Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

29 – Tổng Thống Mới, Chính Sách Mới 


Chương 29
Tổng Thống Mới, Chính Sách Mới

Tôi trở về Sài Gòn ngày 13 tháng 11-1968. Vừa về đến nơi tôi đã tìm cách gặp ngay ông Thiệu và ông Kỳ. Tôi thuật lại câu chuyện khó chịu của tôi khi gặp ông Bundy và những lời nhắn nhủ khác thường của ông Dirksen và ông Alsop ở tòa đại sứ. Tôi cố tìm cách cho hai ông Thiệu và Kỳ thấy rõ được sự giận dữ và thiếu nhẫn nại của thượng nghị sĩ Dirksen. Tôi cũng không quên thuật lại những lời lẽ nghiêm nghị của ông Dirksen khi ông tuyên bố “đến gặp tôi nhân danh hai vị tổng thống Hoa Kỳ.” Hôm sau, tôi tới Thượng Viện ở Sài Gòn để Thuyết trình trước Ủy Ban Ngoại Giao của Thượng Viện.

Vào ngày 16 tháng 11, tôi đến gặp đại sứ Bunker để trực tiếp tìm cách giải quyết vấn đề. Khoảng hơn một tuần lễ sau, sau khi đã trao đổi hàng loạt những đề nghị và các bản thảo, chúng tôi cùng nhau đề ra một số cách thức hợp tác chung mà chúng tôi cho là có thể phù hợp với cả hai quốc gia. Tôi cũng nói với đại sứ Bunker rằng đây có lẽ là một cơ hội tốt để hai chánh phủ có thể cùng cộng tác. Trước khi Hoa Kỳ chánh thức đưa ra chính sách để đối phó với Bắc Việt thì đây chính là một dịp mà Hoa Kỳ có thể thảo luận với Việt Nam về những vấn đề chẳng hạn như vấn đề đàm phán với Bắc Việt. Thực ra, tôi đã suy nghĩ về vấn đề này từ lâu rồi. Trong những tháng trước, khi còn ở Hoa Thịnh Đốn, tôi đã nhiều lần gửi điện về Sài Gòn để nói rõ tầm quan trọng của vấn đề cần phải có sự cộng tác chung giữa hai chính phủ Việt Nam và Hoa Kỳ.

Khi nghe tôi đề nghị rằng hai chánh phủ nên cùng nhau thảo luận cách đàm phán với Bắc Việt trước khi thực sự bắt tay vào việc, đại sứ Bunker đã hưởng ứng hết sức nhiệt liệt. Ông đề nghị tôi tìm cách để thuyết phục chánh phủ Việt Nam thực thi dự định đó. Đại sứ Bunker nguyên được cử làm đại sứ ở Việt Nam một phần quả là do ông đã có kinh nghiệm ngoại giao lão thành, nhưng một phần khác cũng là do mối cảm tình chân thật mà ông dành cho Việt Nam. Lúc nào ông cũng cố gắng xoay sở để có thể hướng những nỗ lực giúp đỡ của Hoa Kỳ đúng vào những lợi ích thiết thực nhất của Việt Nam. Mối giao hảo thân mật giữa chúng tôi một phần cũng là do những lý do này. Hơn nữa, khi cùng nhìn vào những vấn đề khó khăn và những mục tiêu của Việt Nam thì chúng tôi lại còn cùng đồng quan điểm. Cách suy luận của chúng tôi cũng gần giống nhau, nếu không muốn nói là hoàn toàn trùng hợp. Sau khi gặp đại sứ Bunker, tôi đến gặp ông Thiệu vào ngày 5 tháng 12, trước khi lên đường trở lại Hoa Thịnh Đốn. Trước đây tôi đã nhiều lần gặp ông Thiệu để trình bày vấn đề cần phải tìm cách cộng tác với Hoa Kỳ cho hữu hiệu, nhưng lần nào ông Thiệu cũng chỉ hưởng ứng lấy lệ. Trong cuộc họp riêng, mặt đối mặt, lần này tôi hy vọng cuộc họp có thể sẽ khiến ông Thiệu lưu ý hơn. Tuy vậy, cuộc tiếp xúc trực tiếp giữa tôi và ông Thiệu cũng chẳng lay chuyển được sự suy nghĩ của ông khác trước là bao. Bất kể tôi đề cập đến vấn đề ra sao, ông Thiệu vẫn có cách để chuyển hướng vấn đề. Lúc tôi đưa ý kiến thì ông vẫn lắng nghe, vẫn đưa ra những hứa hẹn tốt đẹp, nhưng rồi sau câu chuyện thì ông cứ lẳng lặng bỏ mặc, không giải quyết vấn đề một cách dứt khoát. Lúc nào ông cũng cố tìm cách trì hoãn để mặc cho vấn đề có thể tự giải quyết, hoặc sẽ trôi đi với thời gian. Quyết định một cách cả quyết là một điều ông Thiệu rất hiếm khi làm được. Đối với đa số những người lãnh đạo Việt Nam thì việc tổng thống Nixon đắc cử là một biến cố có chiều hướng thuận lợi; Họ đã thấy rõ vị tổng thống mới là người có lập trường chống cộng vững chắc. Sau một vài tháng lo sợ ngại ngùng, Việt Nam giờ đây hoàn toàn lạc quan và dư luận cho rằng tương lai đã có phần được bảo đảm.

Riêng tôi vẫn ít lạc quan hơn. Vì gần gũi với chính trường Hoa Thịnh Đốn hơn những người khác, tôi biết rằng một khi những diễn biến chính trị ở Hoa Kỳ đã hướng về một chiều hướng nhất định thì gần như chẳng còn cách nào để ảnh hưởng những diễn biến đó về một chiều hướng khác. Đã đành rằng chính quyền Nixon có thể ít bị các nhóm phản chiến chống đối hơn là chính quyền Johnson, nhưng đảng Cộng Hoà cũng quan niệm vấn đề chiến tranh Việt Nam chẳng khác gì đảng Dân Chủ. Thực sự thì Hoa Kỳ đã bắt đầu ở trên con đường đi ra. Hiện giờ câu hỏi không còn là: “Liệu Hoa Kỳ có rút quân hay không?” mà là: “Hoa Kỳ sẽ rút quân thế nào?” Vào ngày 23 tháng 9, khoảng một tháng trước khi cuộc bầu cử bắt đầu, tôi đã viết một bản báo cáo mật gửi cho ông Thiệu như sau: Như đã có dịp nhiều lần trước đây tường trình cùng Tổng Thống, chúng tôi thiển nghĩ rằng Hoa Kỳ đến nay đã có rất nhiều lầm lỗi trong chính sách ở Việt Nam, nhưng nếu thẳng thắn công nhận thì chúng ta cũng có nhiều lỗi lầm. Những năm trước đây, do tình trạng chính trị không được ổn định, do tình trạng xã hội phân hóa, do những vấn đề cấp bách của chiến tranh thúc đẩy, chúng ta đã để người Hoa Kỳ (vì sốt ruột, vì không hiểu tâm lý người Việt Nam) có những quyết định vội vàng ảnh hưởng không ít đến tình trạng ngày nay.

