Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

30 – Trì Hoãn 


Chương 30
Trì Hoãn

Vào ngày 14 tháng 5-1969, đúng một tuần lễ sau khi Tổng Thống Nixon nói chuyện với dân chúng Hoa Kỳ trên đài truyền hình thì tôi nhận được chỉ thị của ông Thiệu nhắc tôi liên lạc với Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ để chuẩn bị cho cuộc họp thượng đỉnh sắp tới của Việt Nam và Hoa Kỳ. Địa điểm họp lần này là ở đảo Midway, một hòn hoang đảo nằm giữa Thái Bình Dương.

Khi tin tức về cuộc họp thượng đỉnh được công bố thì chính quyền Nixon đã nhậm chức được năm tháng và tuần trăng mật của vị tân Tổng Thống Hoa Kỳ với dân chúng đã trôi qua. Lúc này đúng là một thời điểm vừa vặn để Tổng Thống Nixon chánh thức tuyên bố chính sách mới của Hoa Kỳ về vấn đề rút quân. Hơn nữa, cuộc họp thượng đỉnh lần này có lẽ cũng là để chính quyền Nixon có dịp làm tròn những điều họ đã nói với chính quyền Việt Nam khi trước. Trước đây, khi Tổng Thống Nixon còn chưa đắc cử, bà Anna Chennault có nói với tôi rằng nếu đắc cử, ông Nixon sẽ đi thăm Việt Nam hoặc sẽ gửi một phái đoàn đi thay. Khi Tổng Thống Nixon đắc cử, ông Thiệu có gửi một bức điện văn rất dài sang Hoa Kỳ để chúc mừng. Lúc đó, có lẽ vì muốn tránh tiếng đồn là Việt Nam đã can thiệp vào cuộc bầu cử của Hoa Kỳ nên thay vì gửi điện văn thẳng đến ông Nixon, ông Thiệu lại gửi điện văn chúc mừng đến Bộ Ngoại Giao. Sau bức điện văn chúc mừng, ông Thiệu cũng đã nhiều lần nhắn tin một cách kín đáo về vấn đề gặp gỡ của cả hai chính phủ, nhưng cho tới tận tháng 5, những bức điện văn của ông Thiệu vẫn chưa được hồi âm.

Cuộc họp thượng đỉnh lần này chính là một cuộc họp để chính quyền Nixon có thể trình bày những chính sách mà Hoa Kỳ đã soạn thảo trong 5 tháng vừa qua. Ở thời điểm này thì dù có không hài lòng với các chính sách của Hoa Kỳ, có lẽ ông Thiệu cũng phải chấp nhận những chính sách Hoa Kỳ sắp đưa ra. Hơn nữa, chính ông Thiệu lại là người yêu cầu cuộc họp.

Vì cuộc họp được dự định vào ngày mùng 8 tháng 7 nên tôi cũng còn một khoảng thời gian khá dài. Vào cuối tháng 5, để sửa soạn cho cuộc họp thượng đỉnh đã rất nhiều lần tôi đến gặp ông Kissinger và ông Marshall Green, (Người thay thế ông Bill Bundy) Phụ Tá Ngoại Trưởng Đặc Trách Đông Nam Á và Thái Bình Dương Sự Vụ. Lúc này, vấn đề khó khăn chính của các cuộc họp giữa tôi và các nhân viên trong chính quyền Nixon là việc Hoa Kỳ không đồng ý rằng hai chính phủ cần phải có một bản thông cáo chung cho buổi họp. Tôi đã thấy rõ rằng Hoa Kỳ đến Midway chỉ nhằm một mục đích duy nhất: Thúc đẩy ông Thiệu chấp thuận việc Hoa Kỳ rút quân. Ngoài việc này ra họ cố gắng giảm thiểu tầm mức quan trọng của cuộc họp. Cuộc họp sẽ rất ngắn (chỉ khoảng 5 tiếng đồng hồ) và địa điểm họp là một nơi hẻo lánh, xa xăm. Tất cả cuộc họp chỉ nhằm một mục đích duy nhất là chính thức hóa sự đồng ý của Việt Nam về vấn đề Hoa Kỳ rút quân. Do đó, nếu nhìn cuộc họp theo quan niệm của Hoa Kỳ thì bản thông cáo chung quả đã chẳng có lợi ích gì cho Hoa Kỳ mà lại còn để cho Việt Nam có cơ hội đòi hỏi và yêu cầu về những vấn đề khác.

Dĩ nhiên, nếu đứng trên quan điểm của Hoa Kỳ thì việc ông Kissinger và ông Green không đồng ý về vấn đề phải có một bản thông cáo chung hoàn toàn có lý, nhưng nếu nhìn vấn đề bằng quan điểm của chúng tôi thì đây lại là một vấn đề thật cần thiết vì nhiều lý do. Lý do quan trọng thứ nhất là việc chúng tôi muốn hiểu rõ kế hoạch của chính quyền Nixon. Nếu rút quân là việc chẳng đặng đừng, chúng tôi vẫn muốn Hoa Kỳ rút quân theo một đường lối có lợi cho Việt Nam. Lý do thứ hai là việc rút quân sẽ phải đi song song với một kế hoạch để tăng cường khả năng của quân đội Việt Nam. Hơn nữa, chúng tôi muốn biết rõ Hoa Kỳ và Bắc Việt thật sự đàm phán ra sao. Và chúng tôi cũng muốn Hoa Kỳ tuyên bố họ không chấp nhận giải pháp của một chánh phủ liên hiệp bao gồm tất cả mọi thành phần kể cả Cộng Sản. Chúng tôi muốn Hoa Kỳ chánh thức công bố rõ các chính sách của họ trước khi chúng tôi gửi phái đoàn sang Ba Lê.

Đối với chúng tôi thì tất cả những yêu cầu vửa kể đều quan trọng. Vấn đề quan trọng thứ nhất chính là vì giá trị căn bản của những điều chúng tôi yêu cầu. Vấn đề quan trọng thứ hai là chúng tôi dự định dùng những điều chúng tôi yêu cầu để trấn an dư luận. Lúc này những lời đồn đãi hoàn toàn sai lạc về vấn đề Hoa Kỳ rút quân đã khiến dân chúng Việt Nam hoang mang và mất tinh thần. Khi nói chuyện cùng các nhân viên Hoa Kỳ, chúng tôi nêu rõ hai điều kể trên để thuyết phục những nhân viên Hoa Kỳ. Chúng tôi đã bàn luận dằng co khá lâu với hai ông Kissinger và Green, và rồi dần dà thuyết phục được họ chấp thuận bản thông cáo chung. Trong bản thông cáo chung đưa ra, Hoa Kỳ tuyên bố bác bỏ giải pháp thành lập một chính phủ liên hiệp, chấp thuận kế hoạch “thay thế một số đơn vị Hoa Kỳ bằng những lực lượng Việt Nam,” và nhấn mạnh rằng chương trình rút quân sẽ được thi hành “song song từng bước tùy thuộc vào tình trạng an toàn của Việt Nam tại mỗi thời điểm.”

