Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:


15 – Tình Hình Sau Đảo Chánh 


Chương 15
Tình Hình Sau Đảo Chánh

Vào thời gian đảo chánh thì tôi đã đứng ngoài chính trường được 9 năm. Tôi đã mục kích ông Ngô Đình Diệm cùng gia đình giết chết dần những hoài bão của các phần tử quốc gia về việc mang lại đoàn kết và dân chủ cho Miền Nam. Khi đảo chánh thành công tôi cảm thấy hy vọng tràn trề. Tôi nghĩ rằng biết đâu những năm tháng lãng phí vừa qua vẫn chưa làm tiêu tan mọi sự. Lúc này chúng tôi vẫn có thể bắt đầu những kế hoạch dự định như đầu năm 1954. Việc tướng Kim tham khảo chúng tôi đã mang lại cho tôi nhiều khích lệ. Nếu chánh phủ mới được thiết lập thì bác sĩ Quát và những phần tử quốc gia khác sẽ có một môi trường căn bản để dựa vào đó mà hoạt động. Mặc dầu chúng tôi chưa có đủ thời giờ để chánh thức sắp đặt các kế hoạch cho giai đoạn sau đảo chánh, chúng tôi đã dành nhiều thời giờ suy nghĩ kỹ lưỡng về những vấn đề này. Theo chúng tôi được biết thì vào lúc này có lẽ chưa có ai thực sự chú tâm suy xét những kế hoạch tương tự. Hơn nữa, khi bác sĩ Quát còn là Tổng Trưởng Quốc Phòng, tôi và tướng Kim đã có tham dự những buổi đàm phán với Pháp ở Élysée. Lúc đó, đề tài của những cuộc đàm phán với Pháp cũng là những vấn đề thiết lập chánh phủ dân chủ cho Việt Nam chẳng khác gì lúc này. Tôi tin rằng tướng Kim khó thể quên được những đề tài mà chúng tôi đã cùng nhau bàn bạc trong các cuộc đàm phán khi trước.

Khi đến gặp tướng Kim vào buổi ăn tối trong ngày đảo chánh tôi đã ôm ấp rất nhiều hy vọng. Theo lời tướng Kim thì máy bay đặc biệt đã được gửi đi Vĩnh Long để đón bác sĩ Quát. Tôi đã nghĩ rằng đây là lúc chúng tôi có thể bắt đầu nghĩ đến những kế hoạch đã bàn trước đây. Tuy nhiên, lúc gặp tướng Kim thì việc xảy ra lại khác hẳn những điều tôi dự định trước. Tôi hỏi ai là người mà các tướng lãnh nghĩ sẽ đứng vào cương vị thủ tướng? Tướng Kim trả lời rằng các tướng định đề cử ông Nguyễn Ngọc Thơ phó tổng thống dưới thời ông Diệm làm người đứng ra chấp chưởng quyền hành. Nghe xong tôi không khỏi sững sờ. Tôi hỏi tướng Kim: “Chúng ta đang có một cơ hội lịch sử. Nhưng chúng ta cần những người hoàn toàn phù hợp với tình trạng mới. Tại sao ông lại có thể nghĩ đến chuyện mang ông Thơ trở lại?” “À,” tướng Kim trả lời, “Theo tôi biết thì tướng Minh đã đề nghị. Ông Thơ chắc sẽ phải nhận lãnh.”

Câu trả lời làm tôi mất cả bình tĩnh. Tôi lớn tiếng với tướng Kim: Nếu họ đảo chánh chỉ để mang những người trong nhóm họ vào thì cả cuộc cách mạng còn có ích lợi gì chứ? Tướng Kim cố gắng khuyên tôi bình tĩnh. Ông trình bày những vấn đề phức tạp của nội tình hiện tại và nhắc thêm rằng chính bác sĩ Quát cũng sẽ được mời vào làm Bộ Trưởng Y Tế. Tôi nói với tướng Kim rằng đây là chuyện không tưởng: Mời ông Quát -với kiến thức và kinh nghiệm đó,- làm Bộ Trưởng Y Tế thì có khác gì là ném cho chó một khúc xương thừa? Tôi cũng nói thêm rằng chẳng cần phải bàn luận gì nữa. Đương nhiên ông Quát sẽ khước từ không chút đắn đo.

Tuần lễ sau đó tôi đã nhiều lần gặp tướng Kim. Theo tôi nhận định thì tướng Kim đã quyết tâm cộng tác với bác sĩ Quát, tôi và những phần tử quốc gia khác để cùng thiết lập guồng máy chính trị. Đây là việc đã quá rõ ràng, bất kể các tướng tá khác có dự định gì khác. Tôi cho rằng nếu chúng tôi không thể chánh thức tham dự vào chánh phủ thì có thể chúng tôi sẽ tham dự dưới nhiều hình thức khác. Chẳng hạn như tham gia các cơ quan nghiên cứu các phương pháp thành lập những cơ cấu dân chủ.

