nhưng những tin đồn này lại tan biến ngay. Ít lâu sau, ông Kỳ cho vời tôi vào nói rằng: “Nếu có phục vụ ở nước ngoài thì ông sẽ là đại sứ ở Hoa Thịnh Đốn chứ không phải Tokyo.” Thường thì mỗi khi cần cử đại sứ sang bất kỳ quốc gia nào khác, chánh phủ Việt Nam cũng phải thông báo cho chánh phủ nước đó và đợi họ chấp thuận. Vì vậy, trước khi tôi có thể sang Hoa Kỳ, các thủ tục ngoại giao đã kéo dài trong nhiều tuần lễ. Tuy thế, chẳng bao lâu sau Lễ Giáng Sinh năm 1966, tôi và gia đình đã có mặt ở phi trường Tân Sơn Nhất để bắt đầu chặng bay đầu tiên của chuyến hành trình sang Hoa Kỳ.

Tuy mong được phục vụ ở Hoa Thịnh Đốn, tôi vẫn lo âu rằng không biết rằng mình có đủ khả năng để làm tròn nhiệm vụ hay không? Tôi hy vọng được nhậm chức thật âm thầm nhưng những hy vọng của tôi tan biến ngay khi đến Hoa Thịnh Đốn. Hành trình đến Hoa Thịnh Đốn của tôi được loan báo ầm ĩ trên hai tờ New York Times và Washington Post. Theo tờ Post thì tôi là một trong những “cố vấn quan trọng nhất” của Thủ Tướng Kỳ; trong khi đó, tờ Times viết rằng tôi đóng “một vai trò quan trọng trong việc thiết lập cả các chính sách về nội bộ cũng như về ngoại giao.” Lúc này, bất kỳ vấn đề là gì, hễ có dính dáng đến Việt Nam đều là tin tức, vì vậy, việc tôi nhậm chức đã trở thành tin tức đáng kể. Hai mục báo đã khiến dư luận Hoa Kỳ chú ý đến tôi. Vị trí khác biệt bất ngờ đã khiến tôi cảm thấy vô cùng bỡ ngỡ vào lúc ban đầu.

Hai ngày sau khi tôi đến tòa Bạch Ốc để trình ủy nhiệm thư thì nghi lễ nhậm chức đại sứ bắt đầu. Nếu so sánh với những thủ tục lễ nghi của các nước khác, chẳng hạn như Anh Quốc thì thủ tục lễ nghi của Tòa Bạch Ốc tuy không có những chuyến xe ngựa kéo đi quanh những nơi lịch sử như Court of Saint James, nhưng lại có những nét uy nghi của một nền dân chủ. Bên ngoài là Thủy Quân Lục Chiến dàn hàng đứng chào, bên trong văn phòng tổng thống ngọn lửa ấm áp tỏa ra từ những chụm củi cây đối chọi dường như hoàn toàn với thời tiết lạnh lẽo và những khung cảnh tuyết trắng xóa phía ngoài. Lúc nhìn quanh căn phòng, bất chợt đầu óc tôi lóe lên ý nghĩ rằng có lẽ mình đã vượt một chặng đường dài lắm kể từ khi xếp hàng đứng đợi Thiếu Tá Patti và Tướng Gallagher ở Hà Nội hơn hai chục năm về trước.

Tổng thống Johnson chào đón tôi thật niềm nở. Lúc này tuy không phải là lúc để nói chuyện nhiều về các vấn đề quan trọng mà ông vẫn hỏi tôi về tình hình Việt Nam như thể vấn đề Việt Nam là vấn đề mà ông thường xuyên suy nghĩ. Sau vài phút nói chuyện ngắn ngủi, Tổng Thống Johnson giới thiệu tôi với những ký giả của Tòa Bạch Ốc. Họ là những người đã có đầy đủ những câu hỏi chuyên nghiệp soạn thảo kỹ lưỡng đang chờ tôi trả lời.