Lúc này, chính phủ Nixon sắp nhậm chức và lại chưa hoàn toàn quyết định một chính sách rõ rệt về vấn đề Việt Nam, chúng tôi thiển nghĩ không có dịp nào tốt hơn là dịp này để chúng ta có sáng kiến và thảo luận với chính phủ mới về một chính sách có lợi cho chúng ta. Nếu đặt giả thuyết là chúng ta chờ đợi chính phủ Hoa Kỳ có thái độ rõ rệt thì chúng tôi thiển nghĩ rằng: bộ máy Hoa Kỳ là một bộ máy hết sức nặng nề, một khi bộ máy đó đã chuyển vận và bước sang giai đoạn có quyết định, e rằng nếu những quyết định đó không có lợi cho chúng ta, sau đây khó lòng mà sửa lại được.

Vào mùa thu năm 1968, Tuy tôi đã biết chắc chắn rồi đây thế nào Hoa Kỳ cũng rút quân, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng những kế hoạch bí mật của TT Nixon trong cuộc bầu cử năm 1968 chẳng qua chỉ là những kế hoạch ông đưa ra nhằm mục đích tranh cử chứ lúc đó ông vẫn chưa có kế hoạch chính thức gì thiết thực. Theo như những tin tức tôi thu thập từ Bộ Ngoại Giao, từ Ngũ Giác Đài, từ CIA và từ đảng Cộng Hòa thì chẳng có kế hoạch gì rõ rệt cả. Có thể là ngay sau khi đắc cử, TT Nixon sẽ xem xét lại chính sách của Hoa Kỳ ở Việt Nam để đưa ra những chính sách thiết thực hơn. Một khi họ đã có chủ trương nhất định để thiết lập chánh sách thì chánh phủ Hoa Kỳ sẽ soạn thảo kế hoạch cho phù hợp với những chủ trương đó.

Theo tôi thấy thì trong giai đoạn chuyển tiếp lúc này, rõ ràng là Việt Nam phải có sáng kiến để đóng góp trong việc soạn thảo kế hoạch của một chính phủ mới. Tôi cho rằng ông Thiệu nên chấp nhận vấn đề rút quân của Hoa Kỳ, xem đây là điều tất yếu, và rồi nỗ lực chuẩn bị mọi việc để phòng khi Hoa Kỳ rút lui. Tôi cho rằng ông Thiệu phải chuẩn bị để nếu Hoa Kỳ có rút quân thì họ sẽ phải rút quân theo những điều kiện của Việt Nam. Tất cả những kinh nghiệm trong quá khứ đều cho thấy rằng nếu Hoa Kỳ đã có chánh sách thì bất kể thái độ của Việt Nam ra sao, chắc chắn họ cũng vẫn hành động theo chánh sách của họ. Hậu quả là Việt Nam lúc nào cũng phải nhắm mắt đi theo vì chẳng còn đường nào khác để chọn lựa. Tuy thế, nếu Việt Nam biết tự mình chủ trương mọi việc cẩn thận và thấu đáo trước thì rồi chính Việt Nam cũng được góp phần quyết định. Trái lại, nếu không chuẩn bị trước thì rồi đây Việt Nam lại rơi vào tình trạng phải thụ động giống hệt khi trước.

Vào ngày 13 tháng 1-1969, một tuần trước khi tổng thống mới của Hoa Kỳ bắt đầu nhiệm chức, tôi có trình bày vấn đề rõ ràng với ông Thiệu. Trong bản tường trình gửi về, tôi tiếp tục đi vào chi tiết những điểm chúng tôi đã bàn luận trong tháng trước.

1)-Trong khi chính sách Hoa Kỳ chưa hoàn toàn được xác định, Tổng Thống cho cứu xét

toàn diện lại tình trạng quân sự, ngoại giao, chính trị và kinh tế để tiến tới một hệ thống

đề nghị hợp lý, rõ rệt bao gồm cả những phần nói trên, nhằm giải quyết vấn đề chiến

tranh.

2)-Trong một thời gian ngắn, (trung tuần tháng 2 là cùng) sau khi những đề nghị đã

được hoàn thành và không chờ đợi người Hoa Kỳ, yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ thảo luận

với chính phủ ta về những đề nghị đó. Kinh nghiệm đã cho biết rằng trong trận chiến

tranh hiện tại và trong giai đoạn qua, vị trí của Hoa Kỳ và Việt Nam đã có nhiều điểm

giống nhau, thế mà những sự sai lầm tai hại không phải là ít; trong giai đoạn tới, quyền

lợi hai nước chưa chắc đã hoàn toàn đi đôi. Nếu chúng ta không thẳng thắn nói rõ

những quan điểm thiết yếu của dân tộc, e rằng sẽ có những khó khăn lớn lao về sau.

3)-Đồng thời với việc khảo luận với chính phủ Hoa Kỳ về những đề nghị của chính phủ

ta, sắp đặt một chương trình khéo léo nhằm vào dư luận báo chí Hoa Kỳ và thế giới để

chứng tỏ chúng ta thiện chí tới mức tối đa cả trong việc điều đình tại Ba Lê cũng như

trong phần vụ cáng đáng lấy trách nhiệm trong cuộc chiến. Sau đó tôi trực tiếp đề cập đến vấn đề Hoa Kỳ rút quân: Trên đây chúng tôi có đề cập tới những khía cạnh quân sự ngoại giao và kinh tế. Trong vấn đề quân sự chắc chắn sẽ có trường hợp rút bớt quân đội Hoa Kỳ (rút bao nhiêu? Trong thời gian nào? Với điều kiện nào? v.v…) cũng như trong vấn đề ngoại giao sẽ có đường lối áp dụng với đối phương tại Ba Lê. Còn về vấn đề kinh tế thì nếu có quyết định rút dần quân đội Hoa Kỳ, quyết định này không khỏi không có ảnh hưởng tới kinh tế. (Tại cơ quan viện trợ Hoa Kỳ, chúng tôi đã thấy có những nghiên cứu dựa vào giả thuyết rút dần quân đội, tỉ dụ như nếu hàng tháng rút 10 ngàn quân, tức là hàng năm 120,000 quân, thì sở ngoại tệ của Việt Nam sẽ hụt đi là bao nhiêu và số viện trợ thương mại sẽ thay đổi ra sao?).

Trở về vấn đề quân sự và ngoại giao, chúng tôi đơn cử một vài thí dụ để chứng tỏ sự cần thiết phải đi trước dư luận bằng những sáng kiến, đề nghị mới.

Trong dịp cuối năm, Tổng Thống có đọc một bản thông điệp nói đến việc trong năm 1969 Việt Nam sẽ cáng đáng nhiều trách nhiệm trên chiến trường. Bản diễn văn đó đã được sự hưởng ứng của hầu hết dư luận báo chí. Tại Ba Lê, mỗi lần phái đoàn ta có một đề nghị gì mới, (bất kỳ đề nghị gì) là lập tức dư luận báo chí tỏ ý hy vọng.

Cũng vì những lý do đó mà chúng tôi tới kết luận rằng tỷ dụ như trên lĩnh vực quân sự, sau khi đã nghiên cứu kỹ càng vấn đề và kết luận rằng có thể đồng ý để một số quân đội Hoa Kỳ rút về và sau khi đã xác định được rõ là chính phủ mới của Hoa Kỳ trước sau cũng phải đến quyết định đó, chánh phủ ta nên công khai hóa vấn đề trước, đừng để cho Hoa Kỳ nói trước vì dư luận Hoa Kỳ và thế giới sẽ có cảm tưởng là chúng ta bị dồn ép vào thế bắt buộc phải nhận.

Chúng tôi nghĩ là với tình trạng dư luận Hoa Kỳ hiện tại (nghi ngờ thiện chí của Việt Nam) chỉ có những quyết định lớn như trên mới dành lại được cảm tình, còn những cố gắng bình thường (như diễn thuyết hoặc gởi phái đoàn) thì cũng chỉ có ảnh hưởng phần nào thôi.

