Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

18 – Bác Sĩ Quát và Các Tướng Lãnh 


Chương 18
Bác Sĩ Quát và Các Tướng Lãnh

Vào mùa xuân 1965 tuy những biến chuyển chính trị đã chuyển chiến cuộc Việt Nam nguyên là một cuộc nội chiến, thành một mâu thuẫn có tính cách quốc tế, đây vẫn không phải là biến cố độc nhất chiếm lĩnh tất cả những chú ý của bác sĩ Quát. Khi bác sĩ Quát bắt đầu nhậm chức thì ảnh hưởng của các tướng lãnh và các hội đồng quân sự hãy còn rất mạnh do đó ông đã chủ trương rằng phải nỗ lực cầm cự vào lúc ban đầu. Ông đã cố ổn định tình hình quân sự, cố đương đầu với những vấn đề chia rẽ đảng phái ở Sài Gòn, cố bắt đầu những cuộc ứng cử địa phương và soạn thảo hiến pháp. Tuy bác sĩ Quát đã cố chuyển những nỗ lực đầu tiên về những điều cơ bản trên, tình hình phức tạp và hỗn loạn của chánh phủ dân-quân sự lúc đó đã rối ren đến mức mọi chuyện gần như xảy ra cùng một lúc. Tầm mức lớn lao của diễn biến đã vượt khỏi cả phạm vi chiến cuộc lẫn phạm vi của những hoạt động mà Hoa Kỳ đã tính toán lúc đó.

Những biến chuyển lúc này dập dồn chẳng khác nào như tất cả mọi chuyện đều xảy ra cùng một lúc. Bác sĩ Quát nhậm chức đã được bốn tháng mà tôi vẫn có cảm tưởng như ông vừa mới nhậm chức chỉ có vài ngày trước. Có lẽ ông Henry Kissinger đã diễn tả đúng hệt tâm trạng chúng tôi khi nói rằng chính trị gia là những người luôn luôn bị buộc phải lựa chọn vào những lúc họ không những chỉ mù tịt về tương lai mà còn mù tịt cả về tình trạng hiện tại nữa.” Vào thời gian này, gần như tôi chưa bao giờ có dịp để nhận định cho rõ được những phương hướng tổng quát để làm việc cho hữu hiệu. Gần như tôi chẳng bao giờ có đủ thời giờ, dù chỉ là những khoảng thời giờ thật ngắn cho phép tôi suy nghĩ thấu đáo về căn nguyên của những vấn đề khó khăn.

Tuy tình cảnh rối ren, bận rộn và khó nhọc là thế mà bác sĩ Quát vẫn quyết tâm giữ vững những chủ định ban đầu. Ông Quát nhận định rằng vấn đề khó khăn chính của chính phủ trong thời gian này là vấn đề của các tướng lãnh trẻ. Nếu ông có thể thuyết phục các tướng trẻ chú tâm vào tình hình chiến cuộc thay vì chính trị thì ông cho rằng đã tiến được nửa bước. Và nếu ông có thể hô hào khiến họ làm hậu thuẫn thì đây quả là một bước vẹn toàn. Tuy thế, vấn đề đối phó với các tướng trẻ chẳng phải là nỗi lo âu duy nhất của bác sĩ Quát. Ngoài vấn đề này ra ông còn phải tìm cách xoa dịu những lực lượng chánh trị đang hăm he gạt phắt chính phủ của ông ra ngoài.

Khi đương đầu với các tướng lãnh, bác sĩ Quát đã có rất nhiều lợi điểm. Lợi điểm đầu tiên của bác sĩ Quát là uy tín của chính ông. Vì đã từng là Bộ Trưởng Quốc Phòng, ông đã giữ được mối giao hảo với nhiều sĩ quan chủ chốt và rất quen thuộc với những vấn đề quân sự khó khăn. Những kinh nghiệm đặc biệt về quân sự của bác sĩ Quát đã khiến các tướng lãnh coi ông khác hẳn các thành viên dân sự khác. Họ xem ông là một người đáng tin cậy và họ sẵn lòng cộng tác. Lợi điểm thứ hai của bác sĩ Quát là kể từ tháng 2 năm 1965, đại sứ Taylor và ông Alexis Johnson đã nói thẳng với các tướng lãnh rằng các tướng lãnh chẳng thể vừa phục vụ quân đội, vừa hoạt động chính trị được. Họ chỉ có thể chọn một trong hai, nếu họ muốn làm chính khách thì cũng chẳng có gì khó khăn, chỉ cần họ cởi bỏ quân phục và gia nhập hàng ngũ của những chính khách là xong. Lợi điểm thứ ba và có lẽ cũng là lợi điểm quan trọng nhất của bác sĩ Quát là việc các tướng lãnh vẫn chống đối lẫn nhau. Bất kỳ họ suy nghĩ về một chánh phủ dân sự ra sao, các tướng lãnh cũng nhất định không để những nhóm quân sự khác nắm được thực quyền. Vì muốn tránh vấn đề phải để một nhóm quân sự khác nắm quyền, họ đã đồng ý để bác sĩ Quát đứng ra điều hành mọi chuyện.

