Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

16 – Chánh Quyền Tướng Khánh 


Chương 16
Chánh Quyền Tướng Khánh

Vào mùa xuân năm 1964, tướng Khánh vẫn chưa hề hoàn thành được điều gì đáng kể. Ông chỉ hô hào những câu vô nghĩa về mục đích của mình và thay đổi vòng vòng các bộ trưởng, chẳng theo một phương sách hoặc thứ tự nào cả. Một trong những hành động khác của ông là giải tán Hội Đồng Nhân Sĩ vào tháng sáu. Một hôm, Hội trưởng Trần Văn Văn cùng tôi được triệu vào gặp ông Khánh để nghe ông tuyên bố: “Hội Đồng Nhân Sĩ thực sự chẳng có ích lợi gì. Tôi đã có những ý kiến khác.” Sau đó chúng tôi được mời ra. Sự việc gần như thể chúng tôi chánh thức được báo cáo rằng chính mình đã chết.

Một trong những điểm sáng sủa hơn là tờ Saigon Post đã đi qua giai đoạn lục đục bấp bênh ban đầu và chuyển thành một tờ báo khá vững. Dù rằng đam mê báo chí vẫn còn, những ngày tờ báo đòi hỏi tôi phải chú tâm đã thật sự đi qua.

Lúc này, gia đình chúng tôi đã giải quyết được những khó khăn về vấn đề tài chánh. Hơn nữa, ở Sài Gòn cũng chẳng có điểm hy vọng nào đáng gọi là sáng sủa trong tình hình chính trị. Tình trạng thật là bế tắc và tôi cho rằng có lẽ phải rời bỏ quốc gia, thì đầu óc mới có thể nghỉ ngơi và nhận định được tình hình Việt Nam rõ hơn qua một lăng kính khác. Qua ông Barry Zorthian, người điều khiển, hướng dẫn các dịch vụ tin tức, tôi biết rằng thỉnh thoảng phòng thông tin Hoa Kỳ USIS có mời người ngoại quốc đến viếng thăm Hoa Kỳ dưới một chương trình gọi là Leadership Program. Tôi đã hỏi ý kiến ông Zorthian thử xem mình có thể đủ tiêu chuẩn được tuyển hay không. Ông Zorthian trả lời rằng chẳng có vấn đề gì khó khăn cả. Tôi chỉ cần nộp đơn là xong.

Mọi việc được sắp xếp thật nhanh chóng. Chỉ trong một thời gian ngắn sau đó, tôi nhận được hai bức thư, một của Đại sứ Lodge mời sang Hoa Kỳ và một của British Council mời sang thăm Anh Quốc. Khi chương trình hoạch định xuất dương đã thành tựu, tôi mới thực sự nhận ra mình đã nôn nóng đến độ nào. Tôi chưa hề có dịp du lịch kể từ năm 1954, khi tôi bị buộc phải hủy bỏ chuyến trở lại Thụy Sĩ và kể từ năm đó cho đến nay cuộc sống của tôi lúc nào cũng đầy ắp những chuyện khó khăn và những thất vọng chính trị. Đây sẽ là chuyến du lịch lý thú. Hơn nữa, tôi còn có thể quan sát tận mắt đất nước và cuộc sống của Hoa Kỳ.

Nhìn từ một khía cạnh nào đó thì đây là một điều mong ước đang biến thành sự thực. Thực sự thì chẳng phải tôi mong được du lịch Hoa Kỳ, nhưng cuộc sống và lý tưởng của người dân Hoa Kỳ đã xâm chiếm tâm hồn tôi từ lâu rồi. Từ khi còn cắp sách đến trường tôi đã say mê đọc tiểu sử của Tổng Thống Franklin Delano Roosevelt và những chánh sách ông đề ra để bảo vệ các đồng minh của Hoa Kỳ trong Đệ Nhị Thế Chiến. Tổng thống John F. Kennedy cũng là một nhân vật khác đã khích lệ rất nhiều những điều tôi ấp ủ. Tôi đã theo dõi cuộc bầu cử khi ông ra ứng cử và rất ngưỡng mộ bài diễn văn ông đọc trong buổi lễ nhậm chức. Trong bài diễn văn đó, Tổng Thống Kennedy tuyên bố Hoa Kỳ sẽ là một quốc gia “mang bất cứ gánh nặng nào, trả bất cứ giá nào để bảo vệ tự do dân chủ …” câu nói đó tôi vẫn còn nhớ mãi. Tôi cho rằng bài diễn văn nhậm chức của tổng thống Kennedy là một bài diễn văn đã diễn tả trọn vẹn được cả vai trò quả cảm lẫn lý tưởng của Hoa Kỳ. Có lẽ bài diễn văn của tổng thống Kennedy đã khích lệ những hoài bão của tất cả các phần tử quốc gia ở những nước hãy còn kém phát triển và đầy đe dọa vào thời đó.