Vấn đề điều đình tại Ba Lê cũng vậy; chúng tôi nghĩ: chỉ trừ một vài giới có những chủ trương cực đoan muốn chấm dứt chiến tranh bằng đủ mọi cách, phần đông dư luận Hoa Kỳ sẽ ủng hộ chúng ta nếu dư luận Hoa Kỳ thấy rõ rằng trên lãnh vực quân sự có hy vọng quân đội Hoa Kỹ sẽ dần dần rút về (không cần biết trong bao nhiêu lâu) tổn phí sẽ bớt dần, và trên lãnh vực ngoại giao chúng ta có những đề nghị hợp lý. -KẾT LUẬN:

Những giới chính trị ở Hoa Kỳ lúc này cho rằng đối với vấn đề Việt Nam, Ông Nixon cần phải có thời gian và kiên nhẫn thì mới giữ được Cộng Sản khỏi thắng lợi. Do thái độ của ông từ trước tới nay qua việc bổ nhiệm các nhân vật rồi đây sẽ nhận trách nhiệm trong vấn đề này, các giới chính trị cho rằng ông đủ kiên nhẫn nhưng còn thời gian thì ông chỉ có một thời gian hết sức ngắn. Thời gian này tùy thuộc ở dư luận Hoa Kỳ và có ảnh hưởng được dư luận hay không điều đó cũng một phần còn tùy thuộc ở Việt Nam.

Với tình trạng trên, để kết luận, chúng tôi một lần nữa trân trọng đệ trình lên tổng thống và chính phủ ý kiến rằng hơn lúc nào hết, lúc này là lúc Việt Nam cần phải xiết chặt hàng ngũ, chỉnh đốn nội bộ để có thể có những sáng kiến và đề nghị đưa ra thảo luận với chính phủ Hoa Kỳ. Chưa chắc chúng ta đã có thể đạt tới sự thống nhất các quan điểm trên mọi lĩnh vực, nhưng ít nhất chúng ta cũng có thể giảm bớt được tình trạng lủng củng hiện tại và ngăn ngừa trường hợp bị xô đẩy vào những tình trạng khó khăn, bất lợi cho quyền lợi của đất nước.

Tuy đã nhiều lần đề cập đến bản báo cáo này trong những lần gửi điện về Sài Gòn về sau, tôi vẫn không được ông Thiệu trả lời. Tôi cũng yêu cầu được về Sài Gòn để góp ý kiến và đã nhiều lần thảo luận vấn đề này với ông Hoàng Đức Nhã nhưng ông Thiệu vẫn hoàn toàn im lặng.

Đối với tôi thì đây là chuyện khẩn cấp, nếu không muốn nói là chuyện sinh tử. Tôi cho rằng Việt Nam chỉ có thể ảnh hưởng trực tiếp được vào vấn đề Hoa Kỳ rút quân bằng cách tự có sáng kiến trước. Hơn nữa, nếu hành động trước, Việt Nam có thể vừa thể hiện được chính nghĩa lại vừa chứng tỏ cho thế giới thấy rằng Việt Nam là một quốc gia độc lập đang được đồng minh Hoa Kỳ viện trợ chứ không phải một thuộc địa của Hoa Kỳ như dư luận vẫn thường chỉ trích. Nếu những cuộc đổ quân của Hoa Kỳ hồi năm 1965 đã khiến chánh phủ Việt Nam mất đi chính nghĩa thì giờ đây sự ra đi của họ có thể khiến Việt Nam lấy lại được hình ảnh độc lập và những chính nghĩa đã mất đi khi trước.

Lúc này tôi hiểu rất rõ những ảnh hưởng của dư luận Hoa Kỳ đối với các chính sách có liên quan đến chiến tranh Việt Nam của chánh quyền Nixon. Tuy thế, tôi lại chẳng biết phải làm cách nào để chuyển đạt được những hiểu biết của tôi cho chánh quyền Việt Nam. Càng cố sức trình bày tôi lại càng thấy những nỗ lực của tôi chẳng khác nào như nước đổ lá môn. Dường như chánh quyền Việt Nam không thể nào hiểu được những quan niệm chẳng hạn như những quan niệm về dư luận Hoa Kỳ, về tầm mức quyền hành có giới hạn của Tổng Thống Hoa Kỳ và tầm quan trọng của Quốc Hội Hoa Kỳ. Có lẽ vì Việt Nam đã đắm chìm quá lâu trong những chế độ bất chấp dư luận dân chúng, vì Việt Nam đã trải qua quá nhiều chánh quyền độc tài và vì ngay chính chánh quyền Việt Nam lúc đó cũng chẳng hề đếm xỉa gì đến quyền hạn của quốc hội Việt Nam nên chính quyền Việt Nam đã suy bụng ta ra bụng người và kết luận rằng chánh phủ Hoa Kỳ cũng hoạt động chẳng khác gì chánh phủ Việt Nam. Tôi cảm thấy dường như cả chánh phủ của ông Thiệu đều tin rằng bất kể chánh phủ Hoa Kỳ hoạt động ra sao, ý kiến đáng kể cuối cùng cũng vẫn là ý kiến của tổng thống Hoa Kỳ. Hình như họ cho là tòa đại sứ Việt Nam chỉ cần đệ trình tất cả những tin tức quan trọng cho tổng thống Hoa Kỳ hiểu rõ là đủ. Tôi tự hỏi nếu chánh quyền Việt Nam quan niệm như thế thì tại sao họ lại chẳng thấy rằng họ chỉ cần một người đưa tin liên lạc với Tổng Thống Hoa Kỳ đã là quá đủ? Nếu chánh quyền Việt Nam quan niệm như thế thì tại sao họ lại còn cần phải có một đại sứ Việt Nam ở Hoa Thịnh Đốn để vận động? Và nếu có vận động đi chăng nữa thì vận động với mục đích gì?

Trong khi đó đàm phán ở Ba Lê lại tái họp dưới công thức hai phe Bắc, Nam mà Việt Nam bắt buộc phải thỏa thuận vì áp lực của Hoa Kỳ trước đây. Tuy chánh quyền mới của Hoa Kỳ đang bận rộn sửa soạn ngày lễ nhậm chức mà Ngoại Trưởng được chỉ định Rogers đã gọi tôi và báo rằng chánh quyền sắp nhiệm hoàn toàn đồng ý với chánh quyền đương nhiệm trong vấn đề đàm phán. Đây là một nước cờ khéo léo chứng tỏ sự liên tục của chánh phủ Hoa Kỳ trong giai đoạn chuyển tiếp. Thực ra thì trên mặt thủ tục lúc đó ông Rogers chỉ mới là Ngoại Trưởng được chỉ định và ông Rusk vẫn là Ngoại Trưởng chánh thức của Hoa Kỳ. Có lẽ vì thế nên Ngoại Trưởng Rogers cũng nói thêm rằng đại sứ Ellsworth Bunker đã được lệnh của Ngoại Trưởng tại vị Dean Rusk và của chính ông về việc minh xác sẽ không có gì thay đổi trong các chánh sách của chánh phủ Hoa Kỳ. Cách nhắc khéo của ông Rogers cũng là cách Hoa Kỳ ngấm ngầm cảnh cáo một cách gián tiếp rằng Sài Gòn không nên khước từ như trước.