Tuy rất thất vọng về những quyết định của các tướng tá, nhất là về vấn đề bè đảng hiển lộ rõ rệt trong cung cách của họ, tôi vẫn cho rằng việc soạn thảo một hiến pháp mới là một trong những bước tối quan trọng của chế độ mới. Tôi nghĩ rằng dù có ngờ vực chánh quyền tới mức độ nào đi chăng nữa thì việc hoạch định hiến pháp vẫn không phải là vấn đề chúng tôi có quyền lựa chọn.

Kể từ đó, trong những buổi gặp gỡ với tướng Kim, chúng tôi bàn luận tìm cách mở rộng chánh phủ để mời những người từ mọi phía tham gia chánh phủ. Lúc này bản Hiến Pháp thời ông Diệm đã bị phế bỏ, hội đồng tướng lãnh đang điều hành chánh phủ bằng luật nhà binh. Tôi hiểu rằng cuộc đảo chánh đã bắt buộc các tướng lãnh phải tạm dùng thể thức này, và việc tổ chức bầu cử là việc không thể làm ngay vì chẳng có nguyên tắc nào khả dĩ có thể áp dụng được tức thời. (Tự do bầu cử là việc chưa từng có trong lịch sử Việt Nam từ trước tới nay.) Tuy vậy, tôi chủ trương rằng phải có một diễn đàn cho phép mọi người tự do tranh luận về tất cả các vấn đề và cũng để chánh phủ thể hiện những quyết tâm đeo đuổi đường lối dân chủ.

Những cuộc tranh cãi dẫn đến việc thiết lập Hội Đồng Nhân Sĩ bao gồm vào khoảng 70 chánh trị gia danh tiếng ở trong gần như mọi đoàn thể quốc gia. Gần như tất cả mọi người trong nhóm Caravelle cũng như những người Phật Giáo, Công Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo và những người mà ông Diệm đã đàn áp đều gia nhập.

Mặc dù Hội Đồng Nhân Sĩ không có quyền hành gì, nhưng đây là một cơ quan có tính cách dân chủ nhất từ trước đến nay ở Việt Nam. (Đương nhiên khỏi cần nhắc đến Miền Bắc.) Dưới chánh quyền ông Diệm Quốc Hội thật sự chỉ là bù nhìn. Hội Đồng Nhân Sĩ, ngược lại, đầy những thành viên bộc trực, những người có quan niệm chánh trị hoàn toàn khác biệt. Họ không hề có chút đắn đo về việc phê bình chánh phủ bằng những lời lẽ thẳng thắn nhất. Họ cũng có thễ tìm đến những cơ quan ngôn luận và báo chí lúc này đã hoạt động trên những diễn đàn có tầm vóc quốc gia. Chẳng bao lâu sau các tướng lãnh hiểu rõ việc gạt bỏ tư tưởng của họ không phải là một việc dễ dàng.

Riêng cá nhân thì tôi rất hài lòng về việc đã đóng góp thiết lập Hội Đồng Nhân Sĩ. Đối với tôi Hội Đồng Nhân Sĩ là một phương tiện ngăn cản các tướng lãnh khỏi lạm dụng quyền thế. Tuy tôi hết sức sốt sắng làm mọi việc để bảo vệ hội đồng, nhưng tôi cũng rất ngần ngại khi thu hút tất cả sự chú ý về phía riêng mình. Chính bản thân tôi vốn là một người Bắc sống tại Miền Nam và những người tôi gần gũi trong lãnh vực chính trị phần nhiều lại là người Nam. Gia tăng những đụng chạm ngấm ngầm giữa Bắc Nam là một việc hoàn toàn bất lợi. Nhất là khi tôi lại đang cố thiết lập một chánh phủ liên hiệp. Sau cùng tôi quyết định ứng cử chức phó tổng thư ký Hội Đồng và cùng làm việc với ông Trần Văn Văn, một người Miền Nam giữ chức Tổng Thư Ký. Nước cờ này đã loại trừ tất cả những nghi ngờ về bè cánh các miền. Đây là một trong những lần tôi thành công trong việc xóa bỏ những nghi kỵ Bắc Nam. Tuy thế, về sau này, những nỗ lực của tôi không phải lúc nào cũng hoàn toàn như ý.

Khi Hội Đồng bắt đầu hoạt động, tôi vẫn thúc đẩy tướng Kim về việc cần thiết phải đề cử những người từ phía ngoài vào những chức vụ quan trọng cũng như việc cần phải tiến đến một chánh phủ hợp hiến càng nhanh càng tốt. Tuy cuộc đảo chánh ông Diệm đã mang lại nhiều phấn khởi, những khó khăn trong chánh phủ vẫn còn đầy dẫy. Lúc này, cách hữu hiệu nhất để giải tán những khó khăn là thiết lập một chánh phủ dân sự.