Bởi thế, tuy ấn tượng tốt đẹp của tôi về Hoa Kỳ trong quá khứ đã bắt đầu bị lu mờ khi tôi mục kích những thực tế chính trị tại Việt Nam, tôi vẫn bị những lý tưởng của Hoa Kỳ thu hút. Tôi hồi hộp mong mỏi cho đến nỗi khi máy bay bay qua California, về hướng Cựu Kim Sơn, tôi đã cảm thấy thất vọng. Khi nhìn xuống thấy những ngọn đồi, những cánh đồng và những thảm cỏ, tôi đã nhủ thầm: “Ừ, dường như cũng chẳng có gì khác, quang cảnh nói chung cũng không lấy gì làm ly kỳ cho lắm.”

Tại Cựu Kim Sơn, tôi lập tức thay đổi máy bay và bay thẳng về Hoa Thịnh Đốn. Tôi xin được đi thăm Nghĩa Trang Quốc Gia tại Arlington trước tiên. Khi đứng trước mộ cố tổng thống Kennedy trong cái nóng mùa hè vùng Hoa Thịnh Đốn tôi cho rằng ông chính là người đã thể hiện những lý tưởng sáng suốt và những khuôn mẫu đạo đức của Hoa Kỳ. Ngay khi đó, tôi cũng suy nghĩ về một khuôn mặt khác của Hoa Kỳ, một khuôn mặt mà tôi mục kích đã quá nhiều lần tại quê nhà.

Trong những tuần lễ sau đó tôi ở lại thủ đô, thăm viếng các nhà báo và bạn bè tôi đã quen biết tại Việt Nam, rồi mướn xe cùng với một người bạn Việt Nam khác chu du băng ngang nước Mỹ. Tôi được mời đến dự đại hội của đảng Cộng Hòa tại Cow Palace ở Cựu Kim Sơn. Đây quả là một cơ hội lưỡng toàn. Tôi sẽ có cơ hội vừa được xem xét, gần gũi toàn thể nhân dân lại vừa được chính mắt quan sát những hoạt động chính trị của Hoa Kỳ.

Chúng tôi cùng lái chiếc Chevrolet mướn đi ngược lên phía Bắc Hoa Thịnh Đốn, đến thác Niagara rồi quay ngang trở về hướng Tây, trực chỉ Detroit, băng ngang những vùng đồng bằng bát ngát. Những tia nắng ngày hè lấp loáng trên những cánh đồng tạo thành những ảo ảnh trông chẳng khác nào nước trên những mặt đường trải nhựa. Hai bên là cảnh những ruộng ngô và lúa mạch trải dài tít tắp đến tận chân trời. Khung cảnh thật là bao la. Thời tiết vào thời gian này vô cùng nóng nực. Chúng tôi đã đi suốt cả 12, 13 ngày đường, chỉ ngừng lại để ngắm cảnh và trú ngụ qua đêm ở những khách sạn nhỏ bé.

Nhưng vấn đề thực phẩm còn quan trọng hơn là vấn đề thời tiết. Vì ăn liên tục toàn Hamburger và Hotdog ở các quầy dọc đường, bụng cả hai chúng tôi đều cồn cào, quặn thắt. Chúng tôi tự hỏi không hiểu làm cách nào để có thể tìm lấy một bát cơm trong suốt một vùng bao la, gần như chỉ gồm toàn những khuôn mặt Mỹ và thực phẩm Mỹ này. Chẳng bao lâu sau, chúng tôi tìm ra một cách hữu hiệu có thể dùng trong mọi trường hợp. Không cần biết là đang ở đâu, hễ cứ bắt đầu nghỉ tối là chúng tôi đến ngay chỗ điện thoại công cộng, lật những trang màu vàng trong quyển điện thoại niên giám ra tìm các quán ăn Tàu. Đôi khi chỉ có một quán độc nhất ở vùng kế cận. Nhưng gần như lúc nào chúng tôi cũng tìm được một chỗ trong vùng.