Trong suốt tháng giêng năm 1968, về phía Hoa Kỳ những chính sách đối với Việt Nam vẫn liên tục. Bất kể việc chuyển tiếp giữa hai chánh phủ Hoa Kỳ bất kể là gì đi nữa thì việc vẫn không ra khỏi chuyện những người trong chính phủ sắp nhiệm đang thay thế những người trong chánh phủ đương nhiệm. Những cuộc tiễn đưa bịn rịn của đảng Dân Chủ phản ngược gần như hoàn toàn với những buổi lễ nhậm chức vui vẻ của đảng Cộng Hòa. Tình cảnh khiến người nhìn không khỏi cảm thấy rằng một giai đoạn đã kết thúc và một giai đoạn mới sắp bắt đầu.

Đối với tôi thì đây là khoảng thời gian buồn vui lẫn lộn. Tuy thế, những cảm giác lo lắng vẫn vượt lên trên tất cả. Trong giai đoạn này, đã đành rằng Hoa Kỳ vẫn có lập trường cương quyết đối với chiến tranh Việt Nam, nhưng chánh quyền Hoa Kỳ đang bước sang một giai đoạn cực kỳ quan trọng. Các nhân vật trong chánh phủ mới của Hoa Kỳ đang thay thế những người trong chính quyền trước. Hai nhân vật mới nổi bật nhất là Tổng Thống Nixon và ông Kissinger. Cả hai đều là những nhân vật cương quyết và có bản lãnh nhưng cả hai đều hoàn toàn xa lạ với chúng tôi. Rồi đây hai nhân vật này sẽ đứng ra điều động cuộc chiến Việt Nam bằng những phương pháp riêng của họ.

Nhìn lại những sự kiện trong lịch sử cận đại của Hoa Kỳ thì trước đây, trong thập niên 1950, Tổng Thống Truman, người khởi đầu sự can thiệp của Hoa Kỳ vào chiến tranh Đại Hàn là người của đảng Dân Chủ. Và rồi sau đó Tổng Thống Eisenhower, người kết thúc sự can thiệp của Hoa Kỳ trong chiến tranh Đại Hàn là người của đảng Cộng Hòa. Khi chánh quyền Eisenhower kết thúc sự can thiệp của Hoa Kỳ ở Đại Hàn thì ông Nixon là phó Tổng Thống. Vào thập niên 1960, Tổng Thống Kennedy, người khởi đầu sự can thiệp của Hoa Kỳ vào cuộc chiến Việt Nam cũng là người của đảng Dân Chủ. Và lúc này Tổng Thống Nixon, lại tuyên bố ông sẽ chấm dứt sự can thiệp của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Hơn nữa, ông Nixon lại là người của đảng Cộng Hòa. Liệu lịch sử có tái diễn hay không? Câu hỏi này luôn ám ảnh tôi khi tôi đến dự những buổi tuyên thệ, những cuộc diễn hành và những buổi tiếp tân trong giai đoạn khởi đầu của chánh phủ mới. Tôi rất thán phục những cung cách chuyển đổi chánh quyền tại Hoa Kỳ. – Quang cảnh chuyển đổi vừa nghiêm trang lại vừa linh hoạt. Thật đúng là cách giao chuyển quyền hành của một xã hội dân chủ. Tôi cũng cảm thấy một cảm giác buồn bã thoáng qua khi thấy Tổng Thống Lyndon Johnson ra về gần như chẳng ai chú ý. Ai có thể ngờ được chỉ mới hôm qua ông hãy còn là một nhân vật kiêu hãnh đã nắm trong tay tất cả giềng mối của những uy lực tột cùng?

Khi lễ nhậm chức kết thúc, tôi bắt đầu tìm hiểu lại tình hình Hoa Thịnh Đốn một mặt là để lượng định xem Việt Nam có thể trông đợi gì từ chính quyền của TT Nixon và mặt khác cũng là để xem liệu những dự đoán của tôi về những kế hoạch bí mật mà ông Nixon đã đề cập tới lúc trước có hoàn toàn đúng hẳn hay không? Cuộc gặp gỡ đầu tiên của tôi và chánh phủ mới diễn ra bốn ngày sau đó, khi tôi có dịp hội kiến với ông Kissinger. Lúc này ông Kissinger đã được cử làm cố vấn an ninh quốc gia và đang làm việc ở tòa Bạch Ốc.

Tôi đến gặp ông với những ký ức của lần gặp ông đầu tiên vào năm 1966 ở Sài Gòn. Năm 1966 ông Kissinger đã đến Việt Nam để tìm hiểu tình hình cho đại sứ Henry Cabot Lodge. Lúc đó ông là một giáo sư ở trường đại học Harvard và nhân dịp ông qua Việt Nam tôi có tổ chức một bữa cơm cho ông để ông có dịp gặp một số chính khách Việt Nam, kể cả những thành phần chống đối chính phủ. Trong lần gặp đầu tiên, đã có rất nhiều người thắc mắc chẳng hiểu ông đến Việt Nam làm gì; tại sao ông lại hỏi nhiều câu hỏi đến thế; và tại sao giọng Anh Văn của ông lại đặc biệt như vậy? Tuy lúc đó tôi chưa biết rõ mục đích của ông Kissinger khi sang Việt Nam nhưng qua những buổi tiếp tân và những buổi họp giữa ông Kissinger và ông Kỳ, tôi đã kết luận rằng ông quả là người thông minh vượt bực. Tuy ông chưa hiểu gì nhiều về Việt Nam mà những câu hỏi của ông vẫn thực tiễn và đi thật sát với vấn đề. Những câu hỏi của ông hoàn toàn khác hẳn những câu hỏi tôi đã dự đoán cho một nhân vật xuất thân trong thế giới học đường như ông.

Lúc này vị giáo sư đang trên đà uy quyền và danh vọng. Tuy vậy trong cuộc họp ở Tòa Bạch Ốc, khi chúng tôi đang cố tìm hiểu lẫn nhau, có lẽ cả tôi lẫn ông ta đều cùng chưa biết rằng về sau ông sẽ là một trong những nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất trong chánh quyền Nixon. Khi gặp ông Kissinger, tôi đã thăm dò ý kiến của ông về vấn đề Việt Nam bằng cách đề cập đến lời tuyên bố của cựu Ngoại Trưởng Clark Clifford. Trước đó ông Clifford đã tuyên bố rằng nếu Việt Nam không chịu tham gia đàm phán với Bắc Việt thì Hoa Kỳ sẽ phải “tham dự một mình.” Tôi phát biểu rằng vấn đề bất đồng ý kiến giữa hai quốc gia là một vấn đề hoàn toàn bất lợi; Vì nếu hai chính phủ không cùng đồng quan điểm về việc đàm phán thì rồi đây cả hai sẽ gặp rất nhiều khó khăn chẳng những với các vấn đề hiện tại mà còn với rất nhiều vấn đề khác về sau.

