Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

31 – Mất Tiên Cơ 


Chương 31
Mất Tiên Cơ

Vào đầu tháng 10 năm 1969 thì những cuộc biểu tình của giới phản chiến ở Hoa Kỳ bùng ra ở khắp mọi nơi. Các ủy ban tổ chức phản chiến ở Hoa Kỳ gọi giai đoạn này là giai đoạn Moratorium. Vào giữa khi những người tổ chức phản chiến đang kêu gọi biểu tình thì Tổng Thống Nixon đã lên đài truyền hình để có thể trực tiếp thuyết phục dư luận Hoa Kỳ ủng hộ các chính sách của ông. Đây là một trong những buổi nói chuyện thành công của Tổng Thống Nixon. Trong buổi nói chuyện đó, ông trình bày tỉ mỉ hai kế hoạch chính của ông là: Việt Nam Hóa Chiến Tranh và Đàm Phán. Sau khi trình bày các kế hoạch, ông Nixon trực tiếp kêu gọi đại đa số những người Hoa Kỳ chưa có thái độ rõ rệt đối với vấn đề Việt Nam. Ông gọi họ là “đa số trầm lặng.” và lên tiếng kêu gọi tất cả những người trong khối “đa số trầm lặng” đó ủng hộ ông.

Cuộc nói chuyện trực tiếp của Tổng Thống Nixon mang lại kết quả khả quan trông thấy. Ông đã thuyết phục được đa số dân chúng và rất nhiều các dân biểu, Thượng Nghị Sĩ trong quốc hội Hoa Kỳ. Ông đã trấn an được dư luận ngay vào lúc dân chúng Hoa Kỳ đang bị hoang mang vì các cuộc biểu tình. Ngay trong lúc Tổng Thống Nixon lên tiếng kêu gọi dân chúng thì những tổ chức phản chiến vẫn tiếp tục hoạt động ở khắp nơi và khoảng hai tuần lễ sau đó thì Ủy Ban tổ chức phản chiến đến Hoa Thịnh Đốn. Chính những toán tiên phuông của các tổ chức này đã biểu tình trước tòa đại sứ Việt Nam đêm trước. Khi cuộc biểu tình đến Hoa Thịnh Đốn thì số người tham gia lên đến 250,000. Những người biểu tình tràn ngập vào nhiều vùng trong thành phố, đập phá các cơ sở của chánh phủ và giương cao cờ Việt Cộng. Tuy thế, tin tức cho thấy rằng buổi nói chuyện của Tổng Thống Nixon lúc trước đã có ảnh hưởng. Con số thống kê cho thấy số người ủng hộ ông dâng cao và rồi vào tháng 12 thì những phong trào phản chiến bỗng nhiên lắng xuống.

Mặc dầu đa số các cuộc chống đối ở Hoa Kỳ lúc đó đang một ngày một giảm mà chẳng hiểu sao lúc nào tôi cũng vẫn bị ám ảnh rằng đây chỉ là phong ba tạm ngừng mà thôi. Trong những tháng về sau, khi duyệt lại các tin tức ở Hoa Kỳ tôi đã viết cho ông Thiệu như sau: “Chánh phủ Hoa Kỳ có thể trấn an dư luận nhưng chánh phủ Hoa Kỳ vẫn không thể nào đi ngược lại dư luận của dân chúng Hoa Kỳ. Chính vì thế nên dư luận của dân chúng Hoa Kỳ vẫn là một yếu tố quan trọng hơn cả. Tạm thời chúng ta đang yên ổn… nhưng điều này không có nghĩa là đã hết những khó khăn.”

Trong một bản tường trình dài gửi về Sài Gòn vào ngày 12 tháng 3 năm 1969, tôi có nói với ông Thiệu rằng cả những người ủng hộ chiến cuộc Việt Nam lẫn những đoàn thể phản chiến ở Hoa Thịnh Đốn đều đang đưa ra những câu hỏi chính trị hóc búa. Chẳng hạn như: “Liệu chính phủ Việt Nam có đứng vững hay không? Phải chăng sự chia rẽ và phân hóa của các nhóm chính trị ở Việt Nam đã khiến chánh phủ Việt Nam ngày càng bị cô lập? Nói tóm lại, thì căn nguyên của mọi khó khăn là vì chánh phủ Hoa Kỳ phải quyết định các chính sách Việt Nam sao cho những chính sách đó không bị dư luận Hoa Kỳ chỉ trích. Chính sự liên hệ phức tạp này đã khiến vấn đề ủng hộ Việt Nam trở thành khó khăn bội phần. Trong giai đoạn này thì bất cứ lúc nào các tổ chức phản chiến cũng có thể biểu tình. Hơn nữa cuộc bầu cử Tổng Thống sơ khởi của Hoa Kỳ lại sắp sửa bắt đầu và giới phản chiến chắc chắn sẽ không bỏ qua cơ hội đó.”

Tôi đã được mục kích Tổng Thống Nixon thuyết phục dân chúng. Tôi cũng đã được nghe chính ông Nixon tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục chiến đấu cho đến khi Bắc Việt chịu chấp nhận một giải pháp đàm phán công bằng hoặc cho đến khi Việt Nam đã đủ sức để tự lực cánh sinh. Tuy thế, tôi vẫn quan niệm rằng Hoa Kỳ đang bắt đầu rút lui ra khỏi cuộc chiến Việt Nam. Tôi cho rằng năm 1970 chính là thời điểm đánh dấu một giai đoạn mới cho các kế hoạch rút quân của Hoa Kỳ. Ở Hoa Kỳ, áp lực của dư luận và các tổ chức phản chiến ngày càng dâng cao. Rồi đây những áp lực đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của quốc hội.

Quan niệm thực tế của tôi được rút ra từ những nhận xét tôi nghe được của các bạn bè thân. Một trong những người trực tiếp cho tôi biết rõ ý kiến của Hoa Kỳ là tướng William Depuy, người đã từng là phụ tá cho tướng Westmoreland, tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ ở Miền Nam Việt Nam. Khi tướng Depuy nói chuyện với tôi ở một căn cứ quân sự ở tiểu bang North Carolina, ông đã phát biểu như sau:
“Tôi không phải là tổng thống Nixon; tôi cũng không phải là đại diện của chánh phủ Hoa Kỳ, nhưng tôi tin rằng chánh sách của Hoa Kỳ là: Vì rất nhiều lý do -từ cả những lý do phức tạp của tình hình quốc tế lẫn những lý do khác bên trong nội bộ Hoa Kỳ- chánh phủ Hoa Kỳ đã kết luận rằng Hoa Kỳ phải giải quyết vấn đề Việt Nam trong vòng 3, 4 hoặc 5 năm nữa. Trong vòng 5 năm tới, Hoa Kỳ sẽ tận lực giúp Miền Nam Việt Nam bằng tất cả mọi nỗ lực. Ngày nào quân đội Hoa Kỳ còn đóng binh ở Việt Nam thì ngày đó họ vẫn còn chiến đấu. Nhưng chánh phủ Việt Nam phải hiểu rằng Hoa Kỳ không thể làm gì hơn được nữa. Tôi không đặt hy vọng gì vào những cuộc đàm phán ở Ba Lê. Mà giả thử đàm phán ở Ba Lê có đạt được kết quả đáng kể đi chăng nữa thì đó cũng là việc đáng mừng. Nói tóm lại thì trong vòng 5 năm tới, nếu Việt Nam có thể tự lực cánh sinh thì đây quả là điều chúng tôi mong mỏi. Nhưng nếu sau 5 năm Việt Nam vì lý do gì đó -hối lộ, chia rẽ, thiếu đoàn kết- mà không thể tự lực cánh sinh thì Hoa Kỳ cũng chẳng thể làm gì khác hơn được.”