Tuy rằng Việt Nam đã đồng ý chấp thuận bản thông cáo chung mà Hoa Kỳ vẫn lo rằng họ sẽ gặp khó khăn khi phải đối phó với vấn đề rút quân. Về mặt chiến lược thì rút quân là một phần của kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh (Vào lúc này chính phủ Nixon đang tìm cách để áp dụng một kế hoạch Lưỡng Đầu bao gồm hai phần quan trọng: Phần thứ nhất là Việt Nam Hóa Chiến Tranh và phần thứ hai là Kế Hoạch Đàm Phán.) Hơn nữa, Rút Quân cũng chính là kế trì hoãn mà chánh quyền Nixon dùng để đối phó với những phong trào phản chiến trong nước. Vì Hoa Kỳ đã đặt rất nhiều hy vọng vào kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh nên họ muốn chánh phủ Việt Nam thỏa thuận ngay để cho mọi việc được trôi chảy như dự liệu.

Sở dĩ Hoa Kỳ lo lắng vào lúc này là vì trước kia họ đã gián tiếp vận động và ép buộc Việt Nam phải chấp thuận vấn đề rút quân. Từ đó trở đi, Rút Quân đã trở thành một đề tài quen thuộc của dư luận và báo chí. Và rồi tất cả mọi người đều yên trí rằng Hoa Kỳ thế nào cũng rút quân. Những diễn biến phức tạp của vấn đề rút quân vì thế đã khiến những người trong cuộc có cảm giác là họ đang phải trực diện với một sự đã rồi. Thật ra thì kế hoạch rút quân chưa bao giờ được đệ trình lên cho chánh quyền Việt Nam thỏa thuận hoặc chống đối một cách chính thức. Do đó, cả Tổng Thống Nixon lẫn ông Kissinger đều không đoán trước được phản ứng của ông Thiệu ở cuộc họp ở Midway. Như ông Kissinger đã viết trong hồi ký: Chúng tôi sợ rằng “vấn đề rút quân sẽ khiến việc trở nên khó xử.”

Tuy thế trong cuộc họp thượng đỉnh ở Midway ông Thiệu đã cố nhìn vào những khía cạnh tốt đẹp của buổi họp. Ông đã đưa ra cả đề nghị về việc “tái phối trí” các lực lượng Hoa Kỳ và cũng đồng ý chấp thuận đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt với điều kiện là ông phải được thông báo tường tận về các diễn biến.

Tuy ngoài mặt ông Thiệu cố tránh việc phải trực diện đối đầu với Hoa Kỳ, nhưng trong thâm tâm ông vẫn lấy làm bất mãn. Có lẽ ông Thiệu bất mãn nhất là việc ông bị buộc phải gặp Tổng Thống Nixon ở một nơi heo hút và chẳng có gì ngoài những bầy chim hải âu như ở hòn hoang đảo Midway. Tất cả chúng tôi có lẽ cùng đều bất mãn như ông. Nhìn vào cách tiếp tân cùa Hoa Kỳ, chúng tôi đã nhận thấy sự liên hệ của chúng tôi với Hoa Kỳ thật khác hẳn sự liên hệ của Bắc Việt với Sô Viết. Tuy chúng tôi biết rõ là sau lưng Bắc Việt, người Nga vẫn nói họ là những “kẻ cứng đầu quá lố,” nhưng ít ra là trước công chúng, chánh phủ Nga vẫn linh đình trải thảm đón tiếp chánh phủ Hà Nội trong các cuộc tiếp tân. Ngược lại, đối với chúng tôi thì người đồng minh cùng chia xẻ một mục đích chung với chúng tôi lại coi chúng tôi như một thứ cùi hủi cần phải tránh xa. Vì hoàn cảnh bắt buộc, chúng tôi đã phải muối mặt chịu đựng nhưng chúng tôi không thể quên nổi cách tiếp tân rẻ rúng này. Việt Nam, trong suốt bốn ngàn năm lịch sử, dù là cộng sản hay không cộng sản cũng đã nổi tiếng về việc kém chịu đựng những sự nhục nhã. Cách tiếp tân của Hoa Kỳ lúc này đã tạo ra những vết thương khó quên. Dĩ nhiên ông Thiệu không bao giờ quên và nếu về sau này ông Kissinger đã phải phẫn nộ vì cung cách đối xử của ông Thiệu khi hai chánh phủ cùng gặp gỡ trong những buổi họp năm 1972, có lẽ ông cũng nên hiểu rõ vì đâu mà Việt Nam lại đối xử với ông như vậy.

Với những tổn thương tự ái sau cuộc họp, chúng tôi rời Midway vào lúc 5 giờ chiều (Phái đoàn Việt Nam đến đảo vào lúc 10 giờ sáng) ghé Đài Loan để nghỉ qua đêm rồi về thẳng Sài Gòn. Trên chuyến bay tôi cùng ông Thiệu sửa soạn cho cuộc họp sắp tới của ông Thiệu và giới báo chí. Mục đích chính của chúng tôi là trấn an dư luận. Chúng tôi tường trình về buổi họp Midway và nhấn mạnh đến những khía cạnh tốt đẹp của buổi họp thượng đỉnh này: Hoa Kỳ đã khẳng định rõ rệt rằng họ sẽ không chấp nhận giải pháp chánh phủ liên hiệp. Chúng tôi khẳng định rằng ngay cả việc Hoa Kỳ rút quân cũng có rất nhiều lợi điểm. Chúng tôi chẳng những đã chấp nhận mà còn hoan nghênh đề nghị rút quân, vì nếu Hoa Kỳ có thể rút quân thì việc đó có nghĩa rằng Việt Nam đã có thể hoàn toàn dựa trên sức mạnh của chính mình. Chúng tôi cũng nêu rõ rằng Việt Nam càng ít phụ thuộc vào Hoa Kỳ thì tình thế lại càng khả quan.