Với ba lợi điểm vừa kể, vào đầu tháng 5 bác sĩ Quát cùng tôi đã hội họp với những sĩ quan cao cấp để thuyết phục họ giải tán Hội Đồng Quân Lực. Hội Đồng Quân Lực nguyên là một tổ chức mà những quân nhân đã dùng làm khí cụ nhằm gây áp lực từ khi tướng Nguyễn Khánh nắm quyền. Tuy giải tán Hội Đồng chưa hẳn đã là chấm dứt hoàn toàn những ảnh hưởng của quân sự vào chính trị nhưng việc này cũng có thể xem là một bước trong tiến trình đó.

Khi đương đầu với những khó khăn trong các đoàn thể dân sự thì bác sĩ Quát ít thành công hơn. Có thể vì ông đã giải tán được Hội Đồng Quân Lực và thành công phần nào khi giải quyết những khó khăn quân sự nên bác sĩ Quát đã trở nên lạc quan và do đó thiếu thận trọng. Tuy chẳng ai chỉ trích bác sĩ Quát khi ông đặt trọng tâm vào vấn đề quân sự, nhưng lúc đó có vài người cho rằng bác sĩ Quát có ý xem thường các đoàn thể dân sự đối lập có ảnh hưởng đáng kể. Họ cho rằng bác sĩ Quát cần phải để ý ông Phan Khắc Sửu nhiều hơn. Trước đây, ông Sửu chính là vị quốc trưởng già đã từ chối không chịu ký sắc lệnh chấm dứt nhiệm vụ một vài vị tướng và vì vậy đã góp phần thúc dục, đẩy mạnh cuộc bắt cóc các thành viên của Thượng Hội Đồng hồi tháng 11, 1964.

Vào tháng 5, ông Sửu già nua vẫn là quốc trưởng và vẫn khó tính giống hệt trước đây. Khoảng cuối tháng 5, ông Sửu lại bắt đầu khởi sự một cuộc khủng hoảng chánh phủ thứ hai. Lúc này nạn thiếu gạo đang bắt đầu hoành hành. Nạn khan hiếm gạo phát sinh là do Việt Cộng đã làm gián đoạn đường liên lạc giữa Sài Gòn và các tỉnh. Giá gạo tại thủ đô bỗng nhiên nhảy vọt và nhiều ngày sau, chánh phủ đã bị buộc phải can thiệp. Tuy thế, trong suốt một tuần và rồi hai tuần mà chánh phủ vẫn không đưa ra được giải pháp nào thiết thực. Vào lúc này những người có trách nhiệm trực tiếp là Tổng Trưởng Nội Vụ và Tổng Trưởng Kinh Tế vẫn chẳng hề quan tâm đến bổn phận của mình. Vào tuần lễ thứ ba, tình trạng thiếu khả năng của họ đã khiến bác sĩ Quát vô cùng phẫn nộ khi ông lại phải bắt tay vào việc. Bác sĩ Quát hành động dứt khoát bằng cách thay thế một lúc hai Bộ Trưởng. Đây là một sự chọn lựa có tính cách quyết định ảnh hưởng đến sự sống còn của chính phủ của ông.

Nhưng không may, trong những tháng trước đây, ông Quát lại chưa có dịp nào để xoa dịu các chính khách đối lập khác. Những chính khách đối lập với ông Quát đa số là những chính khách của các phe nhóm địa phương, một trong những người đối lập nguy hiểm nhất là những chính khách Miền Nam. Thường thì những chính khách người Nam vẫn cảm thấy rất khó chịu khi phải để những chính khách người Bắc nắm quyền và lúc nào họ cũng cố tìm cách đảo ngược tình hình. Việc bác sĩ Quát yêu cầu hai bộ trưởng từ chức đã đem lại cho họ một dịp may hiếm có và con người khó tính của ông Sửu đã khiến họ có được một khí cụ tuyệt vời. Theo nguyên tắc thì sắc lệnh chỉ có hiệu lực sau khi đã được ông Sửu ký. Nhưng lúc này, vì ông đang được những đoàn thể “Người Nam” cùng những đoàn thể công giáo ngấm ngầm khuyến khích nên ông Sửu lại không chịu ký. Chẳng bao lâu sau hành động của ông Sửu đã khiến chánh phủ ông Quát sa vào một cuộc khủng hoảng chính trị không có đường giải quyết.