Thật sự thì uy thế của các tướng tá đang ngày càng giảm dần vì nhiều lý do. Thứ nhất: Việc giết ông Diệm và ông Nhu đã khiến họ phải gặp nhiều điều bất lợi. Hai anh em ông Diệm và ông Nhu đã cầm đầu chính phủ suốt 9 năm và đã bổ nhiệm rất nhiều chân tay cốt cán vào chánh quyền. Việc ám sát hai ông đã tạo ra những chống đối sâu xa và dai dẳng giữa những người cũ và những người mới. Những sự chống đối của các nhân viên chính quyền đã làm tê liệt một phần guồng máy chính phủ trung ương và địa phương. Lúc này, ngoài các cơ quan quân sự, dường như toàn thể guồng máy chính quyền đều tê liệt.

Thứ hai: Cuộc đảo chánh đã vô tình gia tăng cuộc xung đột tôn giáo. Cuộc cách mạng vốn dĩ khởi đầu do thái độ đàn áp Phật Giáo. Hơn nữa, vì các tướng Lê Văn Kim và Trần Văn Đôn đều là những người theo phật giáo, cuộc cách mạng có vẻ là một hành động để giải cứu các phật tử cũng như để trả thù sự phân biệt tôn giáo dưới chính quyền ông Diệm. Chuyện những người công giáo cảm thấy thù nghịch những vị tướng lãnh cũng là chuyện dễ hiểu, nhất là khi họ mục kích sự đối đãi bất nhẫn của những người này đối với ông Diệm và ông Nhu.

Tuy vậy, những khó khăn căn bản là do từ chính các vị tướng lãnh mà ra. Những quân nhân trong Hội Đồng tướng lãnh chẳng những đã không có quan niệm rõ rệt về chính phủ hoặc xã hội, mà cũng chẳng hề có những suy nghĩ thiết thực về việc xây dựng lại quốc gia. Khung cảnh của các vị tướng lãnh lúc này thật đúng như lời tục ngữ: “Đồng Sàng Dị Mộng”, họ quả thật là những người cùng chung giường nhưng lại chẳng cùng giấc mơ. Và ngay cả đến những giấc mơ của họ cũng không rõ ràng cụ thể. Kết quả là các vị tướng tá đã đồng ý bỏ mặc guồng máy chính quyền.

Tướng Lê Văn Kim lúc nào cũng phẫn nộ về tình trạng buông lơi của các tướng lãnh. Vốn dĩ là một người cương quyết và có khả năng; ông không thể chịu được sự lười biếng của tướng Dương Văn Minh. Tướng Kim nói với tôi rằng: Trong Hội Đồng có nhiều phe nhóm quá mà lại thiếu đường lối tổng quát cho nên vẫn chưa có gì đáng gọi là thành quả. Lúc này, việc cần thiết là phải tìm những người đứng ra để lãnh đạo. Mọi việc đều qua tướng Minh, người đã đặt tay chân của riêng mình vào những cương vị chủ chốt. Tuy thế, chính cướng Minh lại không hề có một chút khả năng nào dù là khả năng thúc đẩy những người do chính ông đưa vào.

Sau cùng, vì đã quá chán nản, tướng Kim xin từ bỏ những trách nhiệm chính trị để có thể trở về phục vụ quân đội. Kết quả là vào giữa tháng giêng ông được cử làm Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội. Khốn thay, ngay cả việc này cũng làm gia tăng nhiều sự ngờ vực. Đã có vài người cho rằng ông Kim đang cố gắng củng cố quyền lực. Hơn nữa, chỉ ít lâu sau đó, tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng Tham Mưu Trưởng trước khi ông Kim nhậm quyền, lại còn tạo ra một hiềm khích làm vấn đề càng thêm phức tạp. Mặc dầu Hội Đồng Nhân Sĩ vẫn là một điểm sáng, nhưng khung cảnh đất nước lúc này thật là tăm tối và cho đến cuối năm 1963 thì mọi sự đã rõ ràng rằng những tiến triển trong giai đoạn đầu của cuộc đảo chánh chẳng có gì đáng gọi là cách mạng. Tất cả chẳng qua chỉ là việc giao chuyển quyền hành mà thôi. Lại thêm một cơ hội nữa bị lãng phí. Đây có lẽ là cơ hội cuối cùng của chúng tôi.

Sau cuộc đảo chánh, ba tháng trôi qua tay các vị tướng tá hững hờ như nước. Lúc này, những hy vọng của các phần tử quốc gia vào lúc đầu đảo chánh mới thành công đã chuyển thành những nghi ngờ, lãnh đạm. Tuần trăng mật của chánh phủ mới trôi qua thật là ngắn ngủi và chưa ai tiên đoán được đất nước sẽ phải chấp nhận cuộc lênh đênh buông thả trong bao lâu nữa. Sự thiếu sáng kiến của giới lãnh đạo trong ba tháng cầm quyền đầu tiên đã đủ để mọi người có linh cảm rằng hiểm họa sắp xuất hiện.