Sau cuộc họp báo, tôi trở về Việt Nam và ở Sài Gòn ngót hai tuần để thuyết trình về kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh. Khi các tổ chức của chánh phủ đã thấu triệt quan niệm Việt Nam Hóa Chiến Tranh, tôi lên đường trở lại Hoa Thịnh Đốn. Vừa đến Hoa Thịnh Đốn tôi đã bắt đầu dò dẫm ý kiến của Hoa Kỳ bằng cách đưa ra ý kiến rút quân của ông Thiệu. Ông Thiệu gọi kế hoạch này là “Chiến Tranh Trường Kỳ/Tổn Hại Thấp” (“Long haul/Low cost”). Nói chung thì ý kiến của ông Thiệu là: Dù Hoa Kỳ quan niệm thế nào đi nữa thì đối với Việt Nam cuộc chiến vẫn là một cuộc chiến tranh trường kỳ. Vì thế ông Thiệu đề nghị tìm cách giảm thiểu tối đa tất cả những tổn thất về sinh mạng cũng như về tài vật của Hoa Kỳ.

Vào ngày 24 tháng 7, tôi đến gặp Ngoại Trưởng Rogers ở Bộ Ngoại Giao để duyệt lại tình hình chung và cũng để đưa ra ít nhiều ý kiến về quan niệm của Việt Nam đối với vấn đề chiến tranh. Phản ứng của ông Rogers không khỏi làm tôi chú tâm. Ông Rogers cho rằng ý kiến của ông Thiệu quả là một ý kiến đáng bàn luận nhưng ông cũng nói thêm rằng giảm thiểu tổn thất của Hoa Kỳ ở Việt Nam vẫn không phải là phương sách toàn hảo để bảo đảm sự viện trợ của Hoa Kỳ. Theo ông thì khuyết điểm của kế hoạch “Chiến Tranh Trường Kỳ/Tổn Hại Thấp,” nằm ở chỗ không ai có thể biết trước được là Hoa Kỳ nên giảm thiểu nhân mạng và tài vật đến tầm mức nào mới có thể khiến dân chúng Hoa Kỳ chấp thuận ủng hộ Việt Nam. Vì thế, để kêu gọi sự hỗ trợ của dân chúng Hoa Kỳ, Việt Nam cần phải gây dựng một chánh phủ đoàn kết có sự tham gia đông đảo của mọi khuynh hướng chính trị ở Việt Nam. Ông Rogers còn nói thêm rằng: “Hoa Kỳ không muốn gây trở ngại, không muốn áp bức bắt Việt Nam phải hợp tác với những phần tử chống đối. Nhưng các ông phải cố tìm cách để chứng tỏ với thế giới rằng chánh phủ của các ông không phải là một chánh phủ độc tài, không phải là một chánh phủ của riêng một đoàn thể nào … Ông có rõ điều tôi muốn nói hay không?” (Chữ nghiêng là của tác giả)

Trong một cuộc họp khác ngay sau đó thì ông William Sullivan, Trưởng ban đặc trách về vấn đề Việt Nam lại đề cập vấn đề mà Ngoại Trưởng Rogers đã đưa ra ngày hôm trước. Ông nói rằng Ngoại Trưởng Rogers đã cho lệnh ông duyệt lại tất cả những điểm mà hai chánh phủ Hoa Kỳ và Việt Nam đã đưa ra từ trước đến nay và tổng kết những điểm đó để có thể đưa ra một kế hoạch chung cho cả hai chánh phủ. Ông Sullivan đề cập cả cuộc họp của ông Rogers vào tháng 3 lẫn cuộc họp riêng của Tổng Thống Nixon và ông Thiệu ở Midway. Cuối cùng ông kết luận rằng: Nếu nhìn lại tất cả những điểm mà hai chánh phủ đã đưa ra thì có lẽ cả hai chính phủ đều cùng đồng ý rằng Việt Nam nên tìm cách để tổ chức một cuộc Tổng Tuyển Cử trong tương lai. Trong cuộc Tổng Tuyển Cử đó, tất cả các đoàn thể đều có quyền ứng cử trừ Mặt Trận Giải Phóng. Ông Sullivan cho rằng giải pháp Tổng Tuyển Cử có thể là một giải pháp thích ứng để giải quyết những khó khăn trong đời sống chính trị tương lai của Việt Nam.

Tôi nói với ông Sullivan rằng Việt Nam khó thể tổ chức một cuộc bầu cử như vậy nếu Bắc Việt chưa rút quân. Với tình thế đang bị đe dọa như lúc này, Việt Nam chắc chắn không thể buông lơi để tổ chức một cuộc bầu cử như ông Sullivan vừa đề cập. Hơn nữa, Việt Nam không thể nào tổ chức bầu cử ở các miền cộng quân đang chiếm đóng. Nghe tôi trình bày vấn đề xong, ông Sullivan hỏi ngược lại tôi rằng ông Thiệu có kế hoạch gì khác không? Tôi trả lời có lẽ chúng tôi sẽ chấp thuận tổ chức bầu cử nếu Bắc Việt chịu rút quân. Sau cùng, có lẽ vừa để ám chỉ tình trạng bế tắc của các cuộc đàm phán và vừa để bày tỏ sự sốt ruột của Hoa Kỳ, ông Sullivan nói rằng ông Henry Cabot Lodge đang ở Ba Lê để chờ đợi thêm những ý kiến mới. Nếu có thêm ý kiến mới thì ông Lodge có thể khuyến khích Bắc Việt đàm phán hữu hiệu hơn.

Cứ theo tình hình các cuộc họp giữa Hoa Kỳ và Việt Nam mà luận thì có lẽ lúc đó, Hoa kỳ đang cẩn thận dò dẫm phản ứng của Việt Nam về vấn đề Tổng Tuyển Cử. Cuộc bầu cử mà Hoa Kỳ đề cập chắc chắn sẽ bao gồm tất cả các thành phần đối lập không cộng sản và có thể bao gồm cả những thành phần của Mặt Trận Giải Phóng. Hoa Kỳ cho rằng nếu không có những phong trào cải cách rộng lớn, nếu không có một “chánh phủ đoàn kết có sự tham gia đông đảo của mọi khuynh hướng chính trị ở Việt Nam” như ông Sullivan đã đề cập thì Việt Nam khó thể được dân chúng Hoa Kỳ ủng hộ. Hơn nữa, Hoa Kỳ tin rằng nếu Việt Nam chấp thuận tổ chức tổng tuyển cử tự do và nếu Bắc Việt đồng ý rút quân thì những phái đoàn đàm phán của Hoa Kỳ ở Ba Lê có thể đàm phán hữu hiệu hơn.