Khi chánh quyền bị rơi vào tình thế tiến thối lưỡng nan, bác sĩ Quát đã cố xoay sở để giải quyết vấn đề, nhưng vì không có hiến pháp nên ông chẳng thể vận động cách nào khác hơn. Còn ông Sửu thì lại một mực khăng khăng nhất định không chịu ký. Trước đây ông đã chẳng để Nguyễn Khánh lay chuyển, lúc này ông Sửu cũng nhất định chẳng để ai lay chuyển. Đã thế, sau lưng ông Sửu, những chính khách Miền Nam còn mượn dịp để triệt hạ bác sĩ Quát bằng mọi giá. Ông Quát đã phải tìm đến Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ là một người Nam để nhờ giảng hòa. Tuy cụ Đỗ đã cố gắng thuyết phục nhưng vì cụ đã từng sống tại Miền Bắc khá lâu nên lại bị coi như người thân Bắc và những lời cụ đưa ra hoàn toàn bị bỏ ngoài tai.

Có lẽ khi cuộc khủng hoảng tiếp diễn và tình hình chuyển thành tấn thối lưỡng nan thì việc các tướng lãnh tự bước vào giải quyết vấn đề là việc khó thể tránh khỏi. Thật ra thì trong khi cố gắng xoay sở tháo gỡ tình hình, bác sĩ Quát cũng có nói chuyện với vài tướng tá nhưng ông vẫn không thuyết phục được họ ủng hộ. Các tướng tá đã lập luận rất rõ ràng: “Đấy, các ông xem, chúng tôi đã rời bỏ chính trường rồi. Vậy mà một khi chúng tôi đi khỏi thì các ông lại không thể điều hành được mọi chuyện.” Có thể bác sĩ Quát cũng có khả năng thuyết phục một vài tướng tá và vận động họ cùng về phe với ông nhưng sau lưng các tướng tá trẻ lại còn các tướng tá khác trẻ hơn. Họ là những cấp tá đầy tham vọng và những tư lệnh trẻ chưa hoàn toàn hài lòng với những chân trời nhỏ hẹp của mình. Đối với họ thì đây quả là lúc thời cơ hành động đã chín mùi. Những tướng tá trẻ hẳn nhiên là một đoàn thể mà các tướng lãnh khác khó thể bỏ qua.

Vào ngày 11 tháng 6, trong một buổi họp kéo dài tại Phủ Thủ Tướng, tình trạng tấn thối lưỡng nan chấm dứt. Độ khoảng 40, 50 các tướng lãnh, ông Sửu, bác sĩ Quát và các phụ tá đều hiện diện tại cuộc họp. Tất cả chen chúc trong một căn phòng nhỏ hẹp ở Phủ Thủ Tướng. Tuy bác sĩ Quát vẫn cố toan tính thay đổi hai vị Bộ Trưởng vào lúc cuối, các tướng tá đã đòi hỏi chánh phủ phải giải quyết tình trạng khó xử ngay tại phòng họp. Họ tuyên bố sẽ không khoanh tay nhìn chính phủ bế tắc. Biết rằng việc gì phải đến đã đến, giữa những lời phát biểu ý kiến sôi động, bác sĩ Quát tuyên bố sẽ từ chức và giải tán chánh phủ. Quyết định từ chức của bác sĩ Quát đã buộc ông Sửu cũng phải từ chức theo. Chính trường lúc này đã được dọn sạch để cho các tướng lãnh và các quân nhân bắt đầu nhập cuộc. Chẳng bao lâu họ đã thiết lập hai ủy ban quân sự: Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia do tướng Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch và quốc trưởng và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương do tướng Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch và Thủ Tướng. Đây quả là một màn kết thúc cay đắng cho cuộc thí nghiệm chính phủ dân sự ở Miền Nam Việt Nam. Ngay sau khi chánh phủ sụp đổ, ông Alexis Johnson đã than rằng ông thật “vô cùng thất vọng!” Vào lúc này Hoa Kỳ đã đặt rất nhiều hy vọng vào bác sĩ Quát. Họ bắt đầu tin rằng ông Quát là người có khả năng ổn định những khó khăn chính trị tại Việt Nam. Khi ông Quát thất bại, Hoa Kỳ đã thất vọng sâu xa. Nỗi thất vọng của họ dường như bao gồm thêm cả cảm giác khó chịu khi họ thấy mình hoàn toàn bất lực. Họ giống như những người phải đứng ngoài nhìn tận mắt những việc ngang tai trái ý mà chẳng thể làm gì khác hơn. Lúc này họ lại phải đương đầu với một tầng lớp lãnh đạo quân nhân mới. Trước đây, khi tiếp xúc với các tướng trẻ, đại sứ Taylor đã gặp nhiều khó khăn. Chính ông Taylor cũng chưa bao giờ nghĩ đến việc phải đương đầu với các tướng tá trẻ khi họ đứng vào cương vị lãnh đạo quốc gia. Trong hồi ký ông đã ghi lại một cách khô khan rằng: “[Hoa Kỳ] chẳng có lý do gì đáng để chào mừng việc [ông Kỳ] nhậm chức thủ tướng cả.”