Tuy đã theo phương pháp thập toàn này mà khi đến phía Tây Denver chúng tôi vẫn gặp khó khăn. Vùng này vốn là một vùng xa xôi hẻo lánh. Quyển điện thoại niên giám đã không có tên các quán ăn Tàu mà cũng chẳng có bất kỳ tên họ người Tàu nào trú ngụ trong các vùng lân cận. Chẳng có họ Tchang, không có họ Fong mà cũng không có cả họ Lee. Một lần, sau khi đã nhiều ngày vất vả với Hamburger, bột khoai tây và nước sốt, sau khi đã thất vọng vì quyển điện thoại niên giám và đang lủi thủi đi bộ về khách sạn bỗng chúng tôi trông thấy một chú bé Tàu chạy ngang qua đường. Chúng tôi vội đi theo cậu bé vào đến một tiệm giặt ủi. Khi nghe tình cảnh của chúng tôi, cha mẹ cậu bé lập tức làm ngay hai dĩa cơm chiên và chúng tôi sung sướng thưởng thức hương vị thơm ngon của bữa cơm chiên chẳng khác nào hai kẻ lỡ đường bỗng vớ được một thứ thức ăn hiếm có. Chúng tôi đến California trước tiên qua ngả Bakersfield rồi đi ngược bờ biển qua Carmel, Big Sur và đến Cựu Kim Sơn vừa đúng lúc Đại Hội Đảng Cộng Hòa bắt đầu. Đây chính là nơi tôi học hỏi những kinh nghiệm đầu tiên về các hoạt động thực tiễn của nền dân chủ Hoa Kỳ. Nếu bảo rằng quá trình bầu cử của Hoa Kỳ rất phức tạp thì đây chỉ là nói một cách nhẹ nhàng nhất. Ngay chính tôi cũng không biết rõ mình đang mong đợi gì khi nhìn những đảng viên Cộng Hòa đi quanh đang đề cử ứng cử viên Barry Goldwater ra ứng cử tổng thống. Theo như tôi suy nghĩ thì đây chắc hẳn phải là một buổi bầu cử thật nghiêm trọng. Nhưng sự việc lại hoàn toàn khác hẳn. Tôi vô cùng bỡ ngỡ giữa cảnh những đám đông mang mũ, cầm cờ, tụ họp ở các sảnh đường Hoa Kỳ, cứ chốc chốc lại cuồng nhiệt cổ võ những thiếu nữ nhảy múa thoắt biến, thoắt hiện chẳng hiểu từ đâu. Khi tôi nói với người hướng dẫn viên rằng dường như khung cảnh có vẻ thiếu nghiêm trang ông đã trả lời rằng khung cảnh lúc này chẳng qua chỉ là những màn kịch bao gồm những phần bên ngoài có thể trông thấy được mà thôi. Những quyết định thực thụ vào thời gian này đang diễn ra sau những cánh cửa đóng kín và những việc đó tất nhiên là tôi chẳng thể nào xem được. Tôi rời cuộc họp thầm nhủ rằng cho dù những đảng viên Cộng Hòa có thực sự chọn ứng cử viên của họ bằng cách nào đi nữa thì những điều tôi vừa được mục kích thấy vẫn là những hoạt động chính trị rất lạ lùng.

Khi tôi trở lại Hoa Thịnh Đốn thì trời đã vào tháng 8. Đài truyền hình và báo chí đang rầm rộ về việc Bắc Việt tấn công hai chiến hạm Mađox và Turner Joy tại vịnh Bắc Việt. Lúc này quốc hội đang vội vã soạn thảo một nghị quyết gọi là Nghị Quyết Vịnh Bắc Việt (Tonkin Resolution) và đang gia tăng quyền hạn chiến tranh Đông Dương cho Tổng Thống Lyndon Johnson. Tôi đã lắng nghe bài diễn thuyết của Tổng Thống Johnson khi ông diễn tả những biến cố và trình bày vấn đề cần thiết phải trả đủa. Tại Cựu Kim Sơn tôi cũng đã lắng nghe ứng cử viên Barry Goldwater tuyên bố lập trường của ông đối với Cộng Sản. Ngay sau khi nghe xong bài diễn thuyết, tôi đã gửi một mục tường thuật về tòa soạn tờ Saigon Post và tự phong cho mình chức phóng viên đặc biệt. Tôi viết rằng: “Dường như toàn thể Hoa Kỳ, kể cả những đảng viên Dân Chủ lẫn những đảng viên Cộng Hòa đều chấp thuận một chính sách chống cộng sản ở Việt Nam.”