Nhìn lại những bức điện văn và những bản tường trình gửi về Sài Gòn lúc đó, tôi cho rằng tôi đã tận lực trình bày để ông Thiệu có thể thấy được những biến cố Việt Nam qua lăng kính của một người đang chứng kiến những sự chia rẽ, chống đối và thay đổi lớn lao đang làm rung chuyển xã hội Hoa Kỳ. Tôi đã tường trình tất cả mọi chi tiết và đã nhiều lần nhấn mạnh tầm mức quan trọng của cả dư luận Hoa Kỳ, lẫn những ảnh hưởng xấu của cuộc biểu tình. Tôi đã tường thuật gần như tỉ mỉ từng chữ những cuộc thảo luận ở Hoa Kỳ có liên quan đến vấn đề cải cách của chính phủ Việt Nam. Tôi cũng nói với ông Thiệu rằng: Lúc này, ở Hoa Kỳ, thái độ của những người bạn đã ủng hộ Việt Nam là là “tant mieux hoặc tant pis,” nghĩa là nếu [giúp Việt Nam] được thì càng tốt và nếu không thì cũng đành vậy.” Những người ủng hộ Việt Nam đã làm tất cả những điều họ có thể làm, giờ là lúc chánh quyền Việt Nam phải tự lực cánh sinh hoặc sụp đổ. Và nếu chúng ta có thể đứng vững được thì đây quả là điều mọi người mong mỏi. Nếu chúng ta không thể đứng vững được thì mọi người đều cho rằng họ cũng chẳng thể làm gì hơn. * * * * *

Vào ngày 17 tháng 3 năm 1969, những sự lo lắng của tôi bị chuyển hướng vì một cuộc đảo chánh ở Cam Bốt đã lật đổ Hoàng Tử Norodom Sihanouk. Cuộc đảo chánh diễn ra khi ông Sihanouk đang nghỉ mát ở Pháp. Người cầm đầu cuộc đảo chánh là Bộ Trưởng Quốc Phòng Lon Nol và phụ tá của ông ta là Sirik Matak. Chẳng hiểu nguyên do của cuộc đảo chánh ở Cam Bốt là gì mà tình thế hỗn loạn sau đảo chánh lại khiến những người Cam Bốt bắt đầu một chiến dịch khủng bố những người Việt cư ngụ ở Nam Vang và các khu vực miền đông Cam Bốt. Tuy từ trước tới nay, giữa Việt Nam và Cam Bốt vẫn có những xô xát về vấn đề khác biệt chủng tộc giữa hai quốc gia, nhưng chưa bao giờ mức độ xô xát lại khủng khiếp bằng lần này. Chúng tôi được những Việt Kiều ở Cam Bốt vượt thoát trở về kể lại thật chi tiết các vụ tàn sát ở đó. Khi tin tức về những cuộc tàn sát những người Việt kiều ở Cam Bốt đã rõ rệt, tôi đến gặp ông Green và ông Sullivan để yêu cầu Hoa Kỳ can thiệp và tìm cách ngăn chận những vụ tàn sát đang xảy ra.

Tôi nói với ông Green rằng: Nếu Hoa Kỳ không chịu can thiệp thì tới một lúc nào đó chính phủ Việt Nam sẽ bị buộc phải hành động để binh vực những người Việt ở Cam Bốt. Chẳng bao lâu sau, Hoa Kỳ đã đứng ra hòa giải. Lon Nol và Sirik Matak cùng hứa rằng họ sẽ cố hết sức ổn định tình hình. Theo ông Green thì cả hai ông Lon Nol và Matak đều là những người đáng tin cậy. Tuy thế, những khu vực phía đông Cam Bốt lại là một nơi gần 40,000 quân Bắc Việt đang chiếm đóng và cả hai ông Lon Nol lẫn Matak đều không thể làm chủ được tình hình ở những nơi đó.

Ngoài vấn đề khủng bố, cuộc đảo chánh ở Cam Bốt còn phá vỡ cả thế quân bằng của các lực lượng quân sự đang hiện diện ở Cam Bốt. Trước đây, nhờ tài lãnh đạo khéo léo của ông Sihanouk, tất cả những lực lượng hiện diện ở Cam Bốt đều đứng trong một thế quân bằng. Trong thế quân bằng đó, Cam Bốt là một nước chánh thức trung lập và hoàn toàn đứng ngoài những sự tranh chấp của cuộc chiến tranh Việt Nam. Nguyên từ trước tới nay, quân đội Cam Bốt vẫn là những lực lượng yếu và không thể đối phó được với những lực lượng của Cộng Sản Bắc Việt bằng vũ lực. Vì thế, khi những lực lượng Bắc Việt đem quân vào chiếm đóng ở những khu vực Miền Đông Cam Bốt thì ông Sihanouk đã nhẫn nhịn làm lơ. Tuy thế, ông đã khôn khéo biểu lộ sự bất mãn của mình bằng cách cho phép Hoa Kỳ tự do dội B-52 vào những khu vực Bắc Việt chiếm đóng.

Vào cuối tháng 3 năm 1969, khi hoàng tử Sihanouk bị đảo chánh thì có lẽ vì không hiểu rõ được thực lực của Bắc Việt và cũng không thấy rõ được những ưu điểm trong tư thế trung lập của Cam Bốt nên Lon Nol đã cho lệnh quân đội hoàng gia Cam Bốt tấn công thẳng vào những căn cứ của Bắc Việt. Chỉ một thời gian ngắn sau khi Lon Nol ra lệnh cho các lực lượng Cam Bốt tấn công vào căn cứ địa của Bắc Việt ở miền Đông Cam Bốt thì quân đội Miền Nam Việt Nam cũng bắt đầu tấn công vào các căn cứ của Bắc Việt dọc theo Cam Bốt. Quân đội Bắc Việt phản ứng bằng cách rút lui sâu vào những căn cứ ở phía Đông Bắc Cam Bốt. Rồi từ đó, thay vì trực tiếp chống trả với những cuộc tấn công của quân đội Miền Nam Việt Nam, những đơn vị Bắc Việt lại chuyển mũi dùi sang phía Tây và tấn công mãnh liệt vào những đội quân của Lon Nol. Chẳng những thế, Bắc Việt còn gia tăng huấn luyện những nhóm Khmer đỏ, nguyên là những toán du kích của Cam Bốt đang chống lại chánh quyền Cam Bốt lúc đó. Những toán du kích Cam Bốt này tuy nhỏ nhưng vô cùng hung hãn. Khi Bắc Việt tận lực né tránh các cuộc tấn công của quân lực VNCH và chuyển hướng tấn công sang mé Tây thì quân đội Cam Bốt lập tức phải chịu những áp lực quân sự nặng nề. Tuy quân đội Bắc Việt vẫn chưa đe dọa được Nam Vang nhưng những cuộc tấn công của phe Bắc Việt càng ngày càng lan rộng. Cứ theo đà tấn công ráo riết của Bắc Việt lúc đó thì rõ ràng là chánh phủ Cam Bốt đang cần viện trợ. Tuy thế ở Hoa Kỳ lúc này, hơn bao giờ hết, lại không phải là lúc để có thể dễ dàng xin viện trợ.

Sau nhiều tuần lễ Bắc Việt tấn công, tình trạng Cam Bốt càng ngày càng khó khăn. Cuối cùng, khi Bắc Việt phối hợp quân đội để tấn công thì Cam Bốt chỉ còn biết trông đợi viện trợ vào sự viện trợ của Hoa Kỳ. Vào ngày 30 tháng 4 năm 1969, Tổng Thống Nixon ra lệnh cho quân đội Hoa Kỳ phối hợp với quân đội Miền Nam Việt Nam tấn công thẳng vào căn cứ và các đường tiếp vận của Bắc Việt. Khi ra lệnh tấn công, Tổng Thống Nixon nói rõ rằng quân Bắc Việt đang tập trung vào các căn cứ ở Cam Bốt. Nếu cứ để mặc cho Cộng Sản rảnh tay thì những nơi Bắc Việt đóng quân có thể trở thành “một cứ điểm ngày càng lớn rộng. Hơn nữa, Bắc Việt có thể dùng cứ điểm này làm đường tiếp vận để tấn công Miền Nam Việt Nam.” Ông đề cập những hậu quả tai hại đối với quân đội Hoa Kỳ nếu Bắc Việt đánh bại quân đội Cam Bốt. Mới chỉ 10 ngày trước, ông đã nói rằng trong năm 1970 Hoa Kỳ sẽ rút 150,000 quân ra khỏi Việt Nam mà lúc này Tổng thống Nixon lại đi ngược lại lời tuyên bố mà ông đã đưa ra với dư luận. Tổng Thống Nixon nói rằng Hoa Kỳ phải hành động để “bảo vệ quân lính Hoa Kỳ đang đóng ở Việt Nam và giữ vững kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh.” Hoa Kỳ chẳng thể nào khoanh tay trước “mũi dùi của cộng sản Bắc Việt”.