Nhưng cho dù là tương lai đang chờ đón những nhóm người mới nhậm chức có là gì đi nữa thì lúc đó tôi cũng đã sắp sửa kiệt sức. Tôi đã trải qua suốt bốn tháng khủng hoảng và căng thẳng liên tục. Tuy lúc này, cả thể xác lẫn tâm thần đều kiệt quệ, tôi vẫn cảm thấy an ủi là đã trút được gánh nặng. Đã đến lúc tôi cần một thời gian nghỉ ngơi dài hạn và xa rời mọi chuyện.

Nhân dịp niên học của các con tôi sắp hết, tôi quyết định cùng toàn thể gia đình ra nghỉ tại bãi biển Nha Trang. Lúc nhìn những bờ cát Nha Trang trắng mịn, tôi thầm nghĩ có lẽ đây cũng là một dịp tốt để nghỉ ngơi cùng gia đình và tạm thời quên đi cả chiến tranh lẫn chính trị.

Khung cảnh Nha Trang lúc này thật tuyệt vời hơn tất cả. Buổi sáng chúng tôi thư thả băng qua con vịnh dẫn đến một hòn đảo ngoài khơi, nơi cư ngụ của những dân chài. Khi đến nơi, chúng tôi lang thang dọc theo bờ biển, thả bộ dưới những hàng dừa đong đưa, nhìn những người thợ chài đi lưới vào lúc rạng đông khi mặt trời nhẹ tỏa ra những tia sáng linh động, lấp loáng trên mặt biển. Lúc này tôi sống hoàn toàn tự do, chẳng khác nào một kẻ đang thung dung an hưởng những vẻ đẹp tao nhã của đất trời. Niềm phấn khởi dào dạt dâng cao đến mức tôi quên hết mọi sự và chỉ nghĩ đến việc tổ chức lại Ban Điều Hành của tờ Saigon Post. Tôi đã có ý tổ chức lại tờ báo từ hồi tháng 2, trước cả khi bác sĩ Quát ngỏ lời mời tôi vào làm việc với chánh phủ của ông.

Lúc này có lẽ tôi chẳng bao gìờ có thể ngờ là mình sẽ lại được mời cộng tác với chính quyền mới. Tuy thế chỉ một, hai ngày sau khi đang cùng gia đình nghỉ mát tại Nha Trang, tôi lại nhận được lời yêu cầu của chính quyền mới. Đây là lời yêu cầu của thủ tướng mới là tướng Nguyễn Cao Kỳ, yêu cầu tôi lập tức trở về thủ đô. Vì đã quá gần gũi bác sĩ Quát -gần gũi đến mức nhiều người đã cho rằng tôi với ông chẳng khác gì hình với bóng- nên việc ông Kỳ đứng ra mời tôi cùng về làm việc là chuyện tôi chẳng thể nào tin được. Thật sự thì tôi vô cùng ngờ vực. Trong quá khứ tôi đã từng gặp ông Kỳ và cũng có thảo luận đôi lần về các vấn đề quân sự nhưng mối liên hệ giữa tôi và ông Kỳ thật chẳng khác gì mối liên hệ giữa tôi và đồng nghiệp của ông là ông Nguyễn Văn Thiệu; một mối liên hệ tuy thân mật và đứng đắn nhưng vẫn chẳng thể gọi là gần gũi. Hơn nữa, theo những biến cố vừa xảy ra thì sự hiện diện của tôi đối với chánh phủ lúc này có thể coi như một bất lợi chính trị rõ rệt. Thứ nhất, tôi không phải là người trong nhóm quân nhân. Thứ hai, tôi đã phục vụ trong một chính quyền dân sự vừa mới sụp đổ. Theo lẽ, thì tôi nên được “cho phép” chìm vào quên lãng trong cuộc sống của một cá nhân với đời sống an bình.

Vì vậy, khi trở về Sài Gòn tôi đã sững sờ khi nghe ông Kỳ ngỏ lời mời tôi cộng tác. Ông đề nghị tôi làm Phụ Tá Đặc Biệt đặc trách các vấn đề kế hoạch có liên quan đến ngoại viện. Ông Kỳ đã “nói chuyện” với bác sĩ Quát và theo lời ông thì chắc chắn bác sĩ Quát cũng sẽ liên lạc với tôi về việc này. Ông Kỳ bàn luận về tình hình chính trị đang căng thẳng và nhấn mạnh vấn đề cần tiếp tục giữ vững mối giao hảo với Hoa Kỳ. Đây vốn là việc mà tôi vẫn làm trước đây. Ông Kỳ cho biết ông muốn tôi tiếp tục nhiệm vụ giữ vững mối giao hảo với Hoa Kỳ. Ông cũng chẳng đoái hoài hỏi xem tôi có nhận lời hay không.