Vào cuối tháng 8, tôi rời Hoa Kỳ sang Anh Quốc lòng tin tưởng mãnh liệt vào nghị quyết Vịnh Bắc Việt. (Nghị quyết Vịnh Bắc Việt thông qua Hạ Viện với trọn vẹn số phiếu và thông qua Thượng Viện chỉ với vẻn vẹn 2 phiếu bất đồng ý kiến.) Rõ ràng là chánh quyền Johnson đã quyết tâm đi sâu vào cuộc. Hơn nữa, về riêng vấn đề này họ còn được đảng cộng hòa ủng hộ.

Khi tôi đến Luân Đôn thì British Council đã sắp đặt sẵn một chương trình viếng thăm đầy đủ cho tôi. Tuy vậy, chỉ sau một hai ngày đầu tôi đã cảm thấy rằng những thời khắc du lịch sắp sẵn trong thời khóa biểu có phần quá khắt khe. Cảm giác này lại còn có phần mạnh mẽ hơn nhất là khi tôi vừa mới được phép chu du tự do ở Hoa Kỳ. Kết cục, người hướng dẫn phải nới rộng thời gian trong chương trình đã sắp để tôi được dịp viếng thăm Anh Quốc như một du khách thực thụ.

Nhưng chẳng bao lâu sau, khi tôi mới ở Luân Đôn vừa được 4 ngày, thì đã có một bức điện tín khẩn của tờ Saigon Post báo rằng tôi nên về Sài Gòn gấp. Tờ báo đã đăng một loạt bài bình luận chỉ trích chính phủ Nguyễn Khánh. Những người viết không hề nhẹ tay và tướng Nguyễn Khánh đang sửa soạn đóng cửa tòa báo.

Lúc trở lại Việt Nam tôi thấy mình đang nằm trong thế phải đấu tranh toàn lực để giữ tờ Post khỏi bị đóng cửa. Ông Khánh không chút ủng hộ những bài bình luận. Hơn nữa, việc ông biết rõ tôi suy nghĩ về ông ra sao lại còn khiến mọi việc thêm phần phức tạp. Tuy tôi đã cố gắng hết mình mà tờ báo vẫn phải tạm thời đình bản. May thay lúc này ông Khánh đang tối tăm mặt mũi vì phải đối phó với những khủng hoảng khác trong chánh quyền. Nếu không thì có lẽ tòa soạn tờ Post đã phải đóng cửa vĩnh viễn.

Tuy chính tờ Post đang gặp khó khăn dữ dội, nhưng những khó khăn của tờ Post vẫn chỉ là những cơn gió so với những cơn lốc xoáy đang xoay chuyển làm hỗn loạn Sài Gòn. Suốt từ tháng 9 cho đến tháng 11 chánh phủ tướng Khánh theo nhau thay đổi vùn vụt trong khi biểu tình làm xáo trộn đường phố Sài Gòn mỗi ngày. Biểu tình của gần như tất cả mọi tổ chức thay nhau bùng ra khắp nơi. Công giáo, Phật giáo, Học sinh, Hòa Hảo, Cao Đài, các Hội Lao Động. -Ông Khánh đã gây mối bất hòa với mọi đoàn thể và tất cả đang phẫn nộ đòi ông phải thỏa thuận theo những điều họ yêu cầu. Tình cảnh hỗn loạn lúc này còn dữ dội hơn cả tình hình những tháng cuối lúc ông Diệm còn tại chức. Tình cảnh xáo trộn của Sài Gòn đã khiến ông Khánh phải khốn đốn, lúc thì ông phải trốn tránh đương đầu với nhóm này, khi thì ông phải cố giữ vững lập trường với nhóm nọ. Ông Khánh vừa phải ngăn ngừa, đề phòng Hoa Kỳ, lại vừa phải cố gắng chống chỏi với những mưu mô đảo chánh đang làm rung chuyển chánh quyền.