Mối giao thiệp giữa tôi và giới báo chí tiếp tục nảy nở và khoảng một tuần lễ rưỡi sau tôi được mời nói chuyện qua chương trình Gặp Gỡ với Giới Báo Chí (Meet The Press). Đây là một biến cố tôi chờ đợi chẳng khác nào một con cừu đang chờ đợi ngày lên đường vào lò sát sinh. Tuy ở Việt Nam, tôi đã có kinh nghiệm với những phóng viên ngoại quốc nhưng tình thế lúc đó lại khác hẳn. Lúc đó người nắm cương vị chủ chốt là tôi nhiều hơn là họ. Lần này, những phóng viên lừng danh trong giới báo chí như Lawrence Spivak, Max Frankel, Peter Lisagore, Carl Rowan, và Ron Nessen sẽ liên tục phỏng vấn tôi trong suốt nửa giờ. Trước khi phỏng vấn tôi thì một phóng viên có tiếng ôn hòa là phóng viên Spivak đã nói chuyện chi tiết với tôi để thử xem liệu trình độ Anh Ngữ của tôi có đủ vượt qua những thử thách của cuộc phỏng vấn hay không. Tuy thế, cho đến lúc câu chuyện của ông Spivak đã chấm dứt mà cả hai chúng tôi vẫn chẳng thể quyết định được rõ ràng. Chúng tôi bèn mời ông Đặng Đức Khôi đến tòa đại sứ đến để nếu cần thì sẽ có người thông dịch giúp.

Ông Đặng Đức Khôi là người đã sống ở Hoa Kỳ rất nhiều năm. Ông chẳng những đã thông thạo Anh Ngữ mà còn có nhiều nhận xét rất tinh tế về văn hóa Hoa Kỳ. Ông đã trình bày rõ ràng những điều căn bản khi gặp giới báo chí và nhấn mạnh những tâm trạng nghi ngờ, đối nghịch vốn dĩ là bản tính của đa số phóng viên Hoa Kỳ. Trong khi chúng tôi cùng nhau sửa soạn cho buổi phỏng vấn, ông Khôi đã đưa ra những câu hỏi hóc búa nhất -về tham nhũng, về việc các viên chức Việt Nam lúc nào cũng lạc quan quá mức, về tật hay tuyên bố mạnh dạn của ông Kỳ và về các cuộc thương thuyết hòa bình -Ông Khôi đã đưa ra gần như tất cả các câu hỏi có thể đưa ra.

Tôi trả lời bằng cách đi thẳng vào vấn đề. Chẳng hạn như tôi không thể nào chối cãi rằng không hề có tham nhũng ở Việt Nam. Vấn đề tham nhũng chẳng những đã đầy dẫy mà còn lộ liễu đến mức độ đáng xấu hổ. Nhưng tôi có thể giải thích tại sao tham nhũng lại hoành hành dữ dội như vậy và đưa ra những chính sách chống tham nhũng chính phủ hiện đang áp dụng. Khi đã chuẩn bị kỹ càng cho cuộc phỏng vấn, tôi cảm thấy an tâm hơn. Dầu sao tôi cũng đã trực tiếp đương đầu với vấn đề này gần ba năm trường và đã có đủ dữ kiện để trả lời gần như mọi câu hỏi.

Khi cuộc phỏng vấn chính thức diễn ra tôi đã có thể tự trả lời, không phải phiền đến ông Khôi. Tuy tôi chưa hề biết trước rằng những câu trả lời cho một cuộc phỏng vấn truyền hình lúc nào cũng phải ngắn, gọn, vốn liếng Anh Ngữ của tôi vẫn đủ cho phép tôi trả lời rất tường tận những câu hỏi được đưa ra. Phái đoàn phỏng vấn hỏi những câu hỏi thật sát với vấn đề, nhưng hễ cứ khi nào tôi đưa lời bổ túc các ý kiến đã phát biểu thì phóng viên Spivak lại ngắt lời để tiếp tục đưa ra những câu hỏi khác. Sau hai ba lần liên tục như vậy, tôi đã nhận ra rằng mình phải lao mình vào thử thách. Bất kể trên thực tế nội dung của các câu hỏi đưa ra phức tạp đến độ nào, phái đoàn phỏng vấn vẫn yêu cầu tôi trả lời thật ngắn và thật chi tiết.