Tôi dùng khoảng thời gian còn lại trong ngày để liên lạc với bạn bè trong chính giới và bàn bạc với bác sĩ Quát. Đúng như ông Kỳ đã nói trước. Bác sĩ Quát khuyên tôi nhận lời. Cũng như ông Kỳ, bác sĩ Quát nêu ra những vấn đề cần thiết trong việc giữ vững liên lạc với Hoa Kỳ “vững chừng nào tốt chừng đó.” Ông cho rằng việc các tướng lãnh tỏ ra chú tâm vào vấn đề này là một điều khả quan. Theo ý kiến riêng ông thì: “Mọi việc sẽ khả quan hơn nếu chúng tôi có thể theo dõi hành động của các tướng lãnh.” Lời phát biểu của bác sĩ Quát cho thấy ông vẫn chưa hoàn toàn buông bỏ tất cả sự nghiệp chính trị. Tuy bác sĩ Quát chưa hề phát biểu rõ ràng, tôi cũng đã mơ hồ cảm thấy ông vẫn muốn giữ vững mối dây liên lạc với quân đội. Đây chính là một trong những lý do khiến ông muốn tôi nhận lời. Tôi biết rằng trong thâm tâm các biến cố đã làm ông cay đắng. Có lẽ ông vẫn không thật sự muốn tôi hợp tác với chính phủ mới. Dầu sao đi nữa thì ông cũng đã quyết định tự rút lui cho các ông Thiệu, Kỳ; ông cũng đã từ chức và giữ được mối giao hảo tốt đẹp với cả hai. Nếu ông còn có bất kỳ tia hy vọng nào về vấn đề trở lại chính trường thì tia hy vọng đó cũng phụ thuộc một phần vào mối dây liên hệ giữa ông và hai ông Thiệu, Kỳ. Vào lúc này, kinh nghiệm cho thấy rằng chính phủ mới có thể sẽ không đứng vững được lâu. Và ai có thể đoán trước được những việc xảy ra về sau? Bác sĩ Quát nói thêm: “Hơn nữa, sau khi gia nhập chính phủ, nếu anh cảm thấy không thể phục vụ được thì vài tháng sau lúc nào cần anh cũng có thể từ chức với lý do sức khỏe.”

Tuy cho rằng mình hiểu bác sĩ Quát, tôi cũng đã tự suy xét kỹ lưỡng. Trước hết, tôi vô cùng ngần ngại về việc phải đứng ra hợp tác cùng với các tướng lãnh không hề có chút quan niệm cơ bản thế nào là chính phủ. Thứ hai, tôi biết rằng dù bác sĩ Quát có nói gì đi nữa thì sự kiện người cộng tác gần với ông nhất trong chánh phủ cũ, nay lại làm việc cùng chánh quyền mới vẫn là một việc khó thể chấp nhận. Sự việc này sẽ khiến dư luận hành lang Sài Gòn bàn bạc phê bình suốt một đời và tôi sẽ phải chịu đựng rất nhiều điều tiếng vì những lời nói ra, nói vào của các giới chính trị tại Sài Gòn. Mặt khác, tôi vừa mới lấy lại được phần nào sức lực khi được nghỉ mấy ngày vừa qua ở Nha Trang. Tham gia chánh phủ mới là một ý kiến vô cùng hấp dẫn. Tôi mới 42 tuổi, còn quá trẻ để tự nguyện rút lui vào bóng tối của quên lãng. Sau khi trằn trọc thâu đêm về việc lựa chọn, sáng hôm sau tôi đến văn phòng ông Kỳ chấp nhận lời mời hợp tác. Những tuần đầu làm việc với ông Kỳ thật là khó chịu. Tuy ông và tất cả những người trong nhóm của ông đều cố đối xử thân thiện với tôi, nhưng việc tôi là một “người ngoài,” là một “kẻ xâm nhập” vào vòng thân hữu của họ là việc đã rõ rành rành. Giữa bầu không khí khó chịu này, tôi cố chú tâm vào những trách nhiệm nằm trong lãnh vực riêng của công việc, cố soạn thảo những vấn đề có tính cách cấp thiết trong lãnh vực ngoại giao. Tôi chỉ gặp ông Kỳ khi có lời yêu cầu.

Nhưng tình trạng này không kéo dài được lâu. Tôi được mời hợp tác chính là vì kinh nghiệm nghề nghiệp trong việc giao dịch với Hoa Kỳ. Vì quen thuộc nên những nhân viên Hoa Kỳ vẫn muốn tìm hiểu mọi việc qua tôi trong lúc tình hình đang lộn xộn. Do đó, những vấn đề tòa đại sứ Hoa Kỳ trình bày với tôi toàn là những vấn đề hệ trọng cần được thủ tướng lưu tâm. Mặt khác, ông Kỳ cũng cảm thấy thuận tiện khi dùng tôi làm mối dây liên lạc để dò dẫm, tìm hiểu phản ứng của Hoa Kỳ đối với những chính sách do ông đề ra. Ở giữa tình thế lúc này, vị tân thủ tướng vốn dĩ chẳng hề quen thuộc với cả những cách điều hành chánh phủ lẫn những phương pháp ngoại giao bắt đầu tham khảo ý kiến tôi. Khi vấn đề hợp tác đã khiến chúng tôi gần gũi nhau hơn thì vào những lúc tôi phải thuyết trình, ông Kỳ thường mời tôi cùng ăn trưa tại Phủ Thủ Tướng.