Toàn thể Miền Nam hầu như đắm chìm trong khủng hoảng -Khủng hoảng dân sự, hỗn loạn chính trị và nguy hiểm hơn cả là hỗn loạn quân sự. Trong thời gian này các lực lượng cộng sản đã lợi dụng nhược điểm của Sài Gòn để tung ra những cuộc tấn công ăn khớp nhằm mục đích làm chủ lãnh thổ, cũng như làm chủ các trung tâm dân cư và chia rẽ đất nước. Vào năm 1964, vốn đã gặt hái được một số kết quả, du kích cộng sản ở Miền Nam lại được tăng cường thêm bằng quân đội chính qui Bắc Việt đổ xuống theo những đường mòn Hồ Chí Minh đã được sửa sang kể từ năm 1959.

Tại nhiều vùng, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đang anh dũng chiến đấu nhưng những hỗn loạn chính trị và những rối ren ở cấp chỉ huy đã biến những chiến sĩ thành những người chiến đấu trong những tình cảnh bấp bênh khó khăn. Lúc này nếu quân đội du kích Bắc Việt biết lợi dụng khó khăn thì có lẽ cộng sản có thể làm đảo loạn quân bằng của quân đội Miền Nam.

Những mâu thuẫn xung khắc của tình cảnh trái ngược đã khiến tôi phải bàng hoàng. Khi Hoa Thịnh Đốn vừa chuẩn bị sẵn sàng nhập cuộc thì Sài Gòn lại hoàn toàn hỗn loạn. Ngay khi tổng thống Lyndon Johnson vừa quyết định đứng ra vận động để ủng hộ Việt Nam thì ông Nguyễn Khánh lại đưa chánh phủ Việt Nam vào vòng đình trệ và hỗn loạn.

Những mâu thuẫn lúc này đã hẳn chẳng phải hoàn toàn do sự tình cờ. Nếu Việt Nam không đủ khả năng điều động chiến cuộc thì dĩ nhiên Hoa Kỳ bị buộc phải hứng lấy gánh nặng. Nhưng nếu nhìn kỹ nguyên nhân của những biến chuyển tai hại đã làm xáo trộn Việt Nam, tôi qui trách nhiệm một phần về phía Hoa Kỳ. Nếu nhìn từ một phương diện nào đó thì cũng có thể nói rằng chính Hoa Kỳ đã gây ra mọi chuyện. Kể từ khi họ bắt đầu can thiệp, Hoa Kỳ đã không hoàn toàn ủng hộ những lý tưởng dân chủ. Họ chưa bao giờ đặt nặng vấn đề cần phải xây dựng một chánh phủ đoàn kết các thành phần quốc gia ở Việt Nam. Họ cũng chẳng ủng hộ những mục tiêu của một chánh thể dân chủ trên những phương diện khác chẳng hạn như cải cách xã hội, kinh tế. Trái lại, dường như họ chỉ vui lòng ủng hộ những nhân vật độc tài và các tướng lãnh để đổi lấy những ổn định giả tạo nhất thời. Hậu quả là thay vì đưa ra chính sách để giúp Việt Nam đạt được những quân bằng như họ mong muốn, Hoa Kỳ lại vô tình đưa ra những chính sách khiến chánh phủ Việt Nam ngày càng chia rẽ và yếu đuối thêm.