Vào thời gian này tôi đã biết rõ ông Kissinger đóng một vai trò hết sức quan trọng trên lãnh vực Ngoại Giao của Hoa Kỳ. Tôi cũng biết giữa ông Kissinger và Ngoại Trưởng Rogers có nhiều chuyện xích mích. Nhưng tôi vẫn chưa biết đủ để có thể ngờ được rằng đến cả Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng không mảy may hay biết gì về những vận động của ông Kissinger. Vì không ngờ những vận động của chính phủ Nixon lại có thể bí mật tới mức như vậy nên tôi đã thật lòng tin tưởng vào những lời phát biểu của hai ông Rogers và Sullivan. Vào ngày 1 tháng 7, khi tường trình ý kiến của Hoa Kỳ cho ông Thiệu, tôi đã tường trình thật chi tiết những cuộc bàn luận của tôi với hai ông Rogers và Sullivan.

Sau khi gặp ông Sullivan được ba ngày thì tôi đến gặp ông Kissinger để tiếp tục thảo luận thêm về những vấn đề tôi đã thảo luận với ông Sullivan. Ngoài ra tôi cũng muốn gặp ông Kissinger để xem ông Kissinger suy nghĩ khác với ông Rogers ra sao. Bức điện văn tôi gửi về cho ông Thiệu vào thời gian đó phản ảnh khá trung thực những khác biệt về quan niệm giữa hai ông Kissinger và Sullivan. Sau khi gặp ông Kissinger, tôi điện về như sau:

Trước khi tường trình tường tận về buổi họp giữa tôi và ông Kissinger, tôi xin trình để Tổng Thống rõ ở Hoa Thịnh Đốn có dư luận cho rằng ý kiến của ông Kissinger hoàn toàn khác với ý kiến của Ngoại Trưởng Rogers. Tôi xin thú thực rằng chính tôi cũng chưa thấy rõ sự khác biệt. Vì là đại sứ nên thế đứng của tôi có phần khó khăn và tế nhị. Tuy đã biết cả hai người, tôi vẫn phải vô cùng thận trọng.

Khi gặp ông Kissinger, tôi cũng đưa ra quan niệm “Chiến Tranh Trường Kỳ/Tổn Hại Thấp” của Việt Nam chẳng khác nào như khi tôi đến gặp Ngoại Trưởng Rogers. Ông Kissinger nói rằng ông “nhận thức được khó khăn [của Việt Nam],” khi Hoa Kỳ tự nhiên giảm thiểu quân số và từ từ rút lui. Ông Kissinger cũng có nói rằng cả ông lẫn Tổng Thống Nixon đều không hài lòng với kết quả của những cuộc đàm phán ở Ba Lê và rồi kết luận rằng Hoa Kỳ bắt buộc phải có giải pháp khác. Giải pháp đó ra sao lúc này ông vẫn chưa thể suy nghĩ tường tận được, nhưng Tổng Thống Nixon nhất định không phải là “vị Tổng Thống đầu tiên chịu thua cuộc chiến tranh.” Ông Kissinger lại hỏi tôi “Theo ông thì giải pháp nào nên được đưa ra?”

Tôi trả lời rằng bất kể giải pháp của Hoa Kỳ có là giải pháp nào đi nữa thì chắc giải pháp đó cũng chẳng thể khác biệt gì nhiều với giải pháp “Triệt Thoái Trường Kỳ/Tổn Hại Thấp” của Việt Nam. Điều này có nghĩa là bất kể đàm phán ở Ba Lê kết thúc ra sao thì quân đội Hoa Kỳ cũng vẫn phải hiện diện ở Việt Nam trong một thời gian dài. Tôi nói với ông Kissinger: ” Nếu bắt buộc Việt Nam phải áp dụng giải pháp tổ chức Tổng Tuyển Cử ngay khi Bắc Việt vẫn còn đóng quân để giải quyết những khó khăn thì chúng tôi cho rằng đây phải là giải pháp cuối cùng. Chúng tôi chỉ chấp thuận tổ chức Tổng Tuyển Cử ở giây phút chót và chỉ chấp nhận điều kiện này nếu chúng tôi bị buộc phải chọn hoặc giải pháp này hoặc đầu hàng và mất Việt Nam.”

Ông Kissinger đồng ý nhưng vẫn bàn thêm: Ý kiến Tổng Tuyển Cử thật là hấp dẫn. Tôi cũng nhân tiện nói để cho ông Kissinger biết rõ rằng bầu cử chỉ là một trong những vấn đề mà chánh phủ Việt Nam đang chú tâm vào lúc này mà thôi. Việt Nam cũng có thể chọn một giải pháp khác. Hiển nhiên ai cũng thấy điều kiện phải có một cuộc Tổng Tuyển Cử là một điều kiện khó khăn, nhất là khi Việt Nam đang bị những nguy cơ rõ rệt đe dọa. Trong khi chúng tôi bàn luận, ông Kissinger hỏi thêm rằng nếu một số các yêu cầu của Việt Nam được thỏa thuận thì liệu Việt Nam có thể chấp nhận giải pháp tổng tuyển cử hay không? Tôi trả lời rằng nếu có thêm một số điều kiện thì có lẽ Việt Nam sẽ chấp thuận, nhưng tôi từ chối, không chịu bàn luận chi tiết những điều kiện nào là những điều kiện tiên quyết mà Việt Nam bắt buộc phải có trước khi chấp thuận tổ chức Tổng Tuyển Cử. Vì chưa bàn luận kỹ trước với Sài Gòn, lúc này tôi chưa thể trực tiếp đưa ra một cách rõ rệt những điều kiện của Việt Nam. Tuy thế ông Kissinger nhất định muốn tôi phải trả lời.

Ông hỏi tiếp “Tỷ dụ như việc Hà Nội rút quân ra khỏi Miền Nam Việt Nam, đây có phải là điều kiện thiết yếu tiên quyết mà chính phủ Việt Nam đòi hỏi trước khi chấp thuận Tổng Tuyển Cử hay chăng?”

Tôi trả lời rằng “Có, đây quả là một điều tiên quyết mà chánh phủ Việt Nam phải có trước khi đồng ý tổ chức một cuộc Tổng Tuyển Cử.”

Ông Kissinger tiếp tục bàn luận và dò dẫm về việc đòi hỏi Bắc Việt rút quân. Ông hỏi: “Phải chăng nếu một kế hoạch đề ra bị quá nhiều điều kiện tiên quyết trói buộc thì kế hoạch đó sẽ giảm bớt tầm mức hấp dẫn?” Rồi có lẽ vì ông cho là những đòi hỏi của Việt Nam có phần quá đáng, ông Kissinger hỏi tiếp: “Việt Nam có thể nào chấp thuận cuộc Tổng Tuyển Cử ngay trong khi Bắc Việt hãy còn đóng quân ở Miền Nam Việt Nam hay không?”