Thật trái hẳn với sự dự liệu của tôi, ông Kỳ hiểu vấn đề rất nhanh và cũng rất chịu khó lắng nghe. Mặc dù ông chưa có kiến thức chính trị sâu sắc và vẫn chưa hẳn là một chính khách chững chạc, ông Kỳ rất có duyên và có tính chân thật tự nhiên bẩm sinh dễ gây thiện cảm. Tuy ông Kỳ có một cái tật là hay phát biểu ẩu tả và tuy lối sống đặc biệt của ông hoàn toàn đi ngược với quan niệm riêng của tôi về tư cách của một nhà chính trị cầm đầu chính phủ, tôi vẫn cảm thấy ông Kỳ, dù có tật bộp chộp và thiếu thận trọng, nhưng nói chung thì vẫn là người có tâm địa tốt và thật thà.

Tôi đã tường trình với ông Kỳ về những biến cố của việc Hoa Kỳ đổ quân trong những tháng về trước. Tôi cũng đã trình bày những quan niệm của bác sĩ Quát về việc đổ quân của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Một mặt ông Kỳ tỏ vẻ nhận biết những nghi ngờ của bác sĩ Quát. Mặt khác, ông lại bị áp lực nặng nề vì những loạt tấn công của các đơn vị Bắc Việt to lớn vào tháng 7 năm 1965 và những tổn thất do các vụ nổ bom gây ra, chẳng hạn như vụ nổ bom ở nhà hàng Mỹ Cảnh trên bến Sài Gòn. Ông Kỳ lập luận rằng việc quan trọng nhất là việc ổn định tình hình quân sự và một khi muốn chu tất việc này thì chúng tôi phải cần những lực lượng bộ binh của Hoa Kỳ.

Chúng tôi không hề biết rằng ngay trước cả khi thay đổi chánh phủ, tướng Westmoreland đã yêu cầu tiếp viện thêm một số quân vượt xa con số mà cả hai chánh phủ đã thỏa thuận vào tháng 4. Vẫn như thường lệ, chúng tôi hoàn toàn mù tịt về những cuộc tranh luận ở Hoa Thịnh Đốn lúc này. Cuộc bàn cãi chia làm ba phe gồm những người ủng hộ việc leo thang quân sự như Bộ Trưởng McNamara, những người muốn tiếp tục chánh sách trung dung và Thứ Trưởng Ngoại Giao George Ball. Tuy đơn độc một mình, Thứ Trưởng George Ball là một nhân vật có ảnh hưởng rất mạnh. Ông đã khởi xướng những cuộc thảo luận về vấn đề cần phải giảm dần những can thiệp quân sự và từ từ rút ra khỏi Việt Nam. Từ trước tới nay, cả chánh quyền của ông Thiệu, ông Kỳ lẫn chánh quyền của bác sĩ Quát đều cho rằng Hoa Kỳ biết rất rõ những chính sách của họ và đang hoạch định kế hoạch để chu toàn mục đích. Dĩ nhiên đây là một quan niệm hoàn toàn sai lầm. Quan niệm này đã trở thành yếu tố nổi bật trong mối bang giao giữa hai quốc gia và dần dà chuyễn thành một yếu tố chủ chốt dẫn đến những hậu quả vô cùng tai hại đối với chiến cuộc.

Trong khi đó, quân đội Hoa Kỳ đã thực sự thay đổi tất cả bộ mặt cuộc chiến Việt Nam. Trong những ngày cuối tháng 7, chúng tôi biết rằng sư đoàn không lực 173 của Hoa Kỳ đã tấn công vào những căn cứ của Việt Cộng ở chiến khu Đ, một vùng rừng núi rậm rạp phía Tây Bắc, Sài Gòn. Đây là cuộc tấn công đầu tiên của các lực lượng bộ binh Hoa Kỳ. Ngoài ra còn một vấn đề khác quan trọng không kém là cuộc tấn công đã được những phi đoàn B-52 cất cánh từ Guam oanh tạc trước dọn đường. Những quyết định quan trọng về việc Hoa Kỳ đổ quân trong nhiều tháng trước giờ đây đang được thi hành. Nếu nhìn từ một phương vị nào đó thì những hoạt động tấn công có vẻ thiếu phần hứng khởi. Những đội quân Hoa Kỳ rất ít khi có dịp đụng độ với đối phương. Hơn nữa, vì chiến khu Đ chỉ là nơi dân cư thưa thớt nên chẳng ai để ý đến những cuộc oanh tạc chiến lược khổng lồ. Tuy vậy, một khi đã biết về những hoạt động của Hoa Kỳ thì tất cả Miền Nam đều cảm thấy vững tâm. Chiến dịch oanh tạc cho thấy đồng minh Hoa Kỳ đã chánh thức tham dự chiến cuộc và chúng tôi có thể tin tưởng vào họ. Sự vững tâm đã làm trôi tất cả mọi e dè về việc cho phép người Ngoại Quốc đổ quân vào Việt Nam. Chiến dịch oanh tạc đã phá tan những viễn tượng đe dọa thất bại quân sự do các cuộc tấn công lớn rộng và ráo riết của Bắc Việt trước đây.