Vào ngày 30-11-1964, tai họa mở màn bằng hành động của tướng Khánh. Sáng sớm hôm đó, tướng Nguyễn Khánh và một nhóm tướng lãnh khác -kể cả tướng Trần Thiện Khiêm, cựu Tổng Tham Mưu Trưởng- đứng ra làm một cuộc chỉnh lý lật đổ nhóm tướng lãnh đã đảo chánh ông Diệm không cần đến một phát súng. Tuy không làm gì hại đến nhóm tướng lãnh, sau khi chỉnh lý ông Khánh đã cầm tù họ rồi tự mình đứng ra nắm quyền lãnh đạo.

Cuộc chỉnh lý lần này đã thay thế luật nhà binh của nhóm tướng lãnh lúc trước bằng những hành động hài hước của một nhân vật hoàn toàn thiếu đứng đắn. Nếu các tướng tá trước ông Khánh chỉ là những người thiếu kiến thức chính trị và thiếu tháo vát thì tướng Khánh lại chính là một người lãnh đạo với khả năng không quá khuôn khổ của những việc toa rập. Theo tôi nhận xét thì Tướng Khánh là một nhân vật len lỏi vào cuộc đời chính trường phức tạp Miền Nam với những quan niệm bấp bênh đã làm bẽ mặt cả đất nước. Khi ông Khánh ra cầm quyền, tôi nghĩ có lẽ đã đến lúc tôi nên rời chính trường để trở lại với cuộc sống bình thường. Trong thời ông Diệm, ở Sài Gòn đã có một tờ báo Anh Ngữ là tờ Times of Vietnam. Tờ Times được coi là cơ quan ngôn luận của chính phủ và thường xuyên đăng những mục chửi bới chống Hoa Kỳ. Tờ báo này lúc trước vẫn được ông bà Ngô Đình Nhu đứng sau làm hậu thuẫn. Sau khi các tướng tá đảo chánh, những văn phòng của nhà xuất bản bị lục soát và tờ báo phải đóng cửa.

Lúc này tôi cảm thấy dường như thị trường Sài Gòn vẫn còn đủ chỗ cho một tờ báo Anh Ngữ. Tôi có biết sơ về công việc báo chí vì đã có lần làm chủ bút cho một tờ báo ở Hà Nội năm 1951, và đã gom đủ tiền để bắt đầu một tờ báo mới là tờ Saigon Post. Bắt đầy xây dựng một tờ báo từ phút ban đầu là một việc vô cùng khó nhọc. Việc đã thâu hết tất cả công sức của tôi trong nhiều tháng trời. May thay, đây cũng là một sự khó nhọc tôi chẳng nề hà. Thời giờ của tôi được chia đều để viết bài bình luận, chọn các tiết mục, xem xét vấn đề thương mãi và trông coi cả đến việc sắp chữ. Thông thường thì khoảng 3 hoặc 4 giờ đêm mỗi ngày tôi bắt đầu duyệt lại lần chót tờ báo trước khi cho lên khuôn để xuất bản vào ngày hôm sau, rồi sau đó về nhà vật ra ngủ vùi một giấc ngắn trước khi một ngày mới bắt đầu.