Tôi trả lời rằng “Không, chắc chắn không thể nào có chuyện tổng tuyển cử khi quân đội Bắc Việt hãy còn đóng binh ở Miền Nam được.”

Thực sự thì cũng như ông Rogers, ông Kissinger đang dò dẫm và cố tìm một giải pháp thích ứng để có thể áp dụng vào kế hoạch đàm phán ở Ba Lê. Trong khi bàn luận, ông Kissinger đã đưa ra nhiều đề tài khác nhau và có nói đến cả việc ông đang chú tâm tìm cách để giúp ông Thiệu đối phó với những khó khăn trong chính trị nội bộ Việt Nam, chẳng hạn như tìm cách “để những người quốc gia có thể ngồi lại với nhau.” Khi cuộc họp kết thúc ông Kissinger nói thêm rằng ông biết tôi đã có gặp cả Ngoại Trưởng Rogers lẫn ông Sullivan rồi. Tuy nhiên nếu tôi vẫn muốn gặp Tổng Thống Nixon hoặc gặp riêng ông ta thì tôi có thể cứ “tự nhiên gõ cửa.”

Sau khi gặp ông Kissinger, tôi cố suy nghĩ để có thể tìm cách kiểm chứng lại những điều ông đã đề cập trong buổi họp. Cuối cùng, tôi cho rằng cách hay nhất để duyệt lại vấn đề là đến gặp những phụ tá của ông Kissinger ở Hội Đồng An Ninh Quốc Gia. Rồi từ đó trở về sau thì cứ sau mỗi lần họp với ông Kissinger, tôi lại mời những nhân viên phụ tá của ông đến tòa đại sứ dùng bữa. Dĩ nhiên là tôi mời riêng từng người. -Trong số những người tôi mời có cả các ông John Negroponte, ông Ric-hard Smyser và ông John Holdridge. Khi bàn luận cùng những nhân viên này tôi thường đưa vào những đề tài tôi đã thảo luận cùng ông Kissinger. Tôi cố gắng tìm hiểu để xem đâu là đề mục chính, đâu là đề mục phụ và đâu là những mục nhất thời. Những người tôi mời đến toàn là những nhân vật vừa có nhiều kinh nghiệm lại vừa thận trọng nhưng qua những cuộc nói chuyện thường xuyên ở những bữa cơm trưa, tôi cũng gặt hái được phần nào những điều tôi muốn biết.

Một trong những vấn đề tôi muốn tìm hiểu là vấn đề “tìm cách để những nhân vật quốc gia ở Việt Nam có thể cùng ngồi lại với nhau.” Đây là vấn đề mà ông Kissinger đưa ra trong cuộc họp ngày 28 tháng 7. Với niềm hy vọng loé mầm, tôi cố dò dẫm hư thực qua các nhân viên phụ tá của ông. Nhưng sau khi tôi đã tận tình dò hỏi thì những điều tôi nghe được lại hoàn toàn khác hẳn. Tất cả những nhân viên phụ tá của ông Kissinger đều nói rằng theo họ thấy thì vấn đề kết hợp các thành phần quốc gia không phải là vấn đề ông Kissinger thực sự quan tâm. Mà cho dù đây có là vấn đề ông Kissinger quan tâm đi nữa thì đây vẫn không phải là vấn đề ông cho là chủ yếu.

Tôi cho đây là một điều không may. Sở dĩ tôi suy nghĩ như vậy là vì những quan niệm của tôi về Việt Nam đã thành hình trong nhiều năm trời kể từ khi tôi thực sự rời xa những chuyện tranh chấp có liên quan đến chính trị nội bộ Việt Nam. Nếu nhìn lại những năm vừa qua thì những tiến triển dân chủ ở Việt Nam thật là đáng kể. Kể từ năm 1967, tôi đã cố gắng đóng góp để chuyển dần chánh phủ Việt Nam, lúc bấy giờ hãy còn là một chánh phủ quân nhân, thành một chánh phủ hợp hiến. Vào năm 1966, Hội Đồng Lập Hiến được thành lập. Vào năm 1967, hiến pháp được ban hành. Cũng trong năm đó, cuộc bầu cử Tổng Thống, Phó Tổng Thống và các cuộc bầu cử Thượng Nghị Sĩ, dân biểu vào quốc hội đã được tổ chức. Nói chung thì những bước đầu tiên này đã một phần chứng tỏ rằng Việt Nam đang tiến những bước đầu trên con đường dân chủ. Tuy chánh phủ dân chủ sơ khởi của Việt Nam vẫn chưa hoàn hảo và nạn xích mích bè đảng vẫn còn ở ngay cả trong những ngành cao nhất của chính phủ. Nhưng dù sao đi nữa thì chánh phủ hợp hiến sơ khởi của Việt Nam vẫn là một chánh phủ với một quốc hội có khả năng hoạt động ở một mức độ dân chủ đáng kể.

Tuy trong thâm tâm quả thực tôi có rất nhiều phương diện không đồng ý với ông Thiệu nhưng đứng ở cương vị đại sứ của Việt Nam, tôi vẫn rất khó chịu khi phải nghe những lời phê bình khắc nghiệt và liên tục của giới báo chí Hoa Kỳ đối với chính phủ Việt Nam. Dư luận Hoa Kỳ lúc nào cũng lên án ông Thiệu là một nhân vật độc tài và chánh phủ Việt Nam là một chánh phủ không được dân chúng Việt Nam ủng hộ. Hậu quả là những lời phê bình đó đã khiến dân chúng Hoa Kỳ và nhất là quốc hội Hoa Kỳ có ấn tượng xấu đối với chánh phủ Việt Nam. Tôi cũng đồng ý với Ngoại trưởng Rogers rằng nếu không có những phong trào cải cách rộng lớn ở Việt Nam thì chánh phủ Việt Nam khó thể kêu gọi được sự ủng hộ của dân chúng Hoa Kỳ. Vì thế, một trong những đề tài chính tôi thường xuyên trình bày với ông Thiệu là Việt Nam phải tìm cách tổ chức được một chánh phủ đoàn kết lớn rộng với sự tham gia của tất cả các thành phần quốc gia. Tôi nói rằng Việt Nam cần phải hiểu rõ vai trò tối quan trọng của dư luận Hoa Kỳ vì dư luận Hoa Kỳ chính là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng những người có trách nhiệm lập chính sách trong chính phủ Hoa Kỳ. Hơn nữa, tôi còn nói rõ rằng Việt nam cần đào tạo những chuyên viên mới để chánh phủ có thể điều hành hữu hiệu hơn về cả hai mặt hành chánh và kỹ thuật. Việt Nam cần có những chuyên viên mới để thay thế cho những người thiếu khả năng và tham nhũng trong chánh phủ Việt Nam.