Vì đây là cuộc họp đầu tiên của tôi với ông Kissinger và chánh quyền mới cũng chỉ mới nhậm chức được vài ngày nên tôi cố tránh không dồn ông Kissinger phải bàn luận chi tiết vấn đề. Tuy nhiên có một điểm đáng chú ý mà tôi nhận thấy ngay là bất kể Hoa Kỳ hoạch định kế hoạch thế nào thì chính phủ mới cũng hết sức chú tâm vào vấn đề Việt Nam. Trong cuộc họp với ông Kissinger, tôi thấy rõ rằng chánh quyền Nixon đã bắt đầu tìm cách để giảm thiểu những sự khác biệt giữa hai quốc gia Hoa Kỳ và Việt Nam. Vì thế, sau khi cuộc họp chấm dứt, tôi cảm thấy hài lòng. Tôi nhận định rằng cho đến lúc đó, Hoa Kỳ vẫn chưa có chánh sách rõ rệt và vì vậy chánh phủ Việt Nam vẫn còn có chút thời gian để có thể tìm cách đối phó với tình hình nếu Hoa Kỳ chuyển hướng. Sáng hôm sau, tôi đánh điện về cho ông Thiệu như sau: Hôm qua, trong cuộc họp đầu tiên với cố vấn Kissinger, tôi đã yêu cầu Hoa Kỳ tìm cách hợp tác với Việt Nam cho hữu hiệu hơn. Tôi nói rằng hai quốc gia cần phải hợp tác chẳng những chỉ để giải quyết những khó khăn lúc này mà còn để đối phó với những khó khăn tương lai nữa. Tôi cũng đã đòi hỏi chính quyền Hoa Kỳ phải giảm thiểu những thái độ thất vọng [chẳng hạn như đối với chánh quyền Sài Gòn] để tránh việc vô hình chung làm hại cho đối phương. Ông Kissinger có nói với tôi: Tổng Thống Nixon vừa mới cho nghiêm lệnh yêu cầu những nhân viên chánh phủ tránh thảo luận hoặc tuyên bố trước dư luận những vấn đề có liên quan đến Việt Nam. Trong cuộc họp, ông Kissinger cũng có đề cập vấn đề thiếu liên lạc giữa hai chánh quyền Việt Mỹ trong những tuần lễ vừa qua và yêu cầu tôi đến gặp ông ta thường xuyên hơn. Ông Kissinger còn nói rằng nói chung thì những mục tiêu cơ bản của hai chánh phủ Hoa Kỳ và Việt Nam chẳng có gì khác biệt, nhưng có lẽ Hoa Kỳ cần phải uyển chuyển trong vấn đề ngoại giao. Có lẽ một trong những danh từ mà tôi vẫn chưa hiểu rõ trong cuộc nói chuyện với ông Kissinger là danh từ “uyển chuyển” (Ông Kissinger đã dùng danh từ này hai lần) mà tôi đã lập lại nguyên văn khi tường trình với ông Thiệu. Ngay lúc mới nghe thì “uyển chuyển” gợi cho tôi một cảm tưởng mơ hồ rằng có lẽ Hoa Kỳ đang muốn tránh những vấn đề khó khăn trên mặt ngoại giao khi phải để cho một đồng minh yếu hơn tham gia vào những cuộc đàm phán. Lúc đó, tôi lầm tưởng rằng đây chỉ là một việc thận trọng vô hại và tự nhiên về phía Hoa Kỳ, nhưng chỉ vài năm sau, tôi đã có rất nhiều dịp để suy nghĩ và kết luận lại vấn đề. Lúc đó, tôi vẫn chưa biết rằng “uyển chuyển” chẳng phải là một danh từ thận trọng vô hại mà là một điềm bất tường báo hiệu một thái độ mới của chánh phủ Hoa Kỳ.

Sau khi gặp ông Kissinger, tôi còn đến gặp tất cả những nhân vật mới vừa nhậm chức. Tôi đặc biệt chú tâm vào những nhân vật có ảnh hưởng quyết định trong việc soạn thảo những chính sách về Việt Nam. Tôi đã ở Hoa Thịnh Đốn khá lâu và đã hiểu rõ tầm mức tranh chấp giữa Bộ này với Bộ khác và một đôi khi ngay cả trong nội bộ của một bộ nữa. Tuy tôi biết cố vấn Kissinger sẽ là người nắm giữ một cương vị vô cùng quan trọng nhưng tôi lại hoàn toàn mù tịt về tầm mức quan trọng trong cương vị của Ngoại Trưởng Rogers. Lúc này, tôi cũng chưa hề hay biết gì về những tranh chấp kịch liệt sẽ xảy ra giữa hai người về sau này. Theo những bạn bè của tôi ở Hoa Thịnh Đốn thố lộ thì vị Ngoại Trưởng mới nổi là người có tài đàm phán chứ không phải là người nhìn rộng thấy xa.

Lúc tôi đến gặp ông ở Bộ Ngoại Giao thì Ngoại Trưởng Rogers tiếp tôi rất niềm nở. Ông có vẻ ít nghiêm khắc hơn cựu Ngoại Trưởng Dean Rusk. Ông Rogers đã từng là Bộ Trưởng Tư Pháp dưới thời TT Eishenhower. Ông là một trong những nhân vật điển hình xuất thân từ những gia đình dòng dõi lâu đời ở miền đông nguyên là một nơi nổi tiếng là thủ đô văn hóa của Hoa Kỳ. Trông ông có vẻ là một người có kiến văn quảng bác hơn là một người thông minh xuất chúng. Tôi cũng cho cảm thấy có lẽ ông không phải là người cương quyết, quyền biến hoặc đặc biệt xuất sắc.

Những nhận định ban đầu của tôi còn rõ rệt hơn khi Ngoại Trưởng Rogers bắt đầu có chuyện xích mích với ông Kissinger. Có lẽ đối với những sử gia thì những chuyện xích mích giữa ông Kissinger và Ngoại Trưởng Rogers quả là một cuộc tranh chấp làm nổi bật tính chất đặc sắc của chính quyền Nixon, nhưng đối với những nhân viên ở các quốc gia khác đang phải đương đầu với những vấn đề khẩn cấp sôi bỏng như tôi thì việc tranh chấp giữa hai bên lại gây thêm một tầng khó khăn. Vì là đại sứ của Việt Nam tôi phải chính thức liên lạc với Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và lẽ đương nhiên phải cố giữ mối giây liên lạc cho được tốt đẹp. Tuy thế, tôi cũng phải tự biết đâu là nơi chính phủ Hoa Kỳ đặt trọng tâm quyền lực để có thể thu thập tin tức cho được chính xác. Công việc của tôi trở thành khó khăn bội phần khi chuyện xích mích giữa vị cố vấn an ninh và vị Ngoại trưởng ngày càng kịch liệt.

Việc tranh chấp của họ gây khó khăn ra sao? Tôi xin đan cử một cuộc tranh chấp điển hình để nêu rõ những khó khăn đã gặp. Vào dịp Giáng Sinh cuối năm 1969, trước khi về Việt Nam để tường trình vấn đề Hoa Kỳ, tôi có đến gặp riêng hai ông Rogers và Kissinger trước khi rời Hoa Kỳ. Từ đầu cuộc chiến cho đến thời gian đó, Bắc Việt và Việt Nam vẫn ngưng bắn vào ngày Giáng Sinh và ngày Tết Tây. Lần đó, tôi đến gặp ông Rogers đúng vào giữa lúc đàm phán ở Ba Lê đang bế tắc và chẳng còn bao lâu nữa thì lại đến ngày Lễ Giáng Sinh sắp tới. Vì tình hình lúc đó như vậy nên ông Rogers cho ý kiến rằng Việt Nam nên tạm kéo dài những ngày ngưng bắn từ Lễ Giáng Sinh cho đến Tết Tây. Ông Rogers cho rằng nếu kéo dài những ngày ngưng bắn thì Việt Nam và Hoa Kỳ có thể sẽ khích lệ Việt Cộng đàm phán hòa bình thực lòng hơn ở Ba Lê. Ngay ngày hôm sau, khi đến gặp cố vấn Kissinger, tôi thông báo rằng Ngoại Trưởng Rogers hết lòng ủng hộ đề nghị ngưng bắn. “Ngưng Bắn?” Ông Kissinger cắt lời tôi, “Không được, ngưng bắn lúc này thì quá sớm.” Sau khi ngừng lại giây lâu ông tiếp tục bằng giọng nói ồ ề ra lệnh cố hữu: “Tôi cũng xin thông báo với ông rằng chánh sách là do Tòa Bạch Ốc đưa ra chứ không phải Bộ Ngoại Giao!”