Mặt khác, các vấn đề khó khăn đi đôi với việc đổ quân Hoa Kỳ bắt đầu xuất hiện. Những đồ tiếp tế và vật dụng lũ lượt đổ vào Việt Nam làm ứ nghẽn các hệ thống phân phối trong nước. Cảng Sài Gòn đầy dẫy những tàu đợi chờ rỡ hàng trong khi các thuyền trưởng xôn xao tranh cãi về quyền ưu tiên. Những công trình xây cất vĩ đại dường như mọc ra khắp nơi đi liền với những khó khăn không thể nào tránh được chẳng hạn như vấn đề khó khăn luật pháp giữa Hoa Kỳ và Việt Nam khi cùng hợp tác.

Trong hạ tuần tháng 7, trong khung cảnh những hoạt động nhộn nhịp để sửa soạn cho chiến tranh thì có tin rằng Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara sẽ ghé Sài Gòn vào ngày 16. Để chuẩn bị cho cuộc thăm viếng, ông Kỳ nhờ tôi soạn thảo một bản ghi chú bao gồm những câu hỏi cần thiết để ông có thể đưa ra khi gặp Bộ Trưởng McNamara. Đây là một công việc tôi chú hết tâm sức để làm ngay. Theo tôi thì Bộ Trưởng McNamara là một trong những ngôi sao sáng của chánh phủ Hoa Kỳ. Ông có lẽ là cố vấn quan trọng nhất của tổng thống Johnson. Khi suy nghĩ đến bộ trưởng McNamara và những ấn tượng sắp đến của ông về chúng tôi, tôi cảm thấy hơi căng thẳng. Chuyến thăm viếng của bộ trưởng McNamara là một dịp quan trọng để ông Kỳ có thể xem xét toàn thể chánh sách chiến lược của Hoa Kỳ đối với chiến tranh Việt Nam. Đương nhiên chúng tôi biết rõ rằng lúc này đang có gần 80,000 binh sĩ Hoa Kỳ đóng tại Việt Nam và ít nhất thì Hoa Kỳ cũng đang dò dẫm thử nghiệm các chiến thuật tấn công. Nhưng thực sự mục đích quân sự của họ là gì? Họ muốn chiếm được những gì và họ có thể hài lòng khi đoạt được những kết quả nào? Họ toan tính chiến lược ra sao? Rút tỉa từ những kinh nghiệm từ tháng 3 và tháng 4 -Từ cuộc đổ quân gia tăng tiếp liền sau đó- Tôi đã soạn thảo một bản ghi chú cho ông Kỳ vào ngày 14, bao gồm những câu hỏi về chính sách như sau: * Mục đích chung của Hoa Kỳ về cuộc chiến là gì: Thắng lợi quân sự? Đốc thúc đàm phán? * Nếu là đốc thúc đàm phán thì cương vị và mục đích của cuộc đàm phán là gì? * Nếu mục đích là thắng lợi quân sự thì thắng lợi này được định nghĩa ra sao? Chánh thức bắt Việt Cộng đầu hàng? Chánh thức bắt Miền Bắc phải đầu hàng? Tấn công chiếm Miền Bắc? Hay chỉ ngăn chận những cuộc xâm lăng của Việt Cộng và Miền Bắc? * Mục đích của Hoa Kỳ về vấn đề chỉ huy quân sự hỗn hợp hoặc chỉ huy quân đội hợp nhất là gì? * Hoa Kỳ sẽ đổ bao nhiêu quân vào Việt Nam? Thời hạn chiếm đóng là bao lâu?

Những câu hỏi trên và những câu hỏi khác liên quan đến vấn đề liên hệ tới những dự định của Hoa Kỳ, nhất là những dự định có ảnh hưởng đến những biến chuyển kinh tế và chính trị Việt Nam ra sao được soạn thảo nhằm mục đích tạo dịp cho ông Kỳ có thể duyệt xét một cách tổng quát tình hình chung với vị Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ. Nếu nhìn bằng quan điểm lịch sử thì có lẽ điểm ly kỳ nhất là chính những câu hỏi mà tôi soạn thảo cho ông Kỳ đã tự diễn tả rõ rệt chiều hướng chính của những nỗ lực quân sự liên hiệp. Vào mùa hạ năm 1965, Việt Nam hoàn toàn mù tịt về những chiều hướng này. Tôi đề nghị ông Kỳ nên thúc dục mạnh mẽ để tìm những câu trả lời mà tôi cho là tối cần thiết trong việc hoạch định đường hướng cho những hoạt động của chúng tôi lúc bấy giờ.