Tuy lại một lần nữa tôi xa rời chính trường, tôi vẫn chưa bỏ hẳn được mọi hoạt động chính trị. Có lẽ chỉ ngoại trừ việc bị buộc phải nghỉ mát bất đắc dĩ như lần đưa nhà tôi sang Pháp dưỡng bệnh lúc trước thì chẳng còn việc gì khác có thể khiến tôi từ bỏ được tất cả những hoạt động chính trị. Chính trị chính là mạch sống của những người mang nghiệp chủ bút hoặc viết bình luận như nghề mới chọn của tôi. Cơ nghiệp điện ảnh ngắn ngủi của tôi trước đây cũng có liên quan một phần đến chính trị trong phần chủ đề. Ngay cả khi tôi đi dạy, thì thời gian đó cũng là vào giữa lúc những phong trào chống đối đang hoạt động mạnh trong giới các giáo sư và rồi nghề giáo của tôi cũng bị những biến cố chính trị làm cho khuất lấp mất đi. Vào thời gian này tôi đã gia nhập chính trường được 20 năm và có lẽ chẳng còn bất cứ cách nào có thể làm tôi dứt bỏ được nghiệp chính trị. Về riêng phương diện này, cuộc sống của tôi cũng chẳng khác gì cuộc sống của nhiều người Việt Nam khác. Từ khoảng giữa thập niên 1940 về sau, lịch sử đất nước không hề để bất kỳ ai an hưởng trọng vẹn hòa bình hoặc bất kỳ gia đình nào an nhiên không bị đụng chạm. Tất cả chúng tôi đã trở thành những nạn nhân chính trị bằng cách này hay cách khác. Có lẽ vào lúc này, ấn tượng đó còn phù hợp với hoàn cảnh hơn là vào năm 1964. Nếu nhìn lại với những biến cố lịch sử đã trôi qua, thì chính chánh quyền Nguyễn Khánh đã xóa tan những hoài bão của các phần tử quốc gia khi họ cố tìm cách xây dựng một Miền Nam Dân Chủ mạnh mẽ để có thể đương đầu hữu hiệu với Cộng Sản. Theo tôi thấy thì cho đến giai đoạn này đã có rất nhiều cơ hội có thể cho phép Việt Nam thiết lập một chánh phủ dân chủ như những phần tử quốc gia đã từng ước mơ. Cơ hội đầu tiên là năm 1948, khi Pháp đưa ra “Giải Pháp Bảo Đại.” Cơ hội thứ hai là năm 1954, khi hiệp định Geneva tạo thành một Miền Nam Việt Nam độc lập. Cơ hội thứ ba là năm 1963, khi các tướng lãnh đảo chánh ông Diệm. Nhưng trong cả ba cơ hội vừa kể, giới lãnh đạo Miền Nam đã phá hủy tất cả mọi triển vọng của các phần tử quốc gia và không đáp ứng được nguyện vọng của người dân Việt Nam. Nếu ân sủng may mắn đã đến cho giới lãnh đạo Miền Bắc bao nhiêu thì nghịch cảnh đã khiến giới lãnh đạo quốc gia phải chịu đựng khốn khó bấy nhiêu.

Khi suy luận dựa trên quan điểm này thì chính người Việt Nam đã tự chuốc lấy những khốn khó cho cuộc sống của mình. Chẳng có gì khó hiểu về những người như Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Big Minh và Nguyễn Khánh. Điều khó hiểu có chăng là ở vào câu hỏi: Tại sao Hoa Kỳ khởi đầu vào Việt Nam với mục đích xây dựng một Miền Nam Dân Chủ và vững mạnh mà lại có thể khiến Việt Nam đi đến những thất bại sâu xa đến thế? Vì rằng mỗi cơ hội dành cho những phần tử quốc gia cũng là một cơ hội dành cho Hoa Kỳ. Nuôi dưỡng ý thức dân chủ tại Việt Nam không phải chỉ là một vấn đề liên hệ đơn thuần đến Việt Nam, mà cũng là vấn đề liên hệ đến Hoa Kỳ. Vì vậy, một khi Việt Nam đã thất bại thì Hoa Kỳ cũng đã thất bại.

Nếu những thất bại của Việt Nam là do thiếu lãnh đạo thì những thất bại của Hoa Kỳ, theo tôi, là do thiếu chính sách. Qua con mắt những người Việt Nam thì chính sách của Hoa Kỳ lúc nào cũng đầy mâu thuẫn. Nói một cách chi tiết hơn thì Hoa Kỳ lúc nào cũng đi dây giữa hai vấn đề can thiệp và không can thiệp. Chính phủ Hoa Kỳ dường như vĩnh viễn chẳng bao giờ có thể khẳng định vấn đề liệu có nên can thiệp hay không. Hậu quả của thái độ đi dây là Hoa Kỳ đã đưa cả mình lẫn đồng minh Việt Nam vào một tư thế bất lợi hơn cả.

Cuộc đảo chánh ông Diệm là một phần thất bại điển hình đã ám ảnh cả Hoa Thịnh Đốn lẫn Sài Gòn. Các tướng lãnh đảo chánh ông Diệm đã cố hết sức thận trọng tránh để cho cuộc đảo chánh có vẻ không phải là “do người Mỹ tổ chức.” Nhưng dù các tướng lãnh có cố gắng đến mức nào đi nữa thì biến cố đảo chánh vẫn khó thể xảy ra nếu không có sự đồng ý của Hoa Kỳ. Trong nhiều tháng trước khi họ dự định đảo chánh, các tướng lãnh đã hết sức thận trọng dò dẫn thái độ của Hoa Kỳ. Các tướng tá cần -hoặc ít ra là cảm thấy cần- được Hoa Kỳ nói rõ với họ rằng dù cho ông Diệm có bị lật đổ, thì Hoa Kỳ cũng vẫn tiếp tục viện trợ kinh tế và quân sự cho Việt Nam. Sau cùng Hoa Kỳ đã bật đèn xanh cho họ. Mới đầu là những dấu hiệu ngầm từ Hoa Thịnh Đốn và rồi rõ ràng hơn qua trung gian Lucien Conein, người của CIA.