Họ muốn biết rõ về các vấn đề chẳng hạn như liệu Sài Gòn có điều đình với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam hay không? Tôi trả lời rằng “Không” vì MTGP thật sự do Hà Nội cầm đầu, và rồi tôi nói thêm rằng bất kỳ lúc nào chúng tôi cũng vui lòng đàm phán với Bắc Việt. Những người phỏng vấn lại hỏi rằng MTGP cũng đang chiến đấu, tại sao Việt Nam lại chẳng thể điều đình với họ. Làm sao tôi có thể giải thích chỉ một đôi câu ngắn ngủi để họ có thể hiểu rõ được những kinh nghiệm bản thân tôi đã trải qua khi phải đối phó với những tổ chức Việt Minh vào thời kháng Pháp hoặc trình bày tường tận được rằng MTGP là một tổ chức mới được thiết lập vào năm 1960, trong lần họp hội nghị thứ ba của đảng ở Hà Nội, vào lúc đảng bắt đầu khẳng định rõ rệt chủ trương: Phải giải phóng Miền Nam và thống nhất đất nước bằng vũ lực? Trước những khoản thời gian gấp rút, eo hẹp đến gần như chớp mắt, làm sao tôi có thể diễn giải mạch lạc được mọi vấn đề như: MTGP là một tổ chức do Bắc Việt tổ chức ở Hà Nội và mãi đến năm 1959 tổ chức này mới xâm nhập vào Miền Nam Việt Nam. Kể từ năm 1964 toàn thể các sư đoàn Bắc Việt đều đã hoạt động toàn lực. COSVN, một tổ chức cầm đầu cách mạng ở MNVN chính là một chi nhánh do đảng Cộng Sản thiết lập và lãnh đạo. Cả Hoa Thịnh Đốn lẫn Sài Gòn đều biết rất rõ những vấn đề vừa kể. (Sau năm 1975, chính những thành viên của đảng Cộng Sản cũng đã xác nhận những sự kiện trên trong các tài liệu chiến tranh Việt Nam.) Nhưng làm sao tôi có thể thuyết phục được các phóng viên khi họ cứ nhất định khăng khăng cho rằng tất cả đều chỉ là những chuyện bịa đặt vô căn cứ?

Tuy phải đối phó với những câu hỏi hóc búa trong một thời gian cực kỳ ngắn ngủi, khi cuộc phỏng vấn kết thúc, tôi vẫn cảm thấy hài lòng. Tôi cũng rất ngạc nhiên vì bầu không khí căng thẳng của buổi phỏng vấn. Hiển nhiên sự thể cho thấy tôi vẫn còn phải học hỏi rất nhiều, nhất là về cung cách cẩn trọng của những phóng viên Hoa Kỳ khi thâu thập tin tức. Tuy thế, tôi đã vượt qua được mọi thử thách. Về sau, tôi còn được biết rằng tuy nghề nghiệp thường buộc giới báo chí phải đứng vào tư thế đối nghịch với chính quyền, rất nhiều ký giả là những người cởi mở và vô cùng đứng đắn.

Trong những tuẫn lễ đầu ở Hoa Thịnh Đốn, tôi đã bỏ ra rất nhiều thì giờ để gọi những cú điện thoại theo thủ tục của giới ngoại giao. Tôi cũng bắt đầu tiếp xúc với những nhân vật trong chánh phủ Hoa Kỳ, những dân biểu quốc hội và các Thượng Nghị Sĩ. Khoảng thời gian đầu, thời tiết Hoa Thịnh Đốn chuyển tuyết. Hương vị mùa đông đến với gia đình chúng tôi bằng những cụm tuyết trắng và những cơn gió lạnh trong một khung cảnh hoàn toàn trái ngược với bầu không khí nhiệt đới của Sài Gòn.

Nếu so sánh thời tiết và khung cảnh đời sống thì đời sống gia đình tôi ở Hoa Thịnh Đốn còn khác biệt với Sài Gòn xa hơn nữa. Tại Sài Gòn cuộc chiến là một phần của khung cảnh đời sống và vì vậy, tiềm thức của những người sống ở Việt Nam đã quen với vấn đề chiến cuộc. Chẳng những thế, ngay ở Sài Gòn, chiến cuộc lại còn có vẻ xa rời, gần như chỉ là một cái gì đó vẫn còn ở xa. Nhưng ở Hoa Thịnh Đốn là một nơi cách tầm nguy hiểm cả 10,000 dặm mà kỳ lạ thay, chiến cuộc lại gần như kề sát. Mỗi sáng khi tôi thức dậy thì tờ Times và tờ Post đã đăng tải những tin tức về chiến tranh Việt Nam thật chi tiết; Sau khi đọc qua những tin tức tường trình trên hai tờ báo, tôi dùng những khoản thời giờ còn lại trong ngày để đối phó với vấn đề chiến cuộc và rồi về đêm tôi lại theo dõi màn ảnh truyền hình để nghe thêm tin tức. Lúc này tôi chưa biết rằng mình đang mục kích chiến tranh Việt Nam qua một nhãn quan khác biệt: Chiến tranh Việt Nam qua màn ảnh Ti Vi. Lúc này tôi chưa hề thấy rõ những ấn tượng đang ăn vào tiềm thức những khán thính giả khi họ theo dõi cuộc chiến Việt Nam qua dư luận của giới báo chí và qua màn ảnh truyền hình. Dĩ nhiên tôi lại càng chưa thể nhận định được đây chính là một trong những phương diện khác biệt của chiến cuộc. Tôi lại càng chưa thể nhận định được rồi đây chính những hậu quả phát xuất từ những hình ảnh tôi đang mục kích sẽ dần dà ăn mòn sự kiên nhẫn của dân chúng Hoa Kỳ và trở thành nguyên nhân chính buộc Hoa Kỳ phải chấm dứt can thiệp.