Ngoài hai ông Kissinger và Rogers tôi cũng có đến gặp Bộ Trưởng Quốc Phòng Melvin Laird. Tôi đã biết ông Laird là nhân vật có nhiều ảnh hưởng trong đảng Cộng Hòa. Khi còn là dân biểu ông đã là một trong những người vận động rất mãnh liệt để ủng hộ Việt Nam. Khi đến gặp Bộ Trưởng Laird lần này, mục đích của tôi là tìm hiểu thực sự xem vị vị dân biểu tháo vát hoạt động ra sao trong giới các tướng lãnh và quân sự ở Ngũ Giác Đài. Trong văn phòng Bộ trưởng, nơi ông McNamara và ông Clark Clifford làm việc trước đây, trông ông Laird ung dung tự tại như thể đã quen thuộc với nơi này từ lâu. Tuy trong chính quyền Nixon, những xích mích giữa Tòa Bạch Ốc và Bộ Ngoại Giao đã khiến người đứng ngoài nhìn vào khó thể quyết định được chính xác ai là người thực sự lập chính sách ngoại giao, nhưng việc lại khác hẳn ở Ngũ Giác Đài. Tôi đã biết rõ Bộ Trưởng Laird là người đứng đầu điều hành các vấn đề quân sự. Khi tôi đến gặp ông, ông Laird chỉ trả lời những câu hỏi dò dẫm của tôi bằng những nụ cười khéo léo. Những câu trả lời của ông chỉ chung chung chứ không hề biểu lộ một chi tiết nào cả.

Bộ trưởng tư pháp John Mitchell cũng là một nhân vật mới được bổ nhiệm tôi mong được gặp. Tuy trên mặt lý thuyết chức vụ Bộ trưởng tư pháp gần như chẳng có gì liên quan đến vấn đề Việt Nam nhưng vì ông là bạn thân của Tổng Thống Nixon nên tuy không phải là nhân viên của hội đồng an ninh, ông Mitchell vẫn thường được mời tham dự các cuộc họp của hội đồng an ninh quốc gia. Hơn nữa, ông Mitchell còn là người được TT Nixon tin cậy và ưa tâm sự. Tôi đã gặp ông một lần trước cuộc bầu cử. Khi gặp lại lần này, ông Mitchell đón tiếp tôi niềm nở như một người bạn thân. Nhờ Bộ Trưởng Mitchell mà sau này ngoài những tin tức chính thức của chính phủ Hoa Kỳ, tôi còn có thêm được rất nhiều những tin tức khác bên trong. Mối liên lạc với ông Mitchell là một trong những mối liên lạc tôi đã hơn một lần dùng đến trong những năm về sau.

Khi đã gặp hết tất cả các nhân vật của chính quyền mới ở Hoa Thịnh Đốn, tôi tiếp tục đến Ba Lê để có thể gặp luôn phái đoàn thương thuyết mới của Hoa Kỳ. Tuy bạn tôi là ông Phillip Habib vẫn ở lại phục vụ như một trong những thành viên cố định, ông Henry Cabot Lodge và ông Lawrence Walsh đã thay thế hai ông Averell Harriman và Cyrus Vance. Ông Habib giờ đây là nhân vật chính thúc đẩy những nỗ lực đàm phán của Hoa Kỳ.

Sau chuyến tiếp xúc với các nhân vật của chính quyền Nixon, tôi bắt đầu tổng kết tất cả những nhận định. Tôi kết luận rằng tại thời điểm này, chính sách của chính phủ Nixon còn đang thành hình và sự thành hình của những chính sách đó hãy còn phôi thai -Những sự thành hình lúc này, bất kể định nghĩa ra sao cũng chẳng thể gọi là chính sách cho được.- Nói một cách tổng quát thì sự thành hình của chính sách Nixon được dựa trên hai điểm chính: Thứ nhất, Hoa Kỳ hy vọng rằng Nga sẽ giúp họ khuyên giải Hà Nội đàm phán thực sự. Thứ hai, chánh quyền Hoa Kỳ cho rằng Sài Gòn sẽ không phản đối việc rút quân. Đây là một giả thuyết Hoa Kỳ chưa thể xác quyết. Nói chung thì Hoa Kỳ tin rằng Nga có thể làm áp lực bắt Hà Nội đàm phán. Hơn nữa, chính quyền Nixon còn cho rằng một khi quân đội Hoa Kỳ đã bắt đầu rút lui thì áp lực chống đối của dân chúng Hoa Kỳ cũng giảm theo. Trong suốt tháng hai và tháng ba, tôi liên lạc với Sài Gòn gần như hàng ngày bằng điện văn và tường trình tất cả mọi tin tức tôi thu lượm được về sự thành hình của chính sách Hoa Kỳ. Tôi vẫn thường tìm cách gặp ông Kissinger để trực tiếp tìm hiểu tin tức. Tôi bắt đầu hiểu rõ được những suy tư sâu sắc của ông, nhưng tôi cũng nhận thấy ông rất kín đáo và khéo tránh vấn đề. Tỉ dụ như có lần khi tôi hỏi về việc đàm phán ông Kissinger đã trả lời rằng: “Tổng thống của ông biết rất rõ. Ông ta là người hiểu rất thấu đáo vấn đề.” Tối đó, tôi điện về Sài Gòn cố tìm hiểu kỹ lưỡng xem ông Thiệu thật sự có biết rõ vấn đề hay không? Tôi cũng điện cho ông Thiệu biết về việc tôi e ngại ông Kissinger không nói rõ mọi chuyện.

Trong khi tất cả chúng tôi còn mù mịt thì ông Kissinger đang ngày đêm bận rộn tìm cách đàm phán với Hà Nội: Vào ngày 20 tháng 12 ông Kissinger đã tìm cách đàm phán qua ông Jean Sainteny, một nhân viên ngoại giao của Pháp khi trước. Vào giữa tháng 3 ông Kissinger lại một lần nữa cố gắng đàm phán với Nga qua ông Cyrus Vance. Tuy những vận động qua ông Sainteny chỉ là những liên lạc môi giới cho những thông điệp giữa ông Kissinger và ông Hồ, những vận động của Hoa Kỳ qua ông Vance là những kế hoạch có tính toán kỹ lưỡng. Khi đàm phán với Nga, ông Kissinger đã tìm cách buộc Nga phải làm áp lực với Hà Nội bằng cách phối hợp những cuộc đàm phán vũ khí nguyên tử (SALT) chung với những cuộc đàm phán của chiến tranh Việt Nam. Ông Vance được phái đi Nga và cho thẩm quyền rộng để đàm phán với Nga Sô kể cả những vấn đề quân sự và chính trị. Cả hai nỗ lực vừa kể đều vô hiệu. Hà Nội vẫn bướng bỉnh ngoảnh mặt. Khi tôi được biết về những nỗ lực của ông Kissinger, tôi đã cảm thấy không được thoải mái cho lắm vì những hành động xé lẻ của ông. Cách hành động của ông Kissinger không đi đôi với những đề nghị “hợp tác gần gũi” giữa hai chánh quyền do chính ông đưa ra với tôi trước đây trong lần gặp đầu tiên.