Mặc dầu những người âm mưu và Hoa Kỳ đã cẩn trọng che dấu tất cả mọi việc, khi biến cố đảo chánh xảy ra, tất cả những người Việt Nam có để ý đến vấn đề chính trị đều nhận định rằng sự dính líu của Hoa Kỳ là chuyện nghiễm nhiên. Do vậy, khi đảo chánh thành công và cả Việt Nam đều vui mừng khi chánh phủ ông Diệm bị lật đổ thì Hoa Kỳ đã được xem là đồng minh của dân chủ. Đối với Việt Nam, chuyện Hoa Kỳ can thiệp là chuyện hoàn toàn có tính cách tự nhiên. Sự can thiệp được ủng hộ là vì hành động này đi đôi với mong mỏi chung của dân chúng.

Cuộc đảo chánh của các tướng lãnh là việc can thiệp trực tiếp đầu tiên của Hoa Kỳ vào nội bộ Việt Nam. Tuy vậy, như tôi đã trình bày, chính sách của Hoa Kỳ đã ảnh hưởng đến tình hình chính trị Việt Nam qua rất nhiều năm. Sự can thiệp của Hoa Kỳ bắt đầu từ khi Pháp còn đô hộ Việt Nam cho đến khi ông Diệm bị lật đổ. Ở mọi thời điểm, Hoa Kỳ đều không lộ rõ vai trò. Tuy thế, tất cả các phần tử quốc gia Việt Nam đều xem Hoa Kỳ là đồng minh. Kể từ ngày thế chiến thứ hai kết liễu Hoa Kỳ đã giúp đỡ, cố vấn và cũng đã nhiều phen cản trở hành động của các phần tử quốc gia.

Vào thời Bảo Đại, Hoa Kỳ đã liên tiếp chối bỏ một giải pháp quốc gia cũng như đã ủng hộ trò chơi của Pháp khi Pháp cố trì hoãn việc nhượng quyền cho các phần tử quốc gia và như thế Hoa Kỳ đã vô tình làm giảm uy tín các phần tử quốc gia rất nhiều. Trong thời ông Diệm, Hoa Kỳ đã ủng hộ nhân vật độc tài này suốt một thập niên cho tới khi ông Diệm công khai chống đối việc mở rộng chính phủ. Hơn nữa, khi chánh phủ ông Diệm đang ráo riết đàn áp các phần tử quốc gia Hoa Kỳ còn dùng chiêu bài “Hợp Pháp” để cắt đứt liên lạc với họ. Những chánh sách của Hoa Kỳ chẳng khác nào những nhát giáng đã cướp đi cả những khích lệ lẫn các điểm tựa mà các phần tử quốc gia có thể dựa vào để hoạt động.

Kể từ lúc đó cho đến nay, tôi vẫn nhận xét rằng chánh sách “đi dây” của Hoa Kỳ chứng tỏ họ hoàn toàn không hiểu rõ chủ định của chính mình. Một mặt thì thực tế về sách lược toàn cầu đòi hỏi Hoa Kỳ phải ủng hộ chánh sách thực dân của Pháp và giúp đỡ ông Diệm củng cố chánh quyền. Nhưng mặt khác, lý tưởng lại đòi hỏi Hoa Kỳ phải chống lại thực dân và bồi đắp cho một nền quốc gia dân chủ. Giữa hai sách lược phải chọn, Hoa Kỳ dường như không thể cả quyết được rằng họ sẽ phải đi theo sách lược nào.

Tôi tự hỏi liệu vào lúc đó hoặc về sau này, Hoa Kỳ có thể nhận thức được rằng bất kỳ chọn lựa cách nào thì họ cũng vẫn phải can thiệp trực tiếp hay chăng? Vấn đề phải can thiệp là một vấn đề Hoa Kỳ khó thể tránh khỏi! Sau thế chiến thứ hai, cương vị nổi bật của Hoa Kỳ đã khiến họ ảnh hưởng trầm trọng đến chính trị nội bộ Việt Nam bất kể họ hành động ra sao. Chính vì lý do này nên trong giai đoạn ông Diệm nắm quyền, khi Hoa Kỳ cắt đứt liên lạc với chúng tôi dưới chiêu bài “hợp pháp” và “không can thiệp” tôi vẫn thấy rằng hành động của họ cũng có phần đúng. Ngoài cách bịt mắt không can thiệp, Hoa Kỳ chẳng còn cách nào khác để tránh khỏi đương đầu với vấn đề Việt Nam. Vì bất cứ khi nào những người có trách nhiệm trong chánh phủ Hoa Kỳ còn tin rằng số phận của các quốc gia tùy thuộc lẫn nhau, bất cứ khi nào họ còn tin rằng những quyền lợi quan trọng của Hoa Kỳ luôn luôn phải đi đôi với một thế giới quân bằng ổn định thì lúc đó dù muốn dù không, Hoa Kỳ vẫn phải vương mình vào cuộc. Một khi đã chấp nhận điều này thì điều quyết định còn lại là phải can thiệp như thế nào. Câu hỏi chính, vì vậy, chính là: “Phải can thiệp như thế nào?” Chứ không phải, “Liệu có nên can thiệp hay không?”