Nhịp độ cuộc sống ở Hoa Thịnh Đốn cũng hoàn toàn khác biệt. Trước đây, khi còn ở Sài Gòn, vì là cố vấn đặc biệt của ông Kỳ nên tôi đã phải đương đầu với những cuộc khủng hoảng kéo dài tưởng chừng như chẳng bao giờ dứt. Gần như lúc nào cũng có hàng loạt các khó khăn luôn luôn chờ đợi tôi, chẳng những thế mà khó khăn cũng là một khủng hoảng đáng kể đòi hỏi phải được lập tức giải quyết. Mặc dù tôi quả có đối phó được với những vấn đề khó khăn ở Sài Gòn, nhưng tôi vẫn phải xoay sở thật khốn khổ. Trong khi đó thì ở Hoa Thịnh Đốn tôi thức dậy mỗi sáng, thong thả đọc thật kỹ tờ nhật báo, rồi mới bắt tay vào việc sửa soạn thời khóa biểu cho những cuộc họp mặt trong ngày. Thỉnh thoảng mới có một vài biến chuyển bất ngờ và chẳng có gì đáng gọi là khủng hoảng. Cuộc sống hàng ngày chỉ là một cuộc sống bình lặng trật tự chẳng khác nào những đợt tuyết thỉnh thoảng vẫn rơi âm thầm bên ngoài. Nếu so sánh đời sống êm ả ở Hoa Thịnh Đốn lúc này với cuộc sống của tôi trong những năm về trước ở Việt Nam, khi tôi phải làm việc liên tục dưới áp lực thường xuyên để đối phó với những khó khăn ở Sài Gòn thì đây quả là một sự thay đổi đáng kể.

Đối với tôi thì Hoa Thịnh Đốn quả thực là một thử thách lớn lao. Chỉ riêng một việc tìm hiểu quốc hội Hoa Kỳ cũng đã là một công việc vô cùng phức tạp và khó khăn. Hạ viện bao gồm 435 dân biểu. Thượng Viện bao gồm 100 Thượng Nghị Sĩ chưa kể đến hàng trăm những nhân viên phụ tá và hàng chục những ủy ban, tiểu ban. Chỉ nội việc tìm cách ghi rõ danh sách và tìm hiểu về các hoạt động của các dân biểu, Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ cũng chẳng khác nào phải tìm cách băng qua một khu rừng rậm chưa hề được khai phá.

Tôi được may mắn là có một số người bạn giúp đỡ giới thiệu với những người cần phải quen biết ở thủ đô Hoa Kỳ. Sau khi đến Hoa Thịnh Đốn được một thời gian ngắn thì tôi gặp Thượng Nghị Sĩ Everett Dirksen, lãnh tụ thiểu số của Thượng Viện. Có lẽ do mối hảo cảm đặc biệt nên chúng tôi vừa gặp nhau đã hợp nhau ngay. Ông Dirksen giải thích tỉ mỉ cho tôi những lề lối làm việc và sự quan trọng của từng nhân vật trong quốc hội. Một trong những vấn đề ông dặn tôi phải lưu ý là việc nên tìm gặp những nhân vật đứng đầu các ủy ban quan trọng, chẳng hạn như ủy ban ngoại giao và ủy ban quân sự. Chính ông đích thân dàn xếp những cuộc gặp gỡ lúc đầu cho tôi.