Tuy vậy, đối với những đề nghị của tôi đưa ra thì khả năng của tôi lại thật là hạn hẹp. Trước hết, tôi không còn dính dáng gì đến chính trị nội bộ của Việt Nam và lại ở cách xa Việt Nam cả 10,000 dặm. Thứ hai, tôi biết ông Thiệu vẫn không thật lòng tin tôi vì cho rằng tôi là một trong những người của ông Kỳ. Có lẽ trong thâm tâm ông Thiệu vẫn tin rằng tôi thuộc phe ông Kỳ. Thứ ba, vì tôi cộng tác gần gũi với người Hoa Kỳ nên ông Thiệu đã cho rằng tôi bị người Hoa Kỳ ảnh hưởng và vì thế quan điểm của tôi không còn khách quan và chuẩn xác nữa. Nhưng nói cho cùng thì khả năng của tôi bị hạn hẹp đối với những đề nghị của tôi đưa ra chính là vì vấn đề xây dựng một chánh thể dân chủ ở Việt Nam không phải là vấn đề mấu chốt trong các kế hoạch của Hoa Kỳ. Tuy rằng trong quá khứ, đại sứ Bunker đã nhiều lần đồng ý rằng chánh phủ Việt Nam phải cải cách, nhưng ông không phải là người có lập trường cương quyết về vấn đề phải xây dựng một chánh thể dân chủ ở Việt Nam. Hơn nữa, ông lại càng không phải là một trong những người có quyền quyết định các chánh sách của Hoa Kỳ. Hai ông Rogers và Sullivan thỉnh thoảng cũng có bàn luận vấn đề cải cách chánh phủ Việt Nam, nhưng ngoài ra họ chẳng làm gì hơn. Còn ông Kissinger thì lúc đó đang để tâm vào những khía cạnh phức tạp của những cuộc đàm phán, ngoại giao tay ba với Trung Quốc, Nga Sô, và những vấn đề quân sự, không còn tâm trí nào để suy tư về vấn đề dân chủ. Kết quả là có rất ít áp lực từ phía chánh quyền Nixon trong việc thúc đẩy ông Thiệu phải cải cách. Và ông Thiệu thì dĩ nhiên lại không phải là người tự mình nhìn thấy cần phải thay đổi.

Những khung cảnh phức tạp của vấn đề thúc đẩy ông Thiệu cải cách trong giai đoạn này được phản ảnh khá trung thực qua bức điện văn tôi gửi cho ông Thiệu vào ngày 28 tháng 6 và bức thư tay của ông Thiệu gửi trả lời tôi vào ngày 5 tháng 7. Tôi điện rằng:
Kể từ ngày trở lại Hoa Thịnh Đốn, tôi đã liên lạc với rất nhiều dân biểu, Thượng Nghị Sĩ và giới báo chí của Hoa Kỳ. Theo tôi thấy thì tuy chính quyền Nixon đã nỗ lực thuyết phục dư luận Hoa Kỳ trong sáu tháng vừa qua mà dân chúng Hoa Kỳ vẫn còn thiếu kiên nhẫn rất nhiều. Lúc này dư luận vẫn liên tục chỉ trích chánh phủ Việt Nam. Nếu tôi có thể tóm gọn vấn đề trong một câu phát biểu ngắn ngủi thì vấn đề là: Đối với những người chống đối -Tuy những người chống đối vẫn chỉ là thiểu số- thì vấn đề Việt Nam kể như đã chấm dứt. Nhưng chánh phủ Nixon và đa số những người khác vẫn cho rằng dân chúng Hoa Kỳ hãy còn ủng hộ Việt Nam. Sự ủng hộ của dân chúng Hoa Kỳ đang ở tầm mức nào? Đây là một vấn đề chẳng ai hiểu rõ. Tuy thế, nếu chúng ta có thể giữ được nguyên vẹn sự ủng hộ của Hoa Kỳ thì việc giữ nằm trong tay chúng ta nhiều hơn là chính quyền Hoa Kỳ. [chữ nghiêng là của tác giả].

Sau cùng tôi xin yêu cầu Tổng Thống những điều sau đây:

1. Chỉ thị cho tôi biết rõ phải làm gì (tôi không thể tiếp tục bàn luận vấn đề khó khăn [của chính trị nội bộ Việt Nam] khi không có chỉ thị rõ rệt.

2. Nếu Tổng Thống đã có chủ trương [về việc hoà hợp cuộc Tổng Tuyển Cử cùng những kế hoạch đòi hỏi Bắc Việt rút quân trước khi đàm phán ở Ba Lê], thì bất kể chủ trương đó là gì, Tổng Thống cũng phải tìm các trình bày chủ trương đó với dư luận thế giới. Vấn đề cần phải trình bày rõ ràng chủ trương của Việt Nam với báo chí quốc tế là một vấn đề hết sức quan trọng. Cách Việt Nam trình bày vấn đề cũng quan trọng chẳng kém gì những chủ trương mà Việt Nam đưa ra.
Ông Thiệu trả lời tôi bằng một bức thư viết tay:

Thân gửi Anh Diễm:

Xin anh bỏ qua vấn đề Tổng Tuyển Cử vào lúc này và chỉ thảo luận vấn đề Việt Nam Hóa Chiến Tranh mà thôi. Khi có dịp, tôi sẽ thông báo cho anh rõ vấn đề Tổng Tuyển Cử. ….Xin anh cố gắng đừng để ông Rogers qua mặt tôi. Ông ta phải nể mặt tôi về vấn đề Tổng Tuyển Cử.