Đã đành rằng khi Tổng Thống Nixon trực tiếp trình bày ý kiến với dân chúng Hoa Kỳ thì mục đích chính của cuộc nói chuyện là để thuyết phục dư luận, nhưng những nhận định mà ông đưa ra trong cuộc nói chuyện đó cũng rất chính xác. Viễn tượng cộng sản sẽ chiếm đóng suốt sáu trăm dặm dọc Cam Bốt và rồi từ đó tấn công thẳng vào Miền Nam Việt Nam đã khiến ngay cả những người lạc quan nhất cũng phải e ngại. Ngoài cách tấn công, Hoa Kỳ không còn cách nào khác để tránh biến trường hợp đó trở thành sự thật. Nếu Hoa Kỳ có thể tấn công một cách hữu hiệu vào những căn cứ của Bắc Việt ở Cam Bốt thì khả năng tấn công của Việt Cộng sẽ bị tê liệt trong một thời gian dài. Đây là một sự thật hiển nhiên khó có thể chối cãi được.

Nhiều kế hoạch gia của cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam đã cho rằng đáng nhẽ Hoa Kỳ nên chọn cách này từ lâu rồi. Họ cho là Hoa Kỳ nên áp dụng kế hoạch tấn công ngay từ khi Việt Cộng chuyển quân chiếm đóng các khu vực chiến lược của Cam Bốt. Từ trước đến nay, cộng sản vẫn cố lợi dụng các căn cứ địa và các đường tiếp vận “bất khả xâm phạm” để chiếm lấy tiên cơ của quân đội Việt Nam. Nếu đứng trên phương diện quân sự mà luận thì những cuộc tấn công của Hoa Kỳ vào Cam Bốt quả là những thắng lợi đáng kể, nhưng có lẽ vì tôi đã bị những khung cảnh chia rẽ nội bộ của Hoa Kỳ ám ảnh quá nặng nên sau khi nghe Tổng Thống Nixon trình bày ý kiến với dư luận, tôi không hề cảm thấy phấn khởi vì những lợi điểm của lời tuyên bố đó đối với cuộc chiến Việt Nam mà lại cảm thấy lo lắng vì những hậu quả của lời tuyên bố đó đối với các phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ.

Cuộc tấn công phối hợp Mỹ, Việt bắt đầu vào ngày 30 tháng 4 năm 1969. Ngày 2 tháng 5 tôi gửi điện văn cho ông Thiệu để đệ trình những nhận xét đầu tiên của tôi vào lúc đó:
Thứ nhất. Quyết định của tổng thống Nixon [về việc ra lệnh cho quân đội Hoa Kỳ phối hợp với quân đội Việt Nam để tấn công ở Lào] đã khiến những nhóm phản chiến chống đối cực kỳ mãnh liệt. Lúc này hãy còn quá sớm nên chưa ai có thể biết được rồi đây những chống đối của những nhóm phản chiến sẽ ảnh hưởng tổng thống Nixon được đến mức nào. Trong khi đó thì sinh viên lại bắt đầu biểu tình trở lại. Có lẽ trong tuần tới thì mức độ chống đối còn gia tăng nhiều hơn.
Thứ hai. Trong khi phản ứng của dân chúng Hoa Kỳ đối với quyết định của Tổng Thống Nixon vẫn chưa hoàn toàn rõ rệt thì hai tờ báo thiên tả lớn đã lên tiếng kết án hành động của tổng thống Nixon. Tờ New York Times gọi những lý do mà Tổng Thống Nixon đưa ra để kết luận Hoa Kỳ phải tấn công là những “ảo tưởng chính trị” chứ không phải là những lý do thực tế. Tờ Washington Post lên án rằng quyết định của Tổng Thống Johnson là một quyết định “sai lầm, và thiếu suy xét”
Thứ ba. Tất cả những người đang theo dõi tình hình chính trị ở Hoa Kỳ đều cho rằng quyết định của ông Nixon là một sự liều lĩnh khác thường trên phương diện chính trị và quân sự… Nếu nhìn dư luận của Hoa Kỳ lúc này qua quan niệm của một người đứng trong nội bộ Hoa Kỳ thì hiển nhiên là quyết định của tổng thống Nixon sẽ gây ra rất nhiều điều bất lợi vì rằng quyết định của ông chẳng những đã khiến những người trong đảng Cộng Hòa chia rẽ mà còn khơi lại những cuộc tranh luận sôi nổi đang trôi dần vào im lặng.

Sau khi Tổng Thống Nixon ra lệnh cho quân đội Hoa Kỳ tấn công thì ở Hoa Kỳ những “cuộc tranh luận sôi nổi” lại bùng ra khắp nơi trên đường phố, trong các khuôn viên đại học, trên báo chí cũng như trong quốc hội. Tin tức về diễn hành chống đối, biểu tình và tố cáo đầy nghẹt xen lẫn với những bài tường trình tình hình chiến sự. Tình trạng mâu thuẫn của những mục đả kích đã làm xôn xao dư luận Hoa Kỳ và khiến cho tình trạng chống đối càng ngày càng dữ dội. Ở Ohio, chánh phủ đã phái Vệ Quốc binh đến giữ trật tự trực diện với những người chống đối. Tại đại học Kent State, Vệ Quốc binh đã nổ súng vào một đám sinh viên. Bốn thanh niên bị thiệt mạng. Ngay ngày hôm sau, khắp toàn quốc đều sôi sục. Tôi điện cho ông Thiệu rằng: “Bầu không khí ở Hoa Thịnh Đốn đang nặng nề vì những cuộc tranh luận sôi nổi bên trong quốc hội, vì những dự định của các nhóm biểu tình, dự định của các nhóm sinh viên và dự định của các đoàn thể phản chiến. Tin tức loan báo suốt ngày về chiến tranh ở Cam Bốt và những cuộc biểu tình đang xảy ra ở Hoa Kỳ. Ở Hoa Kỳ có lẽ khó ai có thể tránh khỏi bị lôi cuốn vào bầu không khí sôi sục của dư luận lúc này.”

Vào thứ bảy ngày 9 tháng 5 năm 1969, 100,000 người chống đối tụ tập tại một công viên phía sau tòa Bạch Ốc; Cảnh sát dùng xe buýt để dàn thành một hàng rào nhằm ngăn chận những người biểu tình. Cảnh tượng trông chẳng khác nào chính tổng thống Nixon đang bị bao vây. Những nhân viên được tôi phái đi xem xét tình hình vô cùng ngạc nhiên khi thấy số người tham gia vào các cuộc biểu tình và sự phẫn nộ của những nhóm phản chiến khi họ biểu tình.

Đúng ngay vào lúc dư luận Hoa Kỳ đang xôn xao vì các cuộc biểu tình thì ông Ellsworth Bunker trở lại Hoa Thịnh Đốn để tham khảo ý kiến. Nhân dịp này ông Bunker, ông Sullivan và ông Phillip Habib cũng kể cho tôi nghe những trận giao tranh của quân đội Việt Nam và Hoa Kỳ ở Cam Bốt. Họ nói rõ thời gian tấn công mà họ tiên liệu và những mục đích quân sự của Hoa Kỳ. Tuy những tin tức này có vẻ lạc quan, tôi vẫn chẳng thể nào quên được những cuộc biểu tình tôi thấy khi nhìn qua khung cửa sổ của tòa đại sứ hoặc những cuộc biểu tình tôi theo dõi trên Ti Vi hàng đêm. Nhìn những cuộc biểu tình đang xảy ra ở khắp mọi nơi, tôi có cảm tưởng rằng tất cả những nỗ lực trấn an dư luận của Tổng thống Nixon như Tuyên Bố Rút Quân, Việt Nam Hóa Chiến Tranh, kêu gọi ” Đa số trầm lặng” dường như đều vô hiệu. Có lẽ khi áp dụng kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh, chính quyền Nixon đã vô tình kích thích sự thiếu kiên nhẫn của dân chúng Hoa Kỳ. Lúc này chánh phủ Hoa Kỳ đang ra công tìm một giải pháp khác. Dĩ nhiên, khi Tổng Thống Nixon và ông Kissinger cho lệnh quân đội Hoa Kỳ tấn công, thì trên phương diện quân sự họ đã chiếm được phần nào tiên cơ. Cuộc tấn công quả đã khiến Bắc Việt phải mất khoảng một năm để thiết lập lại căn cứ địa. Nhưng vì họ đã quyết định quá gấp rút và đã quyết định bất kể những chỉ trích của dư luận nên họ đã phạm phải một lỗi lầm quan trọng. Từ sau quyết định tấn công của họ trở đi, họ không còn được dân chúng Hoa Kỳ ủng hộ. Trong các bản tường trình hàng ngày gửi về Sài Gòn tôi đã trình bày tất cả các diễn biến ở Hoa Kỳ thật chi tiết và khi tình trạng sôi sục ở Hoa Thịnh Đốn vừa mới giảm xuống đôi phần thì tôi yêu cầu được về Sài Gòn để có thể đích thân tường trình mọi việc.