Mãi cho đến khi các tướng tá đảo chánh, Hoa Kỳ vẫn giữ vững chủ trương “không can thiệp.” Tuy vậy, vào mùa hè 1963, chủ trương không can thiệp đã khiến Miền Nam rơi vào tình trạng tai hại đến nỗi dường như Hoa Kỳ bị buộc phải đi ngược lại các chính sách về trước và trực tiếp can thiệp. Nhưng dù bị buộc phải can thiệp, Hoa Kỳ vẫn vào cuộc đầy vẻ ngần ngại, đắn đo. Sau khi đồng ý để cho những người mưu mô đảo chánh bắt tay vào việc, họ coi như việc can thiệp đã kết liễu. Hoa Kỳ hành động như thể cố nói lên tâm tư ngần ngại của họ rằng: “Tình thế đã bắt buộc chúng tôi can thiệp, nhưng chúng tôi sẽ cố giảm thiểu mức độ can thiệp và nếu cần chúng tôi sẵn sàng chối bỏ sự can thiệp.”

Nhưng vấn đề can thiệp, thật chẳng khác nào vấn đề thụ thai. Một khi đã thụ thai thì dĩ nhiên chẳng thể có vấn đề thụ thai nửa chừng. Khi Hoa Kỳ nỗ lực giới hạn các hành động can thiệp thì chánh phủ Hoa Kỳ nói chung -và ông Henry Cabot Lodge nói riêng- đã không chú ý đến vấn đề lãnh đạo sau khi ông Diệm bị lật đổ. Họ chẳng hề chú tâm đến những vấn đề khó khăn của tương lai. Hoa Kỳ quyết định đổi ngựa mà không cần biết rõ con ngựa mới như thế nào. Hậu quả là một nhóm quân nhân đã đứng ra đảo chánh và rồi tiếp sau đó là một nhân vật hài hước Nguyễn Khánh lên thay. Cuối cùng chính Hoa Kỳ phải lãnh nhận mọi hậu quả của cuộc đảo chánh. Hậu quả này bao gồm cả những thành công lẫn những thất bại của các nhân vật thiếu khả năng đã nắm quyền tại Việt Nam. Cách vào cuộc của Hoa Kỳ thật là vụng về vô kể.

Thật ra những diễn biến kể trên không phải là những vấn đề chẳng thể tránh khỏi. Nếu Hoa Kỳ có đủ can đảm nêu rõ lý tưởng dân chủ thì những người có trách nhiệm trong chánh phủ Hoa Kỳ có thể sẽ có những giải pháp khác. Hoa Kỳ có thể dùng thời giờ để tìm hiểu kỹ xem mục đích thực sự của họ đối với Việt Nam là gì và tìm những giải pháp thiết thực để chuyển Việt Nam về một hướng thuận lợi hơn thay vì chỉ dùng thời giờ tranh luận về vấn đề làm thế nào để trực tiếp can thiệp vào Việt Nam mà vẫn tránh được vẻ lộ liễu.

Trong diễn biến đảo chánh, đại sứ Lodge đã nhờ nhân viên Conein của CIA chuyển lời với những người âm mưu đảo chánh rằng Hoa Kỳ “không hề toan tính ngăn cản” cuộc đảo chánh. Nhưng ông Lodge cũng có thể nói khác. Ông có thể bàn luận với những người mưu mô qua những lời kín đáo khác chẳng hạn như: “Thực sự, chúng tôi không ủng hộ ông Diệm. Nhưng ủng hộ các ông có thật là một giải pháp hoàn hảo hơn chăng? Chúng tôi không muốn biết rõ chi tiết về việc đảo chánh của các ông. Nhưng các ông sẽ làm gì sau đó? Các ông đang bàn luận về tương lai đất nước các ông. Tất nhiên sự việc cũng có liên hệ đến chúng tôi.” Các tướng lãnh không phải là những người không thông hiểu vấn đề. Họ sẽ phải nghe theo giải pháp hòa nhã và trực tiếp này. Vì rằng họ chẳng thể lựa chọn.