Kỳ lạ thay, ngay trong khi ông Kissinger cùng ông Vance đang âm thầm tính toán kế hoạch thì hai chánh quyền Hoa Kỳ và Việt Nam bắt đầu tiếp xúc với nhau trong cuộc gặp gỡ đầu tiên. Khi đi công du Âu Châu, tổng thống Nixon đã ngừng ở Pháp và xếp đặt chương trình để gặp ông Kỳ. Lúc này ông Kỳ đang ở Pháp và làm trưởng phái đoàn thương thuyết của Việt Nam. Ông Kỳ yêu cầu tôi bay sang Ba Lê để dự buổi họp. Khoảng đầu tháng 3, đại sứ Phạm Đăng Lâm (thành viên cố định của Việt Nam ở hội nghị), ông Kỳ và tôi đã đến họp với tổng thống Nixon, ông Kissinger, ông Lodge và ông Phillip Habib. Chúng tôi đã duyệt xét toàn bộ vấn đề. Đây là một cuộc họp dài trong một khung cảnh thân hữu. Vì những cuộc đàm phán chính thức giữa Việt Nam và Bắc Việt ở Ba Lê đều thất bại nên trong cuộc họp lần này cả hai chánh phủ đều cùng đồng ý rằng Hoa Kỳ nên để ông Lodge tiếp tục cố đàm phán với Hà Nội bằng những đường dây riêng bên ngoài. Ngoài việc chỉ định ông Lodge tiếp tục những nỗ lực đàm phán, cả tổng thống Nixon lẫn ông Kissinger đều chẳng hề đả động đến bất cứ giải pháp nào khác cả. Sau suốt chín tháng trường đàm phán Bắc Việt vẫn chỉ tiếp tục lập đi lập lại những đòi hỏi bắt buộc Hoa Kỳ phải tự mình rút quân và Việt Nam phải đầu hàng.

Ngay sau khi cuộc họp ở Ba Lê chấm dứt, tôi trở về Hoa Thịnh Đốn nhất định thúc đẩy ông Thiệu sửa soạn duyệt lại toàn diện tình hình và đưa ra những đề nghị mới. Tôi cho rằng đây là một điều tuyệt đối cần thiết để cùng Hoa Kỳ tiến đến một giải pháp chung. Tuy thế tôi vẫn không nhận được bất kỳ bức điện trả lời nào. Tôi biết rằng chẳng bao lâu nữa tổng thống Nixon sẽ bị buộc phải công bố những dự định về hòa bình. Giai đoạn chờ đợi Sài Gòn trả lời là một giai đoạn thất vọng sâu xa cho tôi. Lúc này tôi cho rằng sự im lặng của Việt Nam là do tính chần chừ và thiếu khả năng quyết định của ông Thiệu. Tôi biết đại sứ Bunker thế nào cũng khuyên ông Thiệu nên im lặng vì giai đoạn này là giai đoạn các chính sách của chánh phủ mới ở Hoa Kỳ đang bắt đầu thành hình. Hơn nữa, tôi còn biết rằng ông Kissinger đang vận động ngầm. Tôi thấy rằng bất kể chánh quyền Nixon tuyên bố với Việt Nam ra sao, Hoa Kỳ vẫn đang cố dùng mọi cách chuyển tiên cơ hành động về phía họ.

Trong khi tôi hãy còn đang lo âu về vấn đề Việt Nam phải có sáng kiến trước khi Hoa Kỳ đưa ra chính sách đối với cuộc chiến Việt Nam thì bỗng dưng lại phải bỏ thời giờ để đối phó với một vấn đề chẳng ăn nhập gì vào những vấn đề đang khiến tôi phải ngày đêm lo lắng. Lúc này quốc hội Việt Nam đang bắt đầu tìm hiểu các thể thức dân chủ và rồi thình lình gửi đi hàng loạt phái đoàn thăm viếng sang Hoa Kỳ. Chẳng hiểu bằng cách nào đó, nhiều dân biểu và rất nhiều nhân viên từ các cơ quan của chính phủ Việt Nam đã tìm được cách đi công du qua những phái đoàn “tìm hiểu.” Còn nơi nào rõ rệt hơn để tìm hiểu những quá trình dân chủ hơn là ngay ở trung tâm một nước dân chủ lớn nhất thế giới? Từng toán công du thi nhau đến tòa đại sứ, đòi hỏi gần như bất tận về mọi nhu cầu. Tôi phải thường xuyên sắp xếp giờ giấc để những phái đoàn Việt Nam có thể gặp gỡ phía Hoa Kỳ. Hơn nữa, họ cũng có những nhu cầu du lịch hoặc mua sắm. Những lúc như thế họ thường gọi tòa đại sứ để giúp họ liên lạc. Chẳng bao lâu sau chúng tôi đã bắt đầu quen thuộc với những chuyện sắp xếp để đưa du khách đi thăm thác Niagara và những thắng cảnh nổi tiếng khác. Có lần lời yêu cầu được thăm viếng Salem đã làm chúng tôi điên đảo. Theo bản đồ của chúng tôi thì có cả hàng chục chỗ cùng mang tên Salem. Tuy thế lại chẳng ai trong chúng tôi đủ hiểu biết để quyết định phải đến chỗ nào và tại sao chỗ đó lại là nơi nhiều người thăm viếng. Lần khác, chúng tôi nhận được điện thoại than phiền rằng có một toán công du Việt Nam đang mặc đồ Pajama đi dạo trong một khách sạn sang trọng bậc nhất nước Mỹ. Họ hoàn toàn không để ý đến quan niệm ăn bận khác biệt giữa hai dân tộc Việt, Mỹ.

Giữa lúc những chuyện phức tạp này diễn ra thì Bộ Ngoại Giao thông báo cho tôi biết rằng Xuân Thủy, đại diện Hà Nội ở Ba Lê đã đồng ý nói chuyện riêng với đại sứ Henry Cabot Lodge. Buổi nói chuyện đầu tiên bắt đầu vào ngày 22 tháng 3. Vì chưa thảo luận được trước với Hoa Kỳ, Sài Gòn nhốn nháo lo lắng không hiểu những cuộc nói chuyện này rồi sẽ đi đến đâu. Tuy thế những lo âu của Việt Nam về việc đàm phán giữa Hà Nội cùng Hoa Kỳ diễn ra thật là ngắn ngủi. Không hiểu vì sao Xuân Thủy lại bằng lòng gặp riêng ông Lodge vì khi gặp gỡ, những đòi hỏi của anh ta vẫn chỉ là những lời lập lại y hệt những gì Bắc Việt đã tuyên bố công khai trước đây.

Năm ngày sau thì ở Hoa Kỳ lại có một biến cố khác. Vào ngày 28 tháng 3, cựu tổng thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower từ trần tại bệnh viện Wal-ter Reed sau một cơn bệnh dai dẳng. Tối đó tôi được tin rằng ông Kỳ sẽ đến Hoa Thịnh Đốn thay mặt chánh quyền Việt Nam dự lễ đưa tang. Ông Kỳ dĩ nhiên cũng chỉ đến Hoa Kỳ như những quốc trưởng từ các quốc gia khác, chẳng hạn như Tổng Thống C-harles de Gaulle của Pháp. Tất cả những vị quốc trưởng của các quốc gia khác đều đến Hoa Kỳ với mục đích chính là để để dự lễ đưa tang của ông Eisenhower. Tuy thế, vì tình trạng Việt Nam cũng đang là một trong những vấn đề cần được chú tâm nên tôi đã nhân cơ hội ông Kỳ đến Hoa Kỳ để sắp xếp cho ông đến gặp những dân biểu quốc hội đang ủng hộ Việt Nam và các nhân viên quân sự Hoa Kỳ ở Ngũ Giác Đài. Ngoài ra tôi còn sắp xếp cho ông đến gặp riêng Ngoại Trưởng Rogers, cố vấn Kissinger và Tổng Thống Nixon.