Tôi đến Sài Gòn vào ngày 1 tháng 7. Vừa về đến nơi tôi đã tổ chức ngay những buổi tường trình cho các ủy ban lập pháp, hành pháp và đến họp riêng với ông Thiệu rất nhiều lần. Trong những buổi họp đó, tôi lại bắt đầu đề cập những đề tài mà tôi đã đưa ra với ông Thiệu không biết bao nhiêu lần rồi. Tôi nhấn mạnh ảnh hưởng của các phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ và cố nêu rõ những ảnh hưởng của dư luận Hoa Kỳ. Tôi nói rằng chánh phủ Việt Nam cần cải cách và đưa ra cả những đề nghị thiết thực trên phương diện này. Tuy trong các buổi tường trình với chánh phủ Việt Nam và với ông Thiệu, tôi biết mình đã nhiều lần lập lại vấn đề, nhưng tôi vẫn chẳng thể làm gì khác hơn. Và lần này, tôi lại nhấn mạnh thêm một lần nữa rằng chánh quyền Việt Nam phải thấy rằng Việt Nam chưa thể đứng vững nếu không có sự viện trợ của Hoa Kỳ. Tôi nêu rõ vấn đề Hoa Kỳ có viện trợ cho Việt Nam hay không hoàn toàn tùy thuộc vào quốc hội Hoa Kỳ. Và đã hẳn là quốc hội Hoa Kỳ sẽ quyết định dựa vào ý kiến của dư luận Hoa Kỳ. Điều đáng lo là lúc này dư luận của Hoa Kỳ lại đang chỉ trích cuộc chiến Việt Nam. Tuy từ trước tới nay, tổng thống Nixon quả có thuyết phục được dư luận một phần, nhưng lần này ông đã bị dư luận chỉ trích dữ dội khi ông quyết định cho lệnh quân đội Hoa Kỳ tấn công Bắc Việt ở Cam Bốt. Từ nay về sau, Tổng Thống Nixon sẽ phải đương đầu với rất nhiều khó khăn mới có thể hy vọng lật ngược được thế cờ. Vì chính phủ Nixon đang gặp khó khăn như vậy nên tôi cho rằng Việt Nam cần phải cải cách chánh quyền, bài trừ nạn tham nhũng và thiếu khả năng trong chánh phủ để gây ấn tượng tốt với dư luận Hoa Kỳ. Tôi cho rằng Việt Nam cần thay đổi chẳng những chỉ xoa dịu bớt những chỉ trích của dư luận Hoa Kỳ mà còn để cải tiến chánh phủ. Những nạn hối lộ và chính trị bè cánh đã khiến cả chánh phủ lẫn quân đội của Việt Nam trở nên suy yếu. Nếu chánh phủ Việt Nam không tìm cách đưa những người có khả năng vào làm việc thì chẳng bao lâu nữa toàn thể guồng máy chính quyền sẽ lụn bại.

Trong những năm về trước, tôi đã nhiều lần thảo luận vấn đề Việt Nam cần phải xây dựng lại chánh phủ Việt Nam với đại sứ Bunker. Vì chúng tôi đã cùng thảo luận vấn đề này không biết bao nhiêu lần rồi nên quan niệm của cả hai chúng tôi gần giống hệt nhau. Đại sứ Bunker thường bảo tôi phải nói rõ vấn đề cần phải xây dựng lại chính phủ với ông Thiệu. Lần này, khi tôi đến gặp ông thì ông Bunker cũng nói rằng tôi nên tìm cách trực tiếp đặt vấn đề với ông Thiệu. Ông Bunker bảo tôi rằng: “Anh phải nói rõ cho ông Thiệu biết rằng ông ấy cần phải có những biện pháp để cải thiện tình hình trong nước và để gây ấn tượng tốt với dư luận Hoa Thịnh Đốn. Đây là điều kiện tiên quyết phải có để viện trợ có thể được tiếp tục.” Dĩ nhiên là tôi đồng ý với những ý kiến của đại sứ Bunker. Tôi chỉ không đồng quan điểm với ông Bunker về cách phải trình bày thế nào để cho một người đa nghi và ngoan cố như ông Thiệu thật sự hiểu rõ được tầm mức quan trọng của vấn đề?

Trước đây, khi dư luận Hoa Kỳ lên tiếng chỉ trích sự tham nhũng của chánh phủ Việt Nam, ông Bunker đã cho lệnh các nhân viên của ông ngấm ngầm điều tra những nhân viên của chánh phủ Việt Nam ở các quận. Qua những cuộc điều tra đó, ông đã thu thập được rất nhiều bằng cớ cụ thể về vấn đề tham nhũng của đa số các nhân viên Việt Nam. Ông lên án rằng tệ nạn tham nhũng đang đầy dẫy trong chính quyền ông Thiệu. Và vào lúc này, khi chúng tôi đang cùng nhau tìm cách để giải quyết vấn đề thì ông Bunker đã cho tôi xem hồ sơ của những nhân viên hối lộ. Đại sứ Bunker nói rằng chính ông đã nói chuyện với ông Thiệu về tệ nạn tham nhũng. Và giờ đây ông muốn chính tôi phải đưa những hồ sơ điều tra của ông cho ông Thiệu.

Đây là một trong những lần tôi thực sự nổi nóng với đại sứ Bunker. Tôi bảo ông rằng: “Ông Ellsworth à, tôi sẽ nói chuyện với ông Thiệu và trong các cuộc họp riêng với ông Thiệu trước đây tôi cũng đã nhiều lần đề cập vấn đề này. Nhưng nếu cần phải làm áp lực với ông Thiệu thì chính ông mới là nhân vật chính. Vì ông là đại sứ của Hoa Kỳ nên chỉ có ông mới có thể trực tiếp ảnh hưởng ông Thiệu.” Đại sứ Bunker vốn là người tế nhị. Lúc nào ông cũng trình bày vấn đề thật là nhẹ nhàng, kín đáo. Tôi có thể đoán trước được những phản ứng của ông khi ông đến gặp ông Thiệu. Cá tính tế nhị bẩm sinh của đại sứ Bunker đã khiến ông khó thể trực tiếp đề cập thẳng đến vấn đề chính một cách rõ ràng. Ngay cả khi ông bàn luận về vấn đề cải cách với ông Thiệu mà ông Bunker cũng vẫn cả nể và không nói hết những suy nghĩ của mình.

Phương pháp đặt vấn đề nhẹ nhàng của ông Bunker đối với ông Thiệu đã hơn một lần làm tôi khó nghĩ. Hơn ai hết, tôi biết rõ sự quan hệ gần gũi giữa ông Thiệu và ông Bunker. Tôi biết rằng trong tất cả các đại sứ Hoa Kỳ mà ông Thiệu đã từng giao thiệp thì ông Thiệu có thiện cảm với ông Bunker nhiều nhất. Trước đây, trong suốt thời gian ông Lodge làm đại sứ ở Việt Nam, ông Thiệu lúc nào cũng nghi ngờ ông Lodge và sau này, khi đại sứ Bunker về nước thì ông Thiệu lại chưa bao giờ có dịp tiếp xúc nhiều để biết rõ đại sứ Martin. Nhưng đối với ông Bunker thì sự liên hệ của ông Bunker đối với ông Thiệu lại khác hẳn. Trước đây, trong thời gian ông Thiệu vừa mới nhậm chức, ông Bunker đã tận tình giúp đỡ ông. Lúc đó, ông Thiệu vẫn chưa được nhiều người ủng hộ. Sự ủng hộ của ông Bunker đã làm gia tăng uy tín của ông Thiệu trong chánh phủ. Chính vì thế nên ông Thiệu rất biết ơn ông Bunker. Ông Bunker đã được ông Thiệu tin tưởng lại còn được quyền tự do ra vào dinh độc lập. Vì vậy tôi cho rằng ông Bunker có thể thuyết phục được ông Thiệu về vấn đề cần phải có cải cách. Tuy thế, cách can thiệp của ông Bunker lại quá lịch sự, quá nhẹ nhàng và vì thế lại không ảnh hưởng gì được ông Thiệu cả. Ít ra thì đây cũng là quan niệm riêng của tôi.