Trong suốt khoảng thời gian của tháng 8 và tháng 9 năm 1969 ngày tháng trôi qua thật là chậm chạp. Lúc đó, tôi vẫn chưa hề mảy may hay biết việc ông Kissinger và đại diện Xuân Thủy của Bắc Việt đã bí mật gặp nhau. Cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa hai bên diễn ra vào ngày 4 tháng 8 ở Ba Lê tại tư thất của ông Jean Sainteny. Tuy thế đây chỉ là một cuộc gặp gỡ sơ khởi. Cả hai bên đều chẳng làm gì khác hơn là lập lại những đòi hỏi đã đưa ra khi trước. Vào ngày 7 tháng 9, thượng nghị sĩ Everett Dirksen từ trần trong lúc đương nhiệm. Tuy ông Dirksen có lâm bệnh trước lúc qua đời, việc ông từ trần quả là một biến động đột ngột. Tôi mất đi một người bạn thân ở thượng viện, một nơi mà càng ngày việc tìm bạn càng khó. Hai ngày sau lại có tin ông Hồ từ trần do Hà Nội loan báo. Ông Hồ qua đời vào lúc 79 tuổi sau một cơn bệnh dai dẳng. Cũng như những quan sát viên khác, tôi đã suy nghĩ về những người có thể thay thế ông Hồ và những ảnh hưởng vào chiến cuộc sau khi ông Hồ mất. Tuy thế, cuối cùng tôi nhận thấy việc ông Hồ qua đời hoàn toàn không có gì ảnh hưởng đến đường lối của Bắc Việt cả.

Trong suốt tháng 8 và tháng 9, tôi dành thì giờ đến tiếp xúc với những Cộng Đồng Việt Nam ở rải rác khắp nơi trong Hoa Kỳ, tiếp đón những phái đoàn “đi tìm sự thật” của Việt Nam. Tôi cũng thu xếp để có thể đến nói chuyện ở các trường đại học Hoa Kỳ. Khi đến nói chuyện ở các trường đại học Hoa Kỳ, tôi lại có dịp quan sát những hoạt động phản chiến trong giới sinh viên đang sắp sửa bùng lên và lúc đó thời gian lại trùng đúng vào lúc năm học mới bắt đầu khai giảng trở lại. Một trong những chuyện khá đặc biệt trong khoảng thời gian này là việc Tổng Thống Nixon chẳng hiểu sao lại mời gia đình tôi đến nghe giảng lễ ở Toà Bạch Ốc. Người giảng lễ hôm đó là linh mục Billy Graham. Khi nhận được lời mời, cả tôi lẫn nhà tôi đều hết sức ngạc nhiên. Hẳn nhiên lời mời không có ý nghĩa gì khác hơn là một cử chỉ thân thiện đối với gia đình chúng tôi, nhưng tôi vẫn chẳng hiểu tại sao một người chịu ảnh hưởng Khổng, Lão như tôi và một Phật tử sùng đạo như nhà tôi lại được vinh dự mời đi nghe giảng lễ ở Tòa Bạch Ốc như vậy. Riêng hai con gái của chúng tôi thì lại nhìn vấn đề một cách khác hẳn. Đi nghe giảng lễ ở Tòa Bạch Ốc đối với những đứa con tôi có nghĩa là mang những bộ áo dài, mặc những bộ quần lụa rất ít khi có dịp dùng đến. Đó là chưa kể đến những xoay sở khó khăn vì phải mang những đôi guốc cao gót rất dễ ngã khi đi đứng.

Tuy thế, chúng tôi vẫn cố gạt bỏ ngạc nhiên và đến Tòa Bạch Ốc vào giờ đã định. Cả bốn chúng tôi cùng ngồi nghe giảng với khoảng hơn bốn mươi người khác bao gồm cả gia đình Tổng Thống Nixon, gia đình Bộ Trưởng Tư Pháp Michell và các bạn bè khác của ông Nixon. Buổi giảng lễ thật là ngắn ngủi. Linh mục Graham thuyết giảng khoảng 15 phút về một đề tài gì đó mà tôi chẳng còn nhớ nữa. Riêng tôi đã dành gần hết thời giờ để quan sát những việc xung quanh, lúc thì liếc mắt nhìn con gái đang lục đục trên ghế, khi thì quan sát những người nghe lễ xung quanh để cúi đầu cho phải phép. Giữa bầu không khí lặng lẽ của chính trường vào thời gian đó, đây quả là một trong những chuyện đặc biệt đối với gia đình chúng tôi.

Nhưng những khoảng thời gian bình lặng như vậy chẳng mấy chốc đã thoáng vút qua. Vào khoảng tháng 10, tình hình chính trị ở Hoa Thịnh Đốn lại bắt đầu sôi động. Những tổ chức phản chiến lại thành lập một Ủy Ban tổ chức để phối hợp những cuộc biểu tình cho tất cả các tổ chức phản chiến tham gia. Ủy Ban tổ chức phản chiến này đã soạn thảo kế hoạch cho một cuộc biểu tình lớn gọi là Moratorium dự định vào ngày 15 tháng 10. Quốc Hội cũng đã họp trở lại sau thời gian nghỉ nhóm mùa hè và sẵn sàng muốn thúc đẩy chánh phủ phải rút ra khỏi Việt Nam. Vào ngày 5 tháng 10, năm 1969 tôi điện cho ông Thiệu:

Thành phần phản chiến ở quốc hội và các đại học càng ngày càng gia tăng. Rõ ràng là những đoàn thể phản chiến lại hoạt động trở lại. Chẳng bao lâu nữa Quốc Hội Hoa Kỳ lại có hội thảo về những vấn đề sau:

1. Một kế hoạch bắt buộc Hoa Kỳ phải rút quân vào năm 1970 (đây là kế hoạch của Thượng Nghị Sĩ Goodell). Tuy kế hoạch này khó thể được quốc hội thông qua, Ủy Ban Liên Hệ Ngoại Giao lại có dịp để bàn bạc vấn đề.

2. Cuộc biểu tình chống chiến tranh lớn mà giới phản chiến gọi là “cuộc biểu tình Moratorium” của sinh viên.

3. Duyệt lại Nghị Quyết Vịnh Bắc Việt.

4. Thảo luận những dự định của ông Mansfield về việc rút quân, ngưng bắn, và gây áp lực để bắt chánh phủ Việt Nam tổ chức một cuộc Tổng Tuyển Cử cho phép cả các thành phần của Mặt Trận Giải Phóng tham gia.