Quá trình dẫn đến sự thất bại của chánh phủ Việt Nam kéo dài suốt một thập niên -Ông Diệm đắc cử vào năm 1954. Lúc này là mùa thu 1964- nhưng tình hình Việt Nam lại vẫn ở vào một trong những giai đoạn tồi tệ nhất. Khung cảnh rối ren và hỗn loạn tại Việt Nam đã khiến Hoa Kỳ thất vọng. Rồi thì những nhân viên lãnh đạo Hoa Kỳ bắt đầu đặt câu hỏi: Liệu có nên can thiệp hay không? Một trong những nguyên nhân chính khiến Hoa Kỳ phải đặt lại câu hỏi về vấn đề can thiệp là do Bắc Việt đã tăng cường áp lực quân sự, nhưng một lý do khác sâu xa hơn chính là do chánh phủ Sài Gòn lúc này đã hoàn toàn rối ren. Mâu thuẫn thay, tình trạng hỗn loạn của Việt Nam phát sinh lại chính là do các chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ (hoặc do sự thiếu thốn các chánh sách ngoại giao của Hoa Kỳ.) Trong suốt một thập niên Hoa Kỳ chỉ ủng hộ những nhân vật độc tài và quân phiệt. Họ đã vui lòng ủng hộ bất kỳ nhân vật nào tình cờ nắm được chánh quyền để đổi lại những quân bằng nhất thời tại Việt Nam. Giờ đây chính họ phải gánh chịu những hậu quả của việc đánh đổi đó. Vào mùa thu năm 1964 sau những cơn bão làm xáo trộn nội bộ Việt Nam, nếu quả có một chiều hướng nào đó rõ rệt thì chiều hướng đó chính là sự xuất hiện của một nhóm tướng tá trẻ gọi là Tướng Trẻ. Trong nhóm Tướng Trẻ, nổi bật nhất là ông Nguyễn Cao Kỳ, một tư lệnh không quân mới 35 tuổi. Nhưng tướng Nguyễn Văn Thiệu cũng là một nhân vật nổi bật khác được cho là trầm tĩnh và già dặn hơn. Vì là người gần gũi với chính trị nên cũng như các bạn khác tôi cũng có nghe về nhóm các tướng trẻ. Tuy vậy, tôi không hề quen biết thân thiết với riêng bất kỳ người nào trong nhóm các Tướng Trẻ cả. Nhóm Tướng Trẻ nguyên là một lực lượng mới xuất hiện. Tuy thế, vào lúc này những thế hệ tướng tá đàn anh như tướng Kim, tướng Trần Văn Đôn, tướng Dương Văn Minh và những người khác đã lui dần vào phía sau, và tôi nghe rằng những tướng trẻ đang làm áp lực bắt ông Khánh loại trừ tất cả những tướng lãnh già để đưa vào những lớp lãnh đạo có tính cách đại diện cho thế hệ mới của họ.

Tuy những Tướng Trẻ không trực tiếp đương đầu với tướng Khánh, nhưng sự hiện diện của họ vẫn là một trong những yếu tố chính tạo nên khó khăn cho chánh quyền tướng Khánh. Vào tháng 12, các tướng trẻ đã gây ra một biến cố trực tiếp làm tiêu tan sự nghiệp chính trị của tướng Khánh. Biến cố bắt nguồn từ vấn đề mất uy tín đã từ lâu qua các hành động tùy hứng, không thể nào tiên liệu trước được của tướng Khánh đối với Hoa Kỳ. Lúc này đại sứ của Hoa Kỳ tại Việt Nam là tướng Maxwell Taylor. Ông là đại sứ đến để thay thế đại sứ Henry Cabot Lodge. Đại sứ Taylor nguyên là người lúc nào cũng quan tâm rất nhiều đến vấn đề cần phải thúc đẩy tướng Khánh thiết lập một chính phủ dân sự. Khi đã thúc đẩy trong một thời gian rất lâu mà vẫn chẳng có tiến triển nào đáng kể, đại sứ Taylor ngày càng nóng nảy và đòi hỏi liên tục. Cuối cùng, vào tháng 9, ông đã nói thẳng với tướng Khánh rằng Việt Nam cần phải soạn thảo một bản hiến pháp để làm căn bản pháp lý cho việc điều hành chính phủ. Cảm thấy cùng đường, ông Khánh đưa ra một hội đồng mà ông gọi là Thượng Hội Đồng gồm một nhóm nhỏ bao gồm những chánh khách già nua được triệu tập để soạn thảo một bản hiến pháp. Một đảng viên quốc gia trọng tuổi đã tham gia hoạt động trong nhóm Caravelle lúc trước là ông Phan Khắc Sửu được cử làm quốc trưởng.

Chẳng bao lâu sau, khi hội đồng đã được thiết lập, nhóm tướng tá trẻ bắt đầu làm áp lực với tướng Khánh. Họ bắt ông chánh thức ra lệnh buộc các tướng lãnh lớn tuổi hơn đang làm họ khó chịu phải về hưu. Tuy tướng Khánh đồng ý, theo thủ tục thì mệnh lệnh phải được ông Phan Khắc Sửu, nguyên là quốc trưởng lúc này phê chuẩn. Khốn thay, ông Sửu lại khước từ, không chịu phê chuẩn.