Riêng ông Thiệu thì dĩ nhiên chẳng bao giờ từ chối điều gì. Lúc nào ông Thiệu cũng đồng ý, thỏa thuận và hứa hẹn rồi sau đó đợi chờ xem mọi sự đưa đẩy đến đâu. Nếu cảm thấy Hoa Kỳ không làm áp lực mạnh mẽ, ông Thiệu sẽ dần dà bỏ mặc để cho vấn đề theo thời gian mà biến đi hoặc mất tính chất khẩn thiết vì nhiều vấn đề khác dồn đến khuất lấp mọi việc. Tính chần chừ bẩm sinh của ông Thiệu quả là một ngón đòn hữu hiệu đối với phương pháp nhẹ nhàng cả nể của đại sứ Bunker. Đã có lần tôi nghĩ đến lời của Bộ Trưởng Quốc Phòng Clark Clifford nói với tôi sau Tết Mậu Thân, lúc tôi đến chào ông để trở về Sài Gòn. Ông Clifford đã nói dằn từng chữ một: “Chúng tôi chán đến tận cổ rồi… Nhân dân Hoa Kỳ đã quá mệt mỏi và sự ủng hộ của chúng tôi chỉ có giới hạn mà thôi!” Đây là một câu nói thẳng không cần dùng những danh từ ngoại giao hoa mỹ. Lần đó, câu nói của ông Clifford đã khiến tôi cảm thấy vô cùng khó chịu. Tuy thế đây quả là một phương pháp hữu hiệu. Đã hơn một lần tôi mong mỏi đại sứ Bunker dùng phương pháp này với ông Thiệu.

Nhưng thực sự thì những vấn đề khó khăn không phải chỉ do cách làm việc của ông Bunker. Tuy lúc nào ông cũng nhẹ nhàng, đại sứ Bunker vẫn là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp lão thành có thừa khả năng để trình bày những chính sách của chánh phủ Hoa Kỳ. Vấn đề khó khăn thực sự là do từ trước đến nay các chánh sách của Hoa Kỳ chưa hề đặt nặng vấn đề phải bài trừ tham nhũng và xây dựng một chánh phủ dân chủ ở Việt Nam. Điều này đã rõ rệt kể từ trước cả khi ông Kissinger nắm quyền. Kể từ khi Hoa Kỳ can thiệp, các chính sách của Hoa Kỳ đã không chú trọng đến vấn đề phải cải thiện để xây dựng một chánh phủ dân chủ ở Việt Nam. Vì vậy những nỗ lực của Hoa Kỳ trong vấn đề này nếu có đi chăng nữa thì cũng chỉ là những nỗ lực của từng cá nhân. Vì thế, khi thấy rằng chính phủ Việt Nam cần phải cải tổ, đại sứ Bunker đã xoay sở bằng những phương pháp cá nhân. Ông đã cố đối phó với vấn đề cải thiện chính phủ Việt Nam một mình chẳng khác gì đại sứ Lodge lúc trước hay đại sứ Graham Martin vào lúc sau này.

Thật ra, nếu nói rằng Hoa Kỳ hoàn toàn bỏ qua vấn đề cải tổ thì cũng không đúng hẳn. Cả hai ông Rogers cùng Sullivan đều có để ý và thỉnh thoảng cũng có nêu lên vấn đề. Ông Kissinger cũng thế. Nhưng vấn đề chính lúc nào cũng nhằm vào những đề tài khác hẳn nếu không phải là đàm phán thì cũng là các sách lược quân sự hoặc ngoại giao với các đại cường quốc. Nói chung thì thái độ của các chánh phủ Hoa Kỳ đối với vấn đề nội bộ của chánh phủ Việt Nam gần giống hệt nhau. Vì họ thấy rằng tình trạng Việt Nam đã tạm ổn định hơn khi ông Thiệu lên nắm quyền nên khi cần phải dò dẫm hoặc làm áp lực mạnh với Việt Nam Hoa Kỳ lại đâm ra do dự. Thay vì chú tâm vào những vấn đề chính của chánh phủ Việt Nam thì họ lại chỉ chú trọng vào những sự an toàn hời hợt ngoài mặt. Có thể họ cho rằng vấn đề xây dựng dân chủ không cần thiết hoặc chẳng có mục đích gì thiết thực. Có lẽ vì họ phải bận tâm đeo đuổi những mục tiêu khác to lớn hơn nên chánh phủ Hoa Kỳ, nhất là chính quyền Nixon, chưa hề biết rõ rằng sự ổn định ngoài mặt của Việt Nam chẳng qua chỉ là một bức màn giả dối che đậy toàn thể những gì mong manh gần đổ vỡ phía dưới. Như thế, tầng lớp lãnh đạo cao nhất của Hoa Kỳ đã không nhìn rõ được thực trạng của đồng minh. Hơn nữa, khi đã tìm hiểu được rõ ràng về thực trạng của đồng minh thì họ lại bỏ qua, không hành động kịp thời. Trong suốt thời gian Hoa Kỳ can thiệp, họ vẫn chỉ nghĩ rằng ảnh hưởng của những vấn đề như vấn đề cải thiện để xây dựng một chính phủ dân chủ ở Việt Nam chỉ là một vấn đề thứ yếu. Phải đợi đến giai đoạn thử thách của họ và của Việt Nam vào năm 1975 họ mới nhận định được đúng tầm mức nguy hiểm của các chính sách can thiệp của họ trong suốt hai thập niên.

Vào ngày mùng 4 tháng 7 năm 1969, sau khi tôi trở về Sài Gòn được ba ngày thì Ngoại trưởng Rogers cùng đại sứ Sullivan cũng tới Sài Gòn để tiếp xúc với chính phủ Việt Nam. Đề tài chính của họ là đàm phán. Ông Rogers cho rằng đây là lúc Hoa Kỳ và Sài Gòn phải có sáng kiến và tìm cách mở lối cho Bắc Việt dễ dàng đàm phán. Lúc này, ông David K. E. Bruce được cử làm trưởng phái đoàn đàm phán Hoa Kỳ ở Ba Lê để thay thế cho ông Lodge (Ông Lodge đã từ chức từ tháng 10 trước đây và cho đến ngày đó vẫn chưa được thay thế.) Ông Bruce là một nhà Ngoại giao lão thành đứng tuổi và rất được kính trọng. Vì ông đã chấp nhận làm trưởng phái đoàn nên mọi người đều cho rằng có lẽ sẽ có nhiều điều mới lạ trong cuộc đàm phán.

Thật ra thì làm gì có điều gì mới lạ. Vào thời gian này những cuộc đàm phán bí mật giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt đã bắt đầu, tuy lúc đó tôi vẫn chưa biết gì cả. Trừ một vài người ra thì tất cả đều mù tịt về những cuộc đàm phán bí mật, kể cả Ngoại trưởng Rogers. Trên thực tế thì vào năm 1969 ông Kissinger đã nhiều lần gặp gỡ và ngấm ngầm đàm phán với các đại diện Bắc Việt. Trong những cuộc đàm phán bí mật đó, ông Kissinger hy vọng rằng ông sẽ tạo được những thành quả khác hơn những bế tắc của các cuộc đàm phán bốn bên đang diễn ra công khai ở Ba Lê. Nếu nhìn lại các kết quả đàm phán kể từ năm 1968, khi Bắc Việt hưởng ứng lời mời đàm phán của tổng thống Johnson cho tới tháng 7 năm 1969 thì cả hai bên vẫn chưa đạt được bất kỳ kết quả nào. Ngay cả đến đàm phán bí mật cũng lại chẳng khác gì đàm phán công khai, vẫn hoàn toàn bế tắc. Vào mùa hạ năm 1970, khi Hoa Kỳ tấn công vào Cam Bốt thì cuộc đàm phán lại bị đình trệ vì hai bên còn đang lượng định tình hình của các lực lượng quân sự sau cuộc tấn công. Đàm phán bí mật được dự trù tiếp tục vào tháng chín, vẫn bí mật với tất cả trừ những người trong cuộc. Dĩ nhiên ông Thiệu cũng biết việc đàm phán bí mật. Nhưng về sau ông thố lộ rằng ông không được thông báo tường tận chi tiết những trao đổi giữa Kissinger, Xuân Thủy và Lê Đức Thọ.