Chúng ta phải sẵn sàng đối phó với rất nhiều chỉ trích, nhất là vào khoảng thời gian giữa trung tuần tháng 10 và trung tuần tháng 11. Khoảng thời gian đó đã được những đoàn thể chống đối chọn làm giai đoạn chính của cuộc biểu tình. Họ gọi giai đoạn này là “Giai Đoạn Moratorium.” Một “Ủy Ban Tổ Chức mới” gồm nhiều người trong các giới sinh viên, tu sĩ, thanh niên, Phụ nữ Tranh Đấu cho Hoà Bình, Giới Kinh Doanh Tranh Đấu cho Hoà Bình, Vấn đề của tu sĩ cùng người ngoại đạo, Ủy Ban Luật Sư chống chiến tranh, và rất nhiều các hội chống đối khác. Mọi hoạt động chống chiến tranh đều được “Ủy Ban Tổ Chức phản chiến” điều động. Những nhân viên nằm trong các Ủy Ban phản chiến phần nhiều là những sinh viên làm việc cho Thượng Nghị Sĩ McCarthy. Họ đã chọn ngày 15 làm ngày mà tất cả học sinh trên toàn quốc đều nghỉ học để chống chiến tranh…. Vào ngày 15 tháng 10 họ tổ chức một cuộc diễn hành. Họ gọi cuộc diễn hành đó là “A March against Death.”

Những cuộc biểu tình dữ dội trong tháng 10 năm 1969 đã thu hút hết tâm trí tôi. Tôi nghĩ rằng có lẽ đa số những người trong số hàng trăm ngàn người biểu tình gần như đều chẳng biết rõ những mục tiêu họ chống đối. Nhưng phải làm thế nào mới có thể khiến họ thấy rằng kiến thức của họ thật là phiếm diện và thỏa mãn những điều họ đòi hỏi có nghĩa là buộc Việt Nam phải đầu hàng trước một chế độ độc tài tàn nhẫn?

Thật ra thì hình như tất cả các cuộc biểu tình chống đối nói riêng, hoặc hiện tượng chống đối nói chung, đều chỉ là những hành động phản ảnh những ẩn ức trong tiềm thức của những người biểu tình đối với xã hội của họ. Tôi đã chứng kiến hàng loạt các cuộc biểu tình của các sinh viên ở Pháp và Đức và đã tự hỏi: Phải chăng những sinh viên biểu tình đang cố mượn vấn đề chống đối chiến tranh Việt Nam để thể hiện những bất mãn của họ đối với xã hội? Những sự bất mãn của họ của họ rõ ràng là không phải là do chiến tranh Việt Nam. Vấn đề chống đối chiến tranh đối với họ chẳng qua chỉ là một thứ phương tiện thuận lợi cho phép họ có cơ hội phát biểu ngay những cảm tưởng bất mãn của họ đối với xã hội Tây Phương lúc này mà thôi. Nếu không có chiến tranh Việt Nam thì những cuộc biểu tình này có xảy ra hay không? Phải chăng chính xã hội Tây Phương đang trải những cuộc khủng hoảng riêng?

Suy tư này cứ mãi dày vò tôi. Tôi đã biết rõ rằng Việt Nam đang tranh đấu cho lẽ phải và tôi chẳng hiểu tại sao lại có thể có nhiều người chống đối chiến tranh Việt Nam đến thế? Nhất là khi họ thật sự chẳng biết gì nhiều về cuộc chiến Việt Nam? Trong suốt khoảng thời gian tháng 10 và tháng 11 năm 1969, lúc nào tôi cũng bị vấn đề này ám ảnh. Tôi biết rằng đa số những người Việt Nam đều quan niệm rằng những người biểu tình chỉ là những người ngây thơ đang bị Cộng Sản hoặc các nhóm thiên tả ảnh hưởng. Nhưng riêng tôi lại thấy là vấn đề quả không đơn giản như vậy. Tôi có thể hiểu rằng chẳng ai muốn có chiến tranh. Chẳng ai muốn để thân nhân phải lăn mình vào lửa đạn. Dĩ nhiên là đứng trên quan điểm của Việt Nam thì họ sai, vì cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến xứng đáng với sự hy sinh và tranh đấu của họ. Nhưng dù sao đi nữa thì tôi vẫn hiểu được những điều lo lắng của một gia đình Tây Phương có thân nhân gia nhập quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam. Điều mà tôi quả thật không thể hiểu được là nguyên do gây ra sự bất mãn của những người Tây Phương. Lúc này, tôi đã bắt đầu thấy rõ rằng những cuộc biểu tình thật sự chỉ là những cuộc biểu tình của những người Hoa Kỳ đang bất mãn với xã hội của họ chứ chẳng phải những cuộc biểu tình của những người đang chống đối chiến tranh. Những cuộc biểu tình phức tạp của xã hội Tây Phương lúc này đã gây ra một hậu quả thật là bi thảm: Tương lai Miền Nam Việt Nam đang bị những khủng hoảng của xã hội Hoa Kỳ xô đẩy mà chính chúng tôi lại hoàn toàn bất lực trước những khủng hoảng đó. Hơn nữa nguyên do của những sự khủng hoảng cũng chỉ liên hệ đến chúng tôi một phần mà thôi.

Trước đêm Biểu Tình “March against Death” đã có một cuộc biểu tình ngay phía trước tòa đại sứ Việt Nam ở Hoa Thịnh Đốn. Khung cảnh những người chống đối bao vây tòa đại sứ thật chẳng khác nào một đoàn quân xung phong đang cố bao vây một tiền đồn. Có cả hàng trăm nhân viên cảnh sát đang tận lực ngăn cản những người biểu tình. Qua cửa sổ của tòa đại sứ, tôi cùng những nhân viên ở tòa đại sứ nhìn thấy lố nhố những mũ sắt, những xe cảnh sát và những ánh chớp đèn pin. Những người biểu tình vừa hò la, vừa ném đá và liệng chai lọ về phía tòa đại sứ. Họ biểu tình mãi cho đến thật khuya và rồi giải tán để sửa soạn cho cuộc chống đối ngày hôm sau.

Ông John Mitchell có nói với tôi rằng Tổng Thống Nixon không hề bị những cuộc biểu tình của các tổ chức phản chiến ảnh hưởng. Chính tôi cũng biết Tổng Thống Nixon không phải là người dễ bị lay chuyển. Tuy thế khi nhìn những cuộc biểu tình trước tòa đại sứ tôi không tin sự thật sẽ hoàn toàn như vậy. Trong thâm tâm tôi nghĩ rằng chắc chắn áp lực phản chiến thế nào cũng gia tăng và đến một lúc nào đó những áp lực này sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến những chính sách của Hoa Kỳ đối với chiến tranh Việt Nam. Tổng Thống Nixon chỉ có thể trì hoãn để kéo dài thêm thời gian. Nhưng rồi đây, trong giai đoạn cuối, Việt Nam sẽ phải nhận chịu những áp lực phản chiến của dân chúng Hoa Kỳ một mình. Và lúc đó, Việt Nam chỉ còn biết trông chờ vào chính Việt Nam mà thôi. 

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"