Tuy những cuộc gặp gỡ vào lúc ban đầu thật là hữu ích, lúc này tôi vẫn chưa hề biết rằng rồi đây nhiều cuộc gặp gỡ sẽ trở thành những mối giao hảo lâu bền và kéo dài đến cả khi tôi không còn phục vụ ở Hoa Thịnh Đốn nữa. Một cuộc gặp gỡ điển hình đã biến thành mối giao hảo lâu bền về sau là cuộc gặp gỡ giữa tôi và thượng nghị sĩ George Aiken của tiểu bang Vermont. Theo lời bà Aiken thì “Ông Thống Đốc” đã coi tôi như một người em luôn cần bao bọc. Chúng tôi hay cùng nhau nói chuyện, lúc thì trong văn phòng riêng của ông, khi thì ở tòa đại sứ mỗi lần ông bà đến dùng bữa tối với chúng tôi. Vào những dịp như vậy ông vẫn thường giúp cho tôi rất nhiều ý kiến.

Vì ông là bạn thân của Thượng Nghị Sĩ Mike Mansfield, lãnh tụ đa số của Thượng Viện, nên ông Aiken thường nói rõ cho tôi nghe những quan niệm của ông Mansfield. Ông cũng thường chuyển những ý nghĩ của tôi cho ông Mansfield và các thượng nghị sĩ khác trong cả hai đảng dân chủ và Cộng Hòa. Ông Aiken là một người dân vùng New England chất phác, đứng đắn và rất dí dỏm.

Những ý kiến của Thượng Nghị Sĩ Aiken lúc nào cũng sát với thực tế. Ông nhắc nhở tôi rất nhiều về việc phải sửa soạn trước, phải biết rõ quan niệm và khuynh hướng của các dân biểu hay thượng nghị sĩ trước khi đến gặp họ. Ông cho rằng tôi không nên bỏ thời giờ nói chuyện với những người đã có định kiến về cuộc chiến Việt Nam. Ông Aiken cũng khuyên tôi không nên quá lạc quan trong vấn đề nhận diện ai là bạn và phải luôn luôn cố gắng giữ vững những mối giao hảo đã gầy dựng được.

Có lẽ đối với những nhân vật trong chính giới ở Hoa Thịnh Đốn thì tất cả những điều này chỉ là những nhận xét tối thiểu, nhưng đối với một người chưa hề tiếp xúc với đời sống truyền thống dân chủ như tôi thì đây lại là những điều thật mới lạ. Tôi không khỏi vài phần sững sờ khi nhận chân ra rằng mình đang tiếp xúc trực tiếp với một xã hội sống động trong một bầu không khí và lề lối dân chủ. Đây là một xã hội vừa linh hoạt, vĩ đại, lại vừa phức tạp bội phần. Tất cả những dân biểu đều là đại biểu của những địa phương đã bầu cho họ. Mỗi dân biểu đều có những khó khăn riêng. Phần nhiều thái độ của họ đối với vấn đề Việt Nam tùy thuộc rất nhiều vào các vấn đề khó khăn của những địa phương mà họ đại diện. Họ chỉ suy nghĩ về chiến cuộc Việt Nam một cách gián tiếp và những câu hỏi chính của họ thường là: Cuộc chiến Việt Nam có ảnh hưởng gì đến dân chúng trong những tiểu bang mà họ đại diện hay chăng? Đây là một điều rất lạ đối với tôi. Tôi thường nghĩ rằng vấn đề Việt Nam phải là vấn đề chính của nhiều dân biểu nhưng vào năm 1967 thì những nhận định của tôi không đúng hẳn.

Một khám phá khác không kém phần ly kỳ là tuy trong số những người tôi tiếp xúc có rất nhiều người đứng ở những cương vị cao mà vẫn không hề có tầm hiểu biết bao quát như tôi đã lầm tưởng. Trong các cuộc họp với những dân biểu Hoa Kỳ, đã nhiều lần tôi chú tâm sửa soạn chờ nghe những lời nghị luận sâu sắc của họ nhưng rồi lại phải giật thót người vì những ý kiến được đưa ra chẳng những đã thật ngờ nghệch mà còn phản ảnh rõ rệt sự thiếu hiểu biết của những người phát biểu. Tệ hơn nữa là những người phát biểu lại trình bày sự ngờ ngệch của họ thật công khai và không hề có ý dấu diếm. Đã không biết bao nhiêu lần tôi phải sững người vì những câu hỏi vượt ngoài sức tưởng tượng. Có lẽ nếu đứng trên một phương diện nào đó thì việc các dân biểu, thượng nghị sĩ chỉ biết rõ về những tiểu bang họ đại diện và mù tịt về vấn đề quốc tế chỉ là một chuyện tự nhiên. Nhưng việc phải tiếp xúc với những dân biểu chỉ quan tâm tới những vấn đề địa phương lúc nào cũng làm tôi khó chịu. Tôi phải cố gắng sửa đổi quan niệm để chấp nhận rằng trong số những người đang bỏ phiếu định đoạt số phận Việt Nam lại có cả những kẻ chưa hề biết rằng Việt Nam đã có lần là thuộc địa Pháp. Đối với tôi thì vấn đề cần sửa đổi để thích ứng với những thực tế loại này là những bài học vô cùng khó khăn.