Vì sợ rằng ông Khánh chưa hoàn toàn làm chủ được tình hình khó khăn, đại sứ Maxwell Taylor đã mời các tướng trẻ đến dùng bữa tối ở tư thất của tướng Westmoreland, tư lệnh điều hành toàn thể lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam. Trong buổi họp đó, đại sứ Taylor cố trình bày với các tướng trẻ rằng Hoa Kỳ sẽ tìm cách thuyết phục chánh phủ Việt Nam thỏa mãn những điều yêu cầu của các tướng trẻ, nhưng dù sao đi nữa thì Việt Nam vẫn cần phải duy trì được một mức độ ổn định tối thiểu nào đó. Trước sự hiện diện của cả tướng Westmoreland và Phó Đại Sứ Alexis Johnson, đại sứ Taylor đã ngấm ngầm đe dọa các tướng trẻ rằng nếu chính phủ Việt Nam không hoàn toàn ổn định thì Hoa Kỳ khó có thể tiếp tục ủng hộ Việt Nam.

Nhưng những lời can gián trước của đại sứ Taylor hoàn toàn vô hiệu. Hành động ngoan cố của ông Sửu đã khiến những tướng trẻ quyết định thực thi một giải pháp quyết liệt. Vào ngày 20 tháng 12, họ bắt cóc các nhân viên của Thượng Hội Đồng và áp giải họ cùng một số chính khách dân sự khác về giam lỏng ở Pleiku.

Được tin đại sứ Taylor vô cùng phẫn nộ. Ông triệu tập ông Kỳ, ông Thiệu và các tướng trẻ khác đến tòa đại sứ để than phiền về việc làm loạn. Ông mở đầu buổi họp bằng cách hỏi các tướng tá có hiểu tiếng Anh hay không? (Trước đây, ở tư thất tướng Westmoreland ông đã nói chuyện với họ bằng tiếng Pháp.) Khi ông Kỳ chua chát trả lời rằng tiếng Anh của họ cũng đủ để hiểu, ông Taylor nói tiếp rằng buổi ăn tối tại nhà tướng Westmoreland khi trước thực là lãng phí. (Sau đó ông Kỳ có nói lại với tôi rằng khi ông Taylor phát biểu như vậy, ông và ông Thiệu đã tưởng rằng ông Taylor có ý nói rằng họ đã lãng phí thực phẩm trong bữa ăn tối đó.) Đại sứ Taylor than thở: Hành động của các ông thật đã quá tầm mức chịu đựng! Các ông hãy tự xem các ông đã gây ra những hỗn loạn trong chánh phủ nặng đến độ nào? Trong cơn giận dữ và thất vọng đại sứ Taylor đã nhiều lần lớn tiếng.

Chẳng biết đại sứ Taylor đã hy vọng gặt hái được gì sau khi than phiền, nhưng một hậu quả tức thời là hành động của ông đã làm nhục ông Kỳ, ông Thiệu và các tướng lãnh khác cùng hiện diện nơi đó. Tướng Nguyễn Khánh lúc này đang ngập đầu với những khó khăn vì phải đối phó với các nhóm quân nhân khác đã chụp ngay lấy cơ hội. Tướng Khánh lợi dụng ngay cách đối xử của đại sứ Taylor với các tướng trẻ để hô hào cảm tình của các phần tử quốc gia. Ông Khánh ra mặt bảo vệ các tướng trẻ. Ông công khai chống đối việc Hoa Kỳ đã can thiệp vào nội bộ của Việt Nam. Ông đã đi xa đến mức độ lên tiếng đòi hỏi Hoa Kỳ phải triệu hồi đại sứ Taylor vì đại sứ Taylor đã xen vào nội bộ của Việt Nam.

Khi nghe tin, đại sứ Taylor, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và Tòa Bạch Ốc đều vẫn giữ lập trường cũ. Những điều ông Khánh phát biểu công khai đã vượt sức tưởng tượng của họ. Tuy việc ông Khánh thiếu khả năng điều hành các chính sách Việt Nam để giữ vững mối bang giao giữa hai nước đã là một việc bất lợi, việc ông tuyên bố lần này quả là việc họ chưa hề nghĩ tới. Hoa Kỳ thông báo với ông Khánh rằng nếu đại sứ Taylor nhất định phải bị triệu hồi thì sự ủng hộ của họ cũng lập tức chấm dứt. Bằng vào thực tế chính trị thì việc này có nghĩa là chánh quyền Nguyễn Khánh phải sụp đổ lập tức. Trong khi tấn bi hài kịch Nguyễn Khánh tiếp diễn thì một cuộc chiến tranh khủng khiếp đang lan dần ra khắp cả Việt Nam và các lực lượng Cộng Sản càng ngày càng trở nên một mối đe dọa trầm trọng.