Riêng tôi thì vẫn không mảy may hay biết gì về các cuộc đàm phán bí mật. Vào ngày 30 tháng 7, tôi rời Sài Gòn về Hoa Thịnh Đốn, trên đường bay tôi ghé Ba Lê để gặp ông Kỳ, lúc này ông Kỳ đang theo dõi cuộc đàm phán chính thức ở Ba Lê. Trong thời gian này, vì không có việc gì quan trọng ở Sài Gòn nên ông Thiệu đã gửi ông Kỳ sang Ba Lê. Khi gửi ông Kỳ đi, có lẽ ông Thiệu cho rằng nếu ông Kỳ được rảnh tay thì nên để ông Kỳ rảnh tay ở Ba Lê hơn là ở Việt Nam. Mặt khác, nếu có chuyện gì không hay xảy ra ở Ba Lê thì ông Kỳ sẽ chịu lãnh hoàn toàn trách nhiệm. Cách vận động của ông Thiệu lúc này khó thể gọi là trung thực nhưng vì vô tâm nên ông Kỳ vẫn lên đường sang Ba Lê không chút đắn đo. Nhân dịp tôi ghé Ba Lê, trong một bữa ăn trưa với ông Philip Habib, tôi đã hỏi ông về tình trạng cuộc đàm phán. Có lẽ ông Habib cũng biết về những cuộc đàm phán bí mật, nhưng vì chưa tiện tiết lộ nên ông cũng không nói gì hơn với tôi là chưa có gì mới lạ cả.

Vào tháng 9 năm 1969, vì chẳng có biến cố nào đáng chú tâm trong các cuộc đàm phán ở Ba Lê và cũng chẳng có triệu chứng gì cho thấy sẽ có biến cố nào quan trọng sắp sửa xảy ra trong tương lai, ông Kỳ bắt đầu cảm thấy chán Ba Lê. Đằu tháng 9, ông Kỳ điện thoại nhờ tôi thu xếp cho ông sang thăm Hoa Kỳ vào đầu tháng 10. Ông nói rằng ông đã nhận được thư mời của tu sĩ Carl McIntire sang thăm Hoa Kỳ. Tu sĩ McIntire lúc này đang tổ chức một cuộc diễn hành gọi là “Diễn Hành Cho Chiến Thắng.” Ông Kỳ có ý muốn nhận lời mời.

Tôi chưa hề nghe đến tên McIntire bao giờ nhưng khi tìm hiểu tôi thấy rằng tu sĩ McIntire là một nhân vật cực đoan, đang lãnh đạo một tổ chức cực hữu. Gần như ngay sau đó, tôi bắt đầu được các nhân viên Hoa Kỳ cho ý kiến dồn dập. Trước hết là ý kiến của ông Kissinger, sau đó là lời khuyên của các ông Rogers, Sullivan và Green, cuối cùng là ý kiến của tất cả những người được nghe chuyện ông Kỳ. Tất cả đều cho rằng chuyện ông Kỳ sang Hoa Kỳ lúc này là chuyện không nên. Nếu ông Kỳ đến viếng thăm Hoa Kỳ dưới sự bảo trợ của tu sĩ McIntire thì phe phản chiến sẽ chống đối cực kỳ mãnh liệt. Mà cuộc viếng thăm của ông Kỳ cũng chẳng mang lại lợi ích gì thiết thực (Họ không nói thẳng điều này) cho cuộc bầu cử sắp tới của chánh phủ.

Tôi không hiểu tại sao ông Kỳ lại chấp thuận lời mời của tu sĩ McIntire. Chẳng những tôi đã biết chắc rằng ông Kỳ không hề biết gì về tu sĩ McIntire tôi còn biết rõ rằng Việt Nam không nên cộng tác với những đoàn thể cực hữu. Tôi viết cho ông Kỳ bằng những lời lẽ cẩn trọng nhưng thật cứng rắn, khuyên ông rằng đây “không phải là lúc” ông nên nhận lời.

Ông Kỳ trả lời bằng cách mời tôi đến Ba Lê để sửa soạn cho cuộc họp của ông với ông Kissinger và ông David Bruce vào cuối tháng 9. Tôi đến Ba Lê lòng nhủ thầm rằng việc này diễn ra tuy chẳng hợp ý ông Kỳ nhưng việc tôi đến Ba Lê thật sự đáng mừng hơn việc ông Kỳ sang Hoa Thịnh Đốn rất nhiều. Vào cuối tháng 7, tôi và ông Kỳ đến họp với ông Kissinger, ông Bruce, ông Habib và một phụ tá đắc lực của ông Kissinger là ông Dick Smyser. Cuộc họp diễn ra tại tư thất của ông Kỳ gần Bois de Boulogne và chẳng có mục đích gì thiết thực. Trong suốt buổi họp chúng tôi chỉ bàn luận những vấn đề tổng quát chẳng hạn như phái đoàn Việt Nam và Hoa Kỳ phải có sáng kiến nhằm mục đích đẩy mạnh cuộc đàm phán. Lúc này, tôi lấy làm lạ không hiểu vì sao tôi lại được triệu đến Ba Lê chỉ để họp bàn về những chuyện chung chung chẳng đâu vào đâu như vậy. Sau này, khi tôi khám phá ra rằng Kissinger đã bí mật hẹn với Xuân Thủy vào ngày hôm sau để bàn luận chi tiết những điều Hoa Kỳ đưa ra từ nhiều tháng trước thì mọi sự trở nên sáng tỏ. Tôi và ông Kỳ chỉ là một phần của bức màn che đậy. Ngay cả khi đã nhìn lại vấn đề mà tôi vẫn còn kinh ngạc vì thủ đoạn của ông Kissinger có thế khéo léo đến độ vừa vờ vĩnh nói chuyện không đâu với phó tổng thống Việt Nam lại vừa dùng cuộc nói chuyện này làm bức bình phong che đậy những cuộc đàm phán bí mật với Cộng Sản. Dĩ nhiên đây là kiệt tác độc đáo của một nhân vật đặc biệt, một thành tích diễn xuất mà người Pháp gọi là theatre de fantome. Tuy thế kế hoạch của ông Kissinger vẫn chưa được tính toán kỹ lưỡng tới mức toàn hảo. Vì rằng một khi đàm phán bí mật bị phơi bày trước dư luận thì ông Kissinger đã làm mất hết sự tin tưởng của cả đồng nghiệp lẫn đồng minh.

Chỉ có một điểm lạc quan trong cuộc họp ngày 26 tháng 9 là sau buổi họp ông Kỳ đã bỏ ý định đến Hoa Kỳ để tham dự buổi Diễn Hành cho Chiến Thắng. Tuy thế, câu chuyện cũng chưa hẳn kết thúc ngay. Ngày 27-9, khi tôi về đến Hoa Thịnh Đốn thì có điện thoại của ông Kỳ. Dĩ nhiên tự ái của ông Kỳ đã bị tổn thương phần nào. Chưa nói đến vấn đề ông không hề hay biết gì về việc đàm phán bí mật của ông Kissinger! Rồi vào ngày mùng 2 tháng 10, tôi nghe tin rằng tuy ông Kỳ không đến Mỹ, ông sẽ gửi bà Kỳ đi thay. Câu chuyện đẩy đưa đã phá tan sự kiên nhẫn của tôi. Trong cuộc nói chuyện trên điện thoại với ông Kỳ ngay sau đó tôi đã trả lời một cách dứt khoát rằng: “Không được! Không thể nào có thể như vậy được!” Ngay hôm sau báo chí loan báo rằng vì “Trục trặc kỹ thuật” bà Kỳ không thể đến dự buổi diễn hành.