Tôi cũng không thể hiểu được những dân biểu chống chiến tranh một cách triệt để như các Thượng Nghị Sĩ McGovern, Fullbright và Church. Mặc dù ông Aiken đã nhiều lần có ý giới thiệu tôi với họ, tôi vẫn không hề có ý muốn gặp họ bao giờ. Không phải tôi ngần ngại về việc phải đối phó với những ý kiến của họ mà vì tôi cảm thấy cung cách của họ thật là cao ngạo và thiếu lịch sự. Đã có vài dân biểu chống đối chiến tranh nhưng họ vẫn là những người thành thật và đứng đắn. Chẳng hạn như Thượng Nghị Sĩ Mansfield. Tuy là người phản đối chiến tranh, ông cũng là người hiểu biết lý luận cũng như còn tỏ vẻ quan tâm đến những vấn đề phức tạp của chiến cuộc và ông cũng nhận định rõ ràng rằng quyết định chấm dứt chiến tranh sẽ là một quyết định quan trọng có liên quan đến vấn đề định đoạt số mệnh của hàng chục triệu gia đình Việt Nam.

Đã đành rằng trong khi bàn luận về vấn đề liệu có nên giúp đỡ Việt Nam hay không thì những người như Thượng Nghị Sĩ McGovern và Fullbright có quyền trình bày quan điểm riêng, nhưng thái độ và những luận điệu lăng mạ của họ đối với giới lãnh đạo Việt Nam thật hoàn toàn bất công. Thượng Nghị Sĩ McGovern đã gọi ông Thiệu là “viên tướng tham nhũng” và phát biểu rằng ông Kỳ không xứng đáng lãnh “dù chỉ là một xu nhỏ viện trợ của Hoa Kỳ.” Tuy chính tôi cũng có những dè dặt riêng đối với ông Thiệu và ông Kỳ, nhưng thật sự thì Thượng Nghị Sĩ McGovern biết gì về những cuộc đấu tranh cho dân chủ ở Miền Nam Việt Nam? Từ chiếc ghế Thượng Viện, liệu ông đánh giá đúng được bao nhiêu nỗ lực của Miền Nam Việt Nam? Phải chăng ông ta không hiểu rõ được rằng nếu còn có được một cơ hội cho Miền Nam Việt Nam thì cơ hội đó phải đến từ những cố gắng để củng cố cho những mầm mống dân chủ mong manh đang bắt đầu được phát triển? Phải chăng ông ta không hiểu rõ được rằng từ bỏ Miền Nam Việt Nam có nghĩa là chối bỏ giá trị của tất cả những điều mà ông đang quyết tâm bảo vệ?

Nhưng thay vì được nghe những cuộc bàn cãi tranh luận thâm thúy, những điều tôi thấy hoàn toàn chỉ là những ngôn từ dễ dãi hời hợt của những nhà lãnh tụ khi họ đồng hóa chiến cuộc Việt Nam với trường hợp giúp đỡ hay ủng hộ tướng này hay tướng nọ. Đây là một hành động tự kiêu, tự đại và đồng thời cũng là một hành động lăng mạ, sỉ nhục Việt Nam. Đã nhiều lần tôi lên tiếng cùng giới báo chí khi lời lăng mạ của họ có phần quá đáng và có lần tôi đã yêu cầu họ phải xin lỗi công khai trước dư luận. Mối liên hệ duy nhất giữa tôi và những nhóm phản chiến cực đoan chỉ có thế.