Vào ngày 1 tháng 4, tôi theo ông Kỳ đến toà Bạch Ốc. Ngay lúc này tổng thống Nixon cũng mời ông Kissinger và ông Ellsworth Bunker đến họp. Ngay cả trong lần họp này mà Tổng Thống Nixon và ông Kissinger vẫn không thổ lộ bất kỳ điều gì quan trọng về chiến lược của Hoa Kỳ. Tổng thống Nixon tỏ vẻ hài lòng về sự hợp tác gần gũi của hai chánh phủ Mỹ, Việt. Khi ông nhận định về cuộc chiến Việt Nam, tổng thống Nixon có nói rằng mục đích của cuộc đàm phán ở Ba Lê phải là hòa bình vĩnh cửu. Nếu cuộc đàm phán đó chẳng thể đạt được hòa bình vĩnh cửu, mà chỉ đạt được “một sự ngưng bắn tạm trong một khoảng thời gian nào đó” thì quả việc chẳng có ích lợi gì. Ông cũng yêu cầu chúng tôi phải đặt tin tưởng vào Hoa Kỳ.

Sau cuộc họp với Tổng Thống Nixon, chúng tôi còn tổ chức thêm một cuộc họp riêng khác với ông Kissinger nhưng sau cuộc họp đó chúng tôi cũng chẳng thu thập được thêm tin tức gì mới. Và rồi thật tình cờ, khi Ngoại Trưởng Rogers đến dùng bữa trưa ở tòa đại sứ, chúng tôi lại vô tình nghe được một số tin tức tương đối đáng lưu ý. Trong khi chúng tôi cùng ăn bữa trưa thì ông Rogers có vẻ hân hoan khác thường. Không chút quanh co, ông Rogers đi thẳng vào vấn đề. Ông nói rằng chẳng còn cách gì khác ngoài việc rút đi một ít quân Hoa Kỳ. Ông hỏi rằng nếu Hoa Kỳ rút quân thì họ phải làm thế nào để tăng cường quân lực Việt Nam và giúp Việt Nam đối phó được với thời cuộc? Về mặt chính trị, ông Rogers cũng dò hỏi những phương thức kết hợp để Mặt Trận Giải Phóng có thể tham gia chánh phủ một khi nhóm này lên tiếng từ bỏ bạo động và chấp nhận những tiêu chuẩn tranh đấu chính trị bằng những phương pháp hòa bình.

Cả ông Kỳ lẫn tôi đều không tin rằng Mặt Trận Giải Phóng sẽ tách rời với Hà Nội hoặc từ bỏ những mục đích tấn công bằng bạo lực do Trung Ương Đảng Cộng Sản Bắc Việt đề ra. Nhưng vì cả hai chúng tôi đều không biết ông Rogers đã mất đi khá nhiều quyền lực và không còn ảnh hưởng gì mạnh đối với những quyết định ngoại giao của Hoa Kỳ nên chúng tôi đã cho rằng đây có thể là những suy nghĩ về chiều hướng cuối của Hoa Kỳ.

Vào khoảng đầu tháng 4, nhờ vào nhiều nguồn tin ở Hoa Thịnh Đốn, tôi được biết ông Kissinger đã cho lệnh Ngũ Giác Đài nghiên cứu các chương trình rút quân. Tôi báo cho Sài Gòn biết về việc này và cũng nói thêm rằng đã đến lúc Việt Nam phải đối phó với sự thật. Những điểm căn bản trong kế hoạch Hoa Kỳ đã bắt đầu được áp dụng: Kế hoạch của Hoa Kỳ vào lúc này là một Kế Hoạch Lưỡng Đầu nhằm kết hợp việc rút quân (Chỉ sau một thời gian ngắn sau đó chương trình rút quân đã được gọi là Việt Nam Hóa Chiến Tranh) cùng những cuộc đàm phán bí mật. Thật sự kế hoạch rút quân sẽ ăn khớp ra sao với những cuộc đàm phán bí mật và Hoa Kỳ sẽ điều đình thế nào là điều chúng tôi hoàn toàn không rõ. Vì vậy tôi đã yêu cầu được gặp ông Kissinger để có thể tìm hiểu vấn đề thấu đáo hơn.

Vào ngày 6 tháng 5 năm 1969, tôi tới gặp ông Kissinger tại văn phòng. Trái với những điều tôi suy nghĩ từ trước, khi cuộc bàn luận kết thúc, tôi cảm thấy bớt bi quan. Ông Kissinger nói với tôi rằng tuy có rất nhiều “Trung tâm quyền lực” ở khắp mọi nơi trong Hoa Thịnh Đốn, nhưng Tòa Bạch Ốc thật sự vẫn nắm vai trò lãnh đạo. Sau đó ông Kissinger tiếp tục thảo luận vấn đề rút quân. Ông quả quyết với tôi rằng việc rút quân sẽ tùy thuộc vào khả năng của quân đội Việt Nam hơn là vào những áp lực của dân chúng Hoa Kỳ. Ngay cả sau khi quân đội Hoa Kỳ đã rút ra khỏi Việt Nam, một lực lượng tối thiểu cần thiết sẽ ở lại. Sau cùng, ông Kissinger lập lại một lần nữa rằng tổng thống Nixon luôn luôn chú ý đến tầm mức quan trọng của sự hợp tác giữa hai chánh phủ Mỹ Việt. Vì thế sẽ không có bất kỳ quyết định nào là quyết định chánh thức nếu Sài Gòn không được báo trước, chưa duyệt qua hoặc không đồng ý. Đặc biệt ông Kissinger muốn chính phủ Việt Nam hiểu rõ rằng vấn đề rút quân chắc chắn không phải là một tấm bình phong ngụy trang che dấu sự bỏ cuộc của Hoa Kỳ. Mặt khác, tôi đã biết rõ rằng cuộc điều đình giữa ông Lodge và Xuân Thủy sẽ chẳng đi đến đâu.

Gần như sau buổi họp này, mọi hoạt động bắt đầu tiến triển. Vào ngày 8 tháng 5 ở Ba Lê, Bắc Việt đưa ra một kế hoạch 10 điểm mà họ cho là sẽ kết thúc chiến cuộc một cách công bằng. Những điểm Bắc Việt đề ra cũng lại chẳng khác gì những điều đòi hỏi Hoa Kỳ phải đơn phương rút quân và Việt Nam phải tự động tuyên bố giải tán chánh phủ lúc đó.

Đề nghị do Bắc Việt đưa ra được Tổng Thống Nixon trả lời trong một buổi nói chuyện truyền hình toàn quốc với kế hoạch 8 điểm của Hoa Kỳ vào ngày 14 tháng 5-1969. Đây là kế hoạch sửa soạn kỹ càng nhất của Hoa Kỳ từ trước tới nay. Kế hoạch này đòi hỏi Bắc Việt phải rút quân cùng lúc với Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam. (Trước đây, Hoa Kỳ vẫn đòi hỏi Bắc