Trong chuyến viếng thăm, Bộ Trưởng McNamara đã sang Sài Gòn cùng ông Henry Cabot Lodge, vị đại sứ mới đến để thay thế đại sứ Taylor. Chúng tôi đã biết ông Lodge từ khi ông bắt đầu cầm quyền tại Sài Gòn vào năm 1963-1964. Bộ Trưởng McNamara cũng đã từng đến Việt Nam năm 1964 khi tổng thống Johnson yêu cầu ông cùng vận động với tướng Khánh. Tuy vậy, vào lúc này uy danh của Bộ Trưởng McNamara đã lừng lẫy đến độ gần như khuất lấp cả con người ông. Ông nổi tiếng là người thông minh xuất chúng với một bộ óc gần như bộ óc của máy điện toán và được xem là nhân vật có ảnh hưởng nhất trong chánh quyền Hoa Kỳ. Vì vậy, lúc đến văn phòng ông Kỳ để bàn bạc, tôi đã ra công chuẩn bị, tiên liệu rất nhiều.

Khi cuộc họp với phái đoàn Hoa Kỳ bắt đầu, chúng tôi ngồi thành hai phía đối diện: Bên Hoa Kỳ là Bộ Trưởng McNamara, Phó đại sứ Alexis Johnson, ông Lodge và các viên chức phụ tá khác. Phía Việt Nam là ông Kỳ, ông Thiệu, tôi và những tư lệnh quân sự. Tôi được xếp ngồi ở một vị trí thuận lợi để có thể đưa những bản ghi chú cho ông Kỳ khi cuộc họp tiếp diễn.

Tuy vừa mới trải qua một cuộc hành trình dài mà tổng trưởng McNamara dường như vẫn vô cùng sáng suốt. Mới mở màn ông đã chuyển trọng tâm cuộc họp cuộc họp về những điều chính do ông soạn thảo. Những lập luận của tổng trưởng McNamara vừa thân thiện lại vừa rất chính xác. Khi cuộc họp bắt đầu kéo dài, ông luôn luôn ghi chép vào những tờ giấy ghi chú vàng nho nhỏ. Ông đã đưa ra hàng loạt câu hỏi về những con số, tổ chức, chánh trị, quân nhu, quân cụ… như thể ông đang cố thâu thập dữ kiện và yếu tố cho một phương trình toán học khổng lồ. Hiển nhiên vì đắm chìm trong những suy nghĩ riêng tư, bộ trưởng McNamara chẳng hề để ý gì đến những người xung quanh. Theo tôi thấy thì dường như ông không hề cảm thấy cần phải lượng định nhân vật đang ngồi đối diện thẳng với ông là ông Nguyễn Cao Kỳ. Tôi tự hỏi phải chăng ông Kỳ đối với ông cũng chẳng có gì khác lạ?

Khi cuộc họp kết thúc, tuy đã có đề cập đại cương đến các kế hoạch phòng vệ, xây dựng nông thôn, tuy đã có khẳng định phần nào rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục giúp đỡ, tổng trưởng McNamara vẫn không đả động gì đến những câu hỏi tôi đã ra công soạn thảo. Có lẽ ông Kỳ còn quá nhút nhát và thiếu kinh nghiệm về cách đưa ra câu hỏi. Theo như diễn biến thì có lẽ bộ trưởng McNamara và phái đoàn của ông chỉ có ý muốn thâu thập dữ kiện hơn là trình bày rõ hơn về những chánh sách và kế hoạch của họ. Sau buổi họp, tôi đã đề nghị rằng ông Kỳ nên gặp riêng Bộ Trưởng McNamara để khung cảnh nói chuyện được thuận lợi hơn. Tuy ông Kỳ có ngồi lại với Bộ Trưởng McNamara, những câu hỏi trong bản ghi chú của tôi vẫn chẳng có giải đáp nào rõ rệt cả. Khi Bộ Trưởng McNamara rời Việt Nam, chúng tôi gần như chẳng biết gì hơn thêm trước khi ông đến.

Tuy vậy, sau này chúng tôi được biết thêm rằng ngay khi ông còn ở Việt Nam, Bộ Trưởng McNamara đã nhận được một bức điện tín do phụ tá của ông là ông Cyrus Vance từ Hoa Thịnh Đốn gửi sang, báo rằng Tổng Thống Johnson đã đồng ý thỏa thuận lời yêu cầu của tướng Westmoreland về vấn đề nâng quân số lên đến 125,000. Vào ngày 28 tháng 7, trong một cuộc họp báo tại tòa Bạch Ốc, Tổng Thống Hoa Kỳ thông báo quyết định gia tăng quân số Hoa Kỳ tại Việt Nam. Và Đây cũng là một hình thức thông báo chánh thức đối với chúng tôi. 

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"