Cho dù lịch sử đã trôi qua và chúng tôi đang nhìn lại vấn đề, việc phán xét liệu có nên đảo chánh ông Diệm hay không vẫn là việc khó nói. Tuy chẳng ai có thể tiên đoán được những diễn biến tại Việt Nam nếu ông Diệm và gia đình vẫn tiếp tục nắm quyền, nhưng bất kỳ ai cũng có thể nhận định rằng nếu không nỗ lực tiến hành những nhu cầu thiết thực của Miền Nam sau đảo chánh thì những thành công của cuộc đảo chánh quả không đáng kể. Khi nhóm tướng tá nắm quyền thì lại có một sự mâu thuẫn tương tự hệt như trước đây giữa họ và Hoa Kỳ. Một mặt, đại sứ Lodge đã tiếp tục thái độ không can thiệp khi các tướng lãnh đi từ sự vụng về này qua sự vụng về khác. Mặt khác, tuy đã quyết không can thiệp, Hoa Kỳ vẫn tỏ vẻ phẫn nộ vì kém nhẫn nại. Họ có cảm giác như một người anh lớn lúc đứng nhìn em mình hành động một cách hoàn toàn vô trách nhiệm. Những tướng lãnh chẳng những đã không có chính sách và kế hoạch rõ rệt mà còn thiếu cả người lãnh đạo chủ chốt. Vào tháng 12 năm 1963, McNamara trong cơn giận dữ đã bước vào phòng họp với các tướng lãnh đạo nhìn quanh từng người và đặt câu hỏi: “Ai trong nhóm các ông đây là người lãnh đạo?” Các tướng tá đều ngậm miệng căm hờn. Hành động của McNammara biểu hiện rõ rệt khuynh hướng của Hoa Kỳ là dùng sức mạnh áp chế thay vì giúp đỡ các đồng minh bằng những phương pháp tốt đẹp khác.

Đã không chịu đưa ra những chủ trương hướng dẫn rõ rệt mà lại tức giận và thất vọng về những hành động vụng về và thiếu kế hoạch của giới lãnh đạo Việt Nam, những người lập chính sách Hoa Kỳ quả thật đã chơi trò phù thủy đầy bí hiểm. Những xung khắc rõ rệt của Miền Nam khi đi đôi với những chủ trương thật mơ hồ của Hoa Kỳ đã dẫn đến cuộc chỉnh lý của Nguyễn Khánh . Mặc dầu chính bản thân đại sứ Lodge không hề có dính líu gì đến cuộc đảo chánh, khi nhóm tướng lãnh bị lật đổ, ông đã phát biểu: “Thế là thoát nợ!”

Có thể điều đại sứ Lodge phát biểu đã chứng tỏ ông cảm thấy ngờ vực, bất an khi phải gắn liền uy tín của Hoa Kỳ vào những nhân vật lãnh đạo Miền Nam. Nhưng chẳng những đại sứ Lodge mà ngay cả đến ông Johnson cũng chưa hề chú tâm đến vấn đề tìm tòi những người lãnh đạo. Vì chính sách của Hoa Kỳ lúc nào cũng mong mỏi sự ổn định ở Việt Nam nên họ sẵn lòng chấp nhận bất kỳ ai trông có vẻ hứa hẹn. Họ chẳng cần đoái hoài gì tới vấn đề phải cải cách để biến chánh quyền Miền Nam thành một chính quyền mà họ thực sự muốn ủng hộ. Lại một lần nữa họ quyết định đổi ngựa mà chưa hề biết rõ tính nết của một con ngựa lạ.

Những hành động vô ý của Hoa Kỳ dẫn đến hậu quả là ngay từ phút đầu, ông Khánh đã được tiếp đón như một người hùng được Hoa Kỳ ủng hộ triệt để. Để chứng tỏ sự ủng hộ của Hoa Kỳ với vị lãnh tụ mới, Hoa Kỳ đã gửi cả Bộ Trưởng Quốc Phòng sang Việt Nam để vận động ủng hộ ông Khánh. (Cách vận động này vốn không phải là một sách lược tự nhiên đối với McNamara. Có lần ông nắm tay ông Khánh tung hô: “Việt Nam Muôn Năm.” Khốn thay, người dạy McNamara khẩu hiệu tung hô lại quên không dạy ông phải đặt dấu nhấn cho đúng nên thay vì tung hô: “Việt Nam Muôn Năm,” ông ta lại hô trệch đi thành “Việt Nam Muốn Nằm!”) Thật ra, bề mặt mạnh mẽ của tướng Khánh chỉ có thể che dấu được những nhược điểm to lớn của chánh phủ Miền Nam được nhất thời. Những nhược điểm của chánh quyền tướng Khánh bao gồm nhiều điểm. Nhược điểm thứ nhất là chánh phủ không có một chánh sách tổng quát rõ rệt. Nhược điểm thứ hai là chính bản thân tướng Khánh cũng không đủ khả năng để nhận thấy tầm mức cần thiết của vấn đề này. Khi McNamara giơ tay cùng Nguyễn Khánh, mọi người đều thấy rõ cả Tổng Trưởng Hoa Kỳ lẫn tướng Khánh đều khép chặt những ngón tay xen kẽ. Hình ảnh này có thể được xem như một biểu tượng đánh dấu mối liên hệ chặt chẽ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Nhưng nếu quả những người có trách nhiệm trong chánh phủ Hoa Kỳ lúc đó đã nhận định được vấn đề một cách tường tận thì họ phải kết luận khác. Họ chẳng thể kết luận rằng chỉ cần hình ảnh của biểu tượng liên kết là đủ để giải tỏa mọi khó khăn. 

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"