Cùng lúc tôi bắt đầu làm quen với quốc hội thì tôi cố gắng thiết lập những mối liên lạc với chánh quyền. Một trong những nhà chức trách mà tôi thường xuyên gặp gỡ vào lúc này là ông William Bundy, phụ tá Ngoại Trưởng đặc trách Viễn Đông và Thái Bình Dương Sự Vụ. Chúng tôi biết nhau vì đã cùng làm việc ở nhiều hội nghị Việt Mỹ trước đây. Ông Bundy nguyên là một trong những người thuộc nhóm thân cận của tổng thống Johnson, vì vậy ông được biết hầu hết những chánh sách quan trọng trong chính phủ Hoa Kỳ. Chẳng bao lâu sau ông trở thành nguồn dây liên lạc chính giữa tôi và chánh quyền Hoa Thịnh Đốn. Hơn nữa, ông còn là người cùng làm việc với tôi hàng ngày. Khi đã trở thành thân thiết với ông Bundy, tôi cảm thấy có thể trình bày thành thật với ông những quan niệm của Việt Nam. Tuy là người có tiếng văn hoa, nhưng ông Bundy vẫn thường trực tiếp trình bày quan niệm của Hoa Kỳ một cách thực tế chứ không câu nệ những thể thức ngoại giao rườm rà thường làm lu mờ đi ý chính của các vấn đề bàn luận.

Mối liên hệ giữa tôi và Ngoại Trưởng Dean Rusk thì có vẻ hình thức hơn, tuy vậy nhưng mỗi khi cần, tôi vẫn thường được dịp thẳng thắn trao đổi ý kiến với ông. Ngoại Trưởng Rusk vốn là người kiên cường và tự tin. Ông cho rằng Hoa Kỳ phải tiếp tục cương vị của một đồng minh lúc nào cũng giữ vững lập trường và lời hứa. Ông Rusk quan niệm Việt Nam là một cuộc thử thách đầu tiên với những chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Con người ông Rusk lúc nào cũng hết sức nghiêm trang và mang một vẻ cương quyết khó thể lay chuyển. Ông là hiện thân của Hoa Kỳ trong những cương quyết âm thầm, luôn luôn đi sát với các chủ định ngoại giao. Ấn tượng ban đầu của tôi về ông còn trở nên rõ rệt hơn khi tôi thấy ông ở riêng trong một thế giới biệt lập của chính mình. Phòng làm việc của ông ở tầng lầu thứ 7 của Bộ Ngoại Giao được trang trí thật đơn giản và toát ra một vẻ nghiêm trang đến gần như ngột ngạt.

Hai người bạn thân khác tôi quen ở tòa Bạch Ốc là ông Bill Jorden, phụ tá của cố vấn an ninh quốc gia Walt Rostow và ông Robert Komer, phụ tá đặc biệt của tổng thống về vấn đề kinh tế ở MNVN. Qua hai nhân vật này, tôi có thể cảm thấy gần như trực tiếp áp lực mà vị tổng thống Hoa Kỳ phải chịu đựng khi ông cố dung hòa các chánh sách để thỏa mãn cả những nhu cầu của đồng minh lẫn những đòi hỏi của các vấn đề khó khăn trong nước, nhất là khi những dư luận phản đối ông đang ào ạt ngày càng gắt gao. Tôi thường nói chuyện với các nhân viên Hoa Kỳ trong những buổi ăn trưa ở sứ quán Việt Nam. Bầu không khí thảnh thơi ở sứ quán thường cho phép chúng tôi trò chuyện thoải mái và lâu dài hơn. Khung cảnh dễ chịu và thức ăn ngon, khác hẳn vối không khí căng thẳng của những buổi họp thường khiến chúng tôi bàn luận thật lòng hơn và nhờ vậy tôi có thể hiểu được rành mạch những suy tư của chánh phủ Hoa Thịnh Đốn.

Cả hai ông Komer và Jorden đều là những nhân vật khác thường. Ông Komer khổ người cao và gầy. Trong số tất cả những người tôi đã gặp thì ông có lẽ là người hiếu động nhất. Ông cho rằng bất kỳ bài toán khó nào cũng đều có một đáp số thỏa đáng. Nếu đáp số chưa được đích xác hoàn toàn thì chẳng qua chỉ là vì nỗ lực giải đáp chưa được đặt đúng mức. Lập luận của ông đã khiến ông được mệnh danh là “Một bố đuốc đang cháy.” Khi trình bày những quan tâm của tòa Bạch Ốc trong việc nhận định những vấn đề phức tạp nhiều mặt của chiến cuộc Việt Nam ông Komer suy diễn vừa mạnh mẽ lại vừa lưu loát. Dĩ nhiên những quan tâm của Tòa Bạch Ốc luôn được tôi gửi thẳng về Sài Gòn bằng điện tín.