Cho tới giữa tháng 2 năm 1965 mà tướng Khánh vẫn chưa hề bị đẩy khỏi cương vị quyền hành. Sau khi những cố gắng vận động cảm tình của các tướng trẻ đã thất bại hoàn toàn, ông Khánh lại mưu toan cố gắng củng cố quyền hành thêm một lần cuối. Vào ngày 14 tháng 2, ông giải tán chánh phủ đương thời và nhờ bác sĩ Quát thành lập một chánh phủ mới mà trong đó ông sẽ là người nắm giữ quyền hành quân đội. Đây là nước cờ cuối cùng của ông Khánh. Nếu ông Quát có thể thành lập được một chánh phủ uy tín thì có thể chính phủ này sẽ giúp ông Khánh thoát khỏi những chống đối của Hoa Kỳ, của Phật giáo, Công giáo và những người Việt Nam khác đang hô hào đả đảo ông ta.

Nhưng vào lúc này, những hành động của ông Khánh đã quá trễ. Một ngày sau khi bác sĩ Quát nhậm chức thủ tướng thì một cuộc đảo chánh quân sự chống lại tướng Khánh được phát động. Những đơn vị do tướng Lâm Văn Phát và đại tá Phạm Ngọc Thảo đã bao vây cả tư thất ông Khánh, những cơ quan tổng hành doanh, lẫn đài phát thanh. Trong lúc hỗn loạn ông Khánh chạy thoát đến được tổng hành doanh không quân của ông Nguyễn Cao Kỳ và được ông Kỳ nhận lời bảo vệ.

Dưới sự hòa giải của Hoa Kỳ, ông Kỳ và những lãnh tụ nổi loạn cùng đến gặp gỡ trong một cuộc họp mặt. Sau cuộc họp mặt, tướng Phát và đại tá Thảo đã đồng ý hủy bỏ cuộc đảo chánh để đổi lại việc trục xuất tướng Khánh ra nước ngoài. Những điều kiện mà Hoa Kỳ đề nghị dĩ nhiên đối với ông Kỳ rất hấp dẫn vì những tướng trẻ phục vụ dưới quyền ông lúc này đang là nhóm quân nhân mạnh mẽ nhất trong chánh quyền mới của ông Quát. Về phía Hoa Kỳ thì việc trục xuất ông Khánh đã khiến tất cả hoàn toàn nhẹ nhõm. Lúc này, đại sứ Taylor và nhiều người khác, Việt cũng như Mỹ, đều không chịu nổi sự hiện diện của tướng Khánh.

Ngay buổi sáng hôm đảo chánh -đây cũng là ngày đầu tiên mà bác sĩ Quát làm thủ tướng- ông Quát đã mời tôi gặp ông ở văn phòng và cả hai chúng tôi đều đã bỏ ra rất nhiều thời giờ bàn bạc kế hoạch. Trưa đó, ông Quát được mời về tổng hành doanh không quân để gia nhập buổi họp đang diễn ra bên trong. Khi ông trở lại, vào lúc khoảng 8 giờ tối, thì tin tức về việc ông Khánh được cử đi ngoại quốc được loan ra.

Ngày hôm sau, tướng Khánh đến Phủ Thủ Tướng để chánh thức từ giã Ông Quát. -Ông Khánh đòi hỏi một nghi lễ tiễn biệt. Bác sĩ Quát đã tổ chức nghi lễ nhưng lại từ chối không chịu đi cùng tướng Khánh xuống phía trước văn phòng thủ tướng để duyệt hàng lính bồng súng chào. Tôi được lệnh đảm đương việc này thay ông. Sau khi xem xét, tôi dẫn ông Khánh lên lầu chào sơ bác sĩ Quát rồi trở xuống xem xét binh lính lần cuối. Lúc nghi lễ hoàn tất, ông Khánh đã nhìn tôi nói: “Maintenant les carted c’est a vous de jouer” – “Hiện thời thì cả cỗ bài đều hoàn toàn tùy ông sắp xếp.” Cho đến giây phút chót, ông Khánh vẫn xem chuyện điều hành chính phủ như một trò chơi. Tôi chỉ trút bớt được phần nào cơn giận ngùn ngụt lúc ông Khánh đã xoay người đi khuất. Tuy việc ông Khánh ra đi đã khiến tất cả nhẹ nhõm, vẫn chưa ai dám quả quyết rằng những khó khăn do ông Khánh gây ra có thể được giải quyết trong một thời gian ngắn ngủi. 

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"