Nếu vào tháng chín ở Hoa Thịnh Đốn và Ba Lê chẳng có biến chuyển gì mới lạ thì ở Sài Gòn việc lại hoàn toàn khác hẳn. Tháng chín là tháng bầu cử bán phần thượng nghị sĩ cho quốc hội Việt Nam. Bầu không khí Sài Gòn thật là nhộn nhịp vì những cuộc tranh cử của các ứng cử viên và các danh sách tranh cử. Một trong những vấn đề đáng chú ý nhất là sự xuất hiện của nhiều đoàn thể đã tạo nên nhiều khối phiếu khác nhau. Và những khối phiếu này lại ủng hộ những ứng cử viên hoàn toàn khác biệt. Một số ủng hộ tướng Trần Văn Đôn, người đảo chánh ông Diệm và sau đó ra khỏi quân đội để theo đuổi chính trị. Một số khác ủng hộ ông Võ Văn Mẫu, Ngoại Trưởng dưới thời ông Diệm; lại có cả một liên danh của các ứng cử viên Phật Giáo. Trong số ứng cử viên có rất nhiều người từ các nhóm đối lập, người ngoại cuộc có thể thấy những thành phần quốc gia trước kia hoạt động bí mật chẳng hạn như những người quốc gia trong các đảng Đại Việt, VNQĐD cũng đã bắt đầu bước vào hàng ngũ của những đoàn thể tranh cử công khai lúc này. Nói chung thì mọi người đều cho rằng đây là một cuộc bầu cử công bằng và có tính cách dân chủ.

Tuy báo chí Hoa Kỳ không hề đề cập gì nhiều về các cuộc bầu cử bán phần ở Việt Nam, những cuộc bầu cử này vẫn là những bước tiến đáng kể. Sau bầu cử năm 1969, Việt Nam đã tiến thêm được một bước trên con đường dân chủ như đã đề ra trong bản hiến pháp năm 1967. Những thay đổi chính trị trong chế độ Việt Nam được thể hiện rõ ràng qua những thành quả kể từ mùa xuân năm 1966. Vào năm 1966, cả ông Thiệu lẫn ông Kỳ đều là những người lãnh đạo quân sự, nắm quyền chẳng kể gì đến hiến pháp. Vào thời gian đó thì những người ủng hộ ông Thích Trí Quang và tướng Nguyễn Chánh Thi không hề ngần ngại nếu họ thấy phải cần dùng đến vũ khí để chống đối chánh quyền. Thế mà giờ đây, dù gì đi nữa thì ông Thiệu cũng là một vị tổng thống hợp hiến. Hơn nữa, dưới chánh quyền ông, những người đối lập chẳng hạn như những người trong đoàn thể Phật Giáo đang được quyền tranh cử. Nếu đây không phải là dân chủ nhìn theo đôi mắt của Hoa Thịnh Đốn thì ít ra đây cũng là một bước tiến đáng kể so với tình trạng trước đây. Khi đem so sánh chính phủ Việt Nam và chánh phủ Bắc Việt -Một chánh phủ mà nhiều người phản chiến, thiên tả và nhiều Thượng Nghị Sĩ “chuộng hòa bình” khác trong quốc hội Hoa Kỳ vẫn cho là tốt đẹp hơn- thì chẳng ai có thể lầm lẫn được những điểm khác biệt trong chế độ dân chủ của Miền Nam Việt Nam với một chế độ áp bức và giáo điều như chế độ Cộng Sản của Bắc Việt.

Vào ngày mùng 7 tháng 10, tổng thống Nixon lại lên đài truyền hình để thuyết phục dân chúng Hoa Kỳ ủng hộ ông. Nếu trước đây ông đã khiến dư luận phải phẫn khích khi quyết định cho lệnh quân đội Hoa Kỳ tấn công ở Cam Bốt thì giờ đây ông có vẻ ôn hòa hơn. Ông đưa ra một đề nghị hòa bình bao gồm cả vấn đề ngưng bắn trên toàn cõi Đông Dương, vấn đề đem lại hòa bình cho tất cả mọi khu vực, vấn đề đơn phương rút quân của Hoa Kỳ và một kế hoạch ổn định tình hình chính trị ở Việt Nam phản ảnh đúng “hiện trạng của các lực lượng chính trị ở Việt Nam.”

Điều khoản cuối cùng làm tôi lo lắng vì rằng lời tuyên bố hình như muốn ám chỉ việc Hoa Kỳ có thể sẽ chiều theo dư luận để ép buộc chính phủ Việt Nam phải chấp nhận những điều bất lợi. Nhưng tầm quan trọng thực sự của vấn đề là việc Hoa Kỳ đã công khai nêu lên nguyên tắc tự mình đơn phương rút quân. Họ đã kín đáo từ bỏ những đòi hỏi yêu cầu nếu Hoa Kỳ rút quân thì Bắc Việt cũng phải rút quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Đây là một thay đổi quan trọng của chánh sách Hoa Kỳ cho thấy chính sách đánh và đàm của Bắc Việt đã mang lại ít nhiều kết quả hữu hiệu trong việc bắt buộc Hoa Kỳ phải nhượng bộ. Trước đây Hoa Kỳ đã đòi hỏi Bắc Việt phải rút quân sáu tháng trước khi Hoa Kỳ bắt đầu rút quân. Một thời gian sau đó, thì Hoa Kỳ nhượng bộ và chỉ đòi hỏi Bắc Việt phải rút quân cùng lúc với quân đội Hoa Kỳ và vào lúc này thì Hoa Kỳ tự động rút quân đơn phương mà chẳng cần đòi hỏi điều kiện gì từ Bắc Việt cả.

Một thời gian ngắn sau khi tổng thống Nixon nói chuyện trên đài truyền hình thì tôi lại nhận được điện thoại của ông Kỳ cho biết ông sẽ sang Hoa Kỳ vào ngày 15 tháng 10. Lần này chuyến đi của ông Kỳ không còn dính dáng gì đến ông McIntire. Cuộc bầu cử bán phần ở Hoa Kỳ cũng vừa chấm dứt. Đây là một thời gian an toàn hơn lúc trước. Tôi lập tức đến Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ để chuẩn bị cho chuyến đi của ông Kỳ. Chẳng bao lâu sau một chương trình nghị sự chi tiết đã được soạn thảo. Chương trình viếng thăm của ông Kỳ bao gồm các cuộc họp với tổng thống Nixon và ông Kissinger, những cuộc gặp gỡ với Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Gia và một cuộc gặp gỡ khác với Ủy Ban Ngoại Giao của Thượng Viện. Những chuyện đáng nhớ nhất của lúc đó bao gồm cả chuyến thăm viếng nông trại của cựu Tổng Thống Johnson, bữa tiệc tiếp tân của Phó Tổng Thống Spiro Agnew tổ chức và buổi gặp gỡ với Thống Đốc Tiểu Bang California lúc bấy giờ là ông Ronald Reagan.

Vào ngày 24, Tổng Thống Nixon mời chúng tôi họp cuộc họp đầu tiên trong một bữa điểm tâm cùng với các ông Kissinger, Sullivan và Holridge. Phần nhiều thời giờ của buổi họp đó được dành vào việc duyệt lại tình hình. Ông Kỳ đưa ra những vấn đề khó khăn kinh tế nếu Hoa Kỳ rút quân. Đặc biệt là những khó khăn của các quân nhân và các công chức. Ông Kỳ cũng bàn luận tổng quát về những khó khăn trong tương lai.

Riêng về vấn đề chính trị thì ông Kỳ có nói rằng chính ông và ông Thiệu đã bàn luận vấn đề sửa đổi hiến pháp để thay đổi guồng máy chính quyền Sài Gòn. Khi ông Kỳ bắt đầu đưa vấn đề này ra thì Tổng Thống Nixon ngồi thẳng người dậy (cả tôi cũng thế) và tỏ vẻ vô cùng chú tâm. Ông hỏi thêm ông Kỳ về những cuộc bầu cử vào tháng 9 sắp tới: “Thế còn việc bầu cử năm 71 thì sao?” Tuy Tổng Thống Nixon tỏ ý hoan nghênh tất cả những hoạt động dân chủ của Việt Nam, ông cũng khuyên Việt Nam không nên có hành động nào phương hại đến sự ổn định của chánh phủ. Ông nói rằng nếu nhìn bằng con mắt của một người làm chính trị, ông đã thấy rõ ràng trong cuộc bầu cử năm 1971 ở Việt Nam sẽ có nhiều ứng cử viên khác biệt ra tranh cử. Tuy thế ông vẫn hy vọng là những cuộc bầu cử sắp tới sẽ không làm Việt Nam xáo trộn và mất ổn định. Rồi quay sang phía tôi, tổng thống Nixon nói tiếp: “Ông đại sứ Diễm đây cũng đồng ý rằng nếu chúng ta làm bất cứ việc gì khiến Việt Nam trở nên mất ổn định thì vấn đề viện trợ cho Việt Nam quả không thể nào thực hiện được.” Ông Kỳ đã hiểu rõ những sự cảnh cáo ngấm ngầm trong câu nói của Tổng Thống Nixon và đáp lời rằng: Chắc chắn cuộc bầu cử sẽ diễn ra vô cùng êm đẹp. Nếu cần ông Kỳ có thể bỏ hết quyền lợi cá nhân để bảo đảm cuộc bầu cử được thành công.