So với ông Komer thì ông Jorden lại là một loại người khác hẳn. Ông là người trầm lặng, khiêm tốn và gần như dè dặt. Tuy thế, khi trình bày những hiểu biết về cái nhìn của Hoa Thịnh Đốn thì ông vô cùng tinh tế. Vì xuất thân từ ngành báo chí, ông Jorden đã hiểu cặn kẽ những khó khăn của MNVN. Ông giúp tôi trình bày những khó khăn của Sài Gòn cho phù hợp với những nỗi quan tâm của tòa Bạch Ốc. Đây là một sự giúp đỡ lớn lao khi tôi phải nỗ lực chuyển về Sài Gòn những đề nghị của tôi. Nhìn từ một phương diện nào đó thì ông đã làm cho quan niệm của hai quốc gia gần lại với nhau. Tôi không hề ngạc nhiên khi ông Jorden đã điều đình thành công vụ vịnh eo biển Panama (The Panama Canal) lúc sau này.

Qua ông Jorden tôi gặp ông Walt Rostow lần đầu ở văn phòng cố vấn an ninh quốc gia. Lúc này văn phòng cố vấn an ninh quốc gia vẫn còn nằm ở tầng lầu dưới của tòa Bạch Ốc. Ông Rostow chào tôi với một nụ cười thật tươi như thể đang đón chào một người bạn đồng nghiệp cùng làm nghề giáo sư đang ghé chơi và bàn luận những đề tài học đường. Thật ra những cuộc bàn luận với ông Rostow luôn luôn có vẻ là những cuộc bàn luận có tính cách học giả hơn là những cuộc bàn luận ngoại giao. Quan niệm của ông về những phát triển kinh tế và chính trị đối với những nước còn đang phát triển trùng hợp rất nhiều với những quan niệm của tôi. Tuy rằng trong những quan niệm của ông thỉnh thoảng cũng có một vài điểm có vẻ không thích hợp với trường hợp đặc biệt của chiến cuộc Việt Nam, nhưng ông quả là một người hiểu biết uyên bác hiếm có về thế giới Cộng Sản.

Những người chỉ trích ông Rostow cho rằng ông là một trong những nhân vật diều hâu, luôn luôn sẵn sàng ủng hộ những biện pháp mạnh. Chẳng hạn như ông đã cho rằng Hoa Kỳ nên đổ bộ vào Bắc Việt. Riêng về vấn đề can thiệp vào Việt Nam thì ông đã cho rằng Hoa Kỳ cần can thiệp để -để ủng hộ các quốc gia nhược tiểu vừa mới thoát ách thực dân kiến thiết chính trị và kinh tế. Đối với tôi thì lý luận của ông Rostow dĩ nhiên khác những lý luận của chính quyền Hoa Kỳ lúc đó. Hoa Kỳ lúc đó cho rằng họ cần can thiệp để có thể giữ vững thế quân bằng chính trị toàn cầu và ngăn chận sự xâm lược của Cộng Sản.

Vào cuối tháng 2 năm 1967, giữa lúc tôi đang cố gắng tạo dựng những ngọn dây liên lạc ở Hoa Thịnh Đốn thì Sài Gòn có lệnh triệu hồi tôi về để tham khảo ý kiến. Căn cứ vào những mối liên lạc gần gũi giữa tôi cùng chánh quyền Sài Gòn và tầm mức quan trọng của “yếu tố Hoa Kỳ” đối với những biến cố của Việt Nam thì việc họ triệu hồi tôi về cũng chẳng có gì là lạ cả: Quốc Hội Lập Hiến đã soạn xong bản dự thảo hiến pháp. Giờ đây đã đến lúc Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia phải quyết định chấp nhận hoặc phế bỏ bản dự thảo hiến pháp. Nói rõ hơn thì chánh phủ quân nhân lúc này phải tự buông bỏ chánh quyền hoặc chối bỏ tất cả những lời hứa ở hội nghị Honolulu lúc trước. Cùng một lúc với những tin ở Sài Gòn về việc Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia phải có quyết định về bản dự thảo hiến pháp thì cũng có tin là lại sẽ có một hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Việt nữa sắp sửa được triệu tập. 

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"