Tổng Thống Nixon vừa dứt lời thì giờ điểm tâm cũng chấm dứt. Sau khi mọi người chia tay, ông Kissinger mời tôi và ông Kỳ cùng đến văn phòng của ông để tiếp tục thảo luận. Cũng như Tổng Thống Nixon, ông Kissinger hết sức quan tâm đến vấn đề chánh phủ Việt Nam có thể có những quyết định táo bạo trên phương diện chính trị. Ông Kissinger khuyên rằng những quyết định táo bạo của Việt Nam có thể sẽ làm chậm đi cuộc bầu cử và ” làm suy nhược cơ cấu luật pháp căn bản của Việt Nam.” Có lẽ ông Kỳ không khỏi buồn cười khi những lời phát biểu tùy hứng của ông lại làm cho những người lãnh đạo Hoa Kỳ lo âu đến thế, ông Kỳ nói thêm rằng: “Nói cho cùng thì đây cũng chỉ mới là một ý định thế thôi chứ thực sự ông Thiệu và tôi cũng chưa hề cùng nhau thỏa thuận điều gì.” Khi đã bình tĩnh hơn, ông Kissinger tỏ vẻ hài lòng và nói rằng tuy chánh phủ Việt Nam nên có giải pháp mới để cải thiện, giới lãnh đạo Việt Nam cũng nên tìm cách để giữ cho Việt Nam hoạt động ở một mức tương đối ổn định. Ông đề nghị rằng chánh phủ Việt Nam nên tránh tất cả những hành động có thể đưa Việt Nam vào tình trạng xáo trộn và bất ổn.

Thực sự thì cuộc họp với tổng thống Nixon và ông Kissinger chẳng hề đưa lại kết quả gì đáng kể. Chính tôi cũng chẳng mong mỏi bất kỳ kết quả nào. Tuy thế phản ứng của Tổng Thống Nixon và ông Kissinger đối với câu phát biểu vô tình của ông Kỳ đã khiến tôi chú tâm về thái độ e ngại của Hoa Kỳ khi chánh phủ Việt Nam muốn có những sáng kiến thay vì để mặc Hoa Kỳ dìu dắt. Cả tổng thống Nixon lẫn ông Kissinger đều muốn tình trạng Việt Nam hoàn toàn ổn định (Danh từ ổn định đã nhiều lần được đưa ra) trong khi họ nỗ lực kéo Hoa Kỳ ra khỏi vũng lầy Đông Dương.

Sau ngày họp, ông Kỳ và tôi bay xuống Texas để thăm viếng tổng thống Johnson ở nông trại riêng của ông gần chỗ bờ sông Pedernales. Cả ông Walt Rostow và ông Bill Jorden cũng đến tham dự làm cho khung cảnh có vẻ như một buổi họp của những người bạn cũ. Cựu tổng thống Johnson lúc nào cũng ân cần nhưng vì không còn ở cương vị của một vị Tổng Thống, nên ông có vẻ trầm tĩnh hơn trước. Ông chở chúng tôi đi xem cảnh chung quanh nông trại và nói rằng ông vẫn thường xuyên theo dõi tin tức chiến cuộc Việt Nam. Ông hỏi ông Kỳ: Liệu những cuộc tấn công vào mùa khô của Việt Cộng năm nay sẽ tác hại ra sao.

Có lẽ đây là câu hỏi chiếm lĩnh đầu óc tất cả mọi người. Ngay ngay hôm qua, ông Kissinger cũng đã hỏi một câu hỏi in hệt. Chẳng phải cuộc tấn công của Bắc Việt trong mùa khô năm nay có gì khác biệt, nhưng vì Hoa Kỳ đã rút đi 200,000 quân và những binh lính trấn đóng ở Việt Nam càng ngày càng lâm vào thế thủ. Năm 1971 là năm thử thách của kế hoạch Việt Hóa Chiến Tranh. Câu hỏi chính không phải là kẻ thù sẽ hành động ra sao mà là: Quân Đội Việt Nam sẽ ứng phó thế nào.

Hoa Kỳ đã bắt đầu rút quân và giờ phút thử thách của Việt Nam càng ngày càng gần. Trong những tháng tới, những yếu tố chính góp phần định đoạt tương lai Việt Nam bao gồm những vấn đề chẳng hạn như sự ủng hộ của Hoa Kỳ sẽ ở tầm mức nào? Quốc Hội Hoa Kỳ sẽ có thái độ ra sao? Sức mạnh của quân đội Việt Nam thực sự ra sao và Hoa Kỳ dự định đối phó thế nào với cuộc chiến ở Việt Nam.

Sau chuyến viếng thăm cựu Tổng Thống Johnson thì những ngày thăm viếng còn lại của ông Kỳ đi vút qua thật nhanh và đầu óc mọi người lại bị những yếu tố khác quan trọng hơn ảm ảnh. Tối đó bữa tiệc phó tổng thống Agnew tổ chức diễn ra hoàn toàn tốt đẹp. Ngoại trừ một câu hỏi bất ngờ của ông Agnew “Chúng ta phải làm thế nào để xâm nhập lãnh thổ của Bắc Việt?” Câu hỏi khiến tôi đâm lo về việc liệu đề tài này sẽ dẫn hai vị phó tổng thống đến đâu. Cả hai ông đều nổi tiếng về việc thiếu thận trọng. May thay, ông Kỳ cũng ngạc nhiên như tôi và đã yên lặng để câu hỏi của phó tổng thống Agnew trôi qua.

Sau khi dự tiệc, ông Kỳ đến họp với Ủy Ban Ngoại Giao của Thượng Viện. Lúc này cuộc họp với Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện có thể là một cuộc tranh luận khó khăn. Nhưng có lẽ vì nể mặt thượng nghị sĩ George Aiken là người tổ chức cuộc họp nên tuy đa số những nghị sĩ phản chiến như ông Church, ông Cooper, ông Mansfield, ông Fullbright, ông Kennedy đều có đến tham dự mà buổi họp vẫn không xảy ra chuyện gì đáng tiếc. Ông Kỳ đã tỏ ra khéo léo về vấn đề ngoại giao hơn bao giờ và các thượng nghị sĩ hiển nhiên cũng không muốn đi xa quá trong việc tranh luận với ông Kỳ.

Khi đưa ông Kỳ qua bờ biển mé Tây trong chặng đường đầu trở lại Việt Nam, tôi cảm thấy vô cùng thơ thới. Chuyến thăm viếng của ông Kỳ thành công thật là mỹ mãn. Khi nhìn máy bay cất cánh và nhìn ánh đèn Hoa Thịnh Đốn mờ dần, tôi như người vừa trút được gánh nặng khỏi vai. Mười bảy năm sau, khi nhìn lại vấn đề tôi không khỏi lấy làm kỳ vì những nỗi sợ hãi của một diễn biến chẳng có gì khác hơn là một cuộc thăm viếng của một nguyên thủ quốc gia đối với một đồng minh khác. Tuy thế đây quả là một trong những lúc cực kỳ khó khăn. Một mặt thì bầu không khí ở Hoa Thịnh Đốn lúc đó đang căng thẳng. Mặt khác thì ông Kỳ lại là một người có hành động thất thường và tình thế lúc này đã khiến chúng tôi coi chuyến viếng thăm là một thành tích đáng kể, không làm gì tổn thất đến những mục tiêu cùng nỗ lực của cả hai chánh phủ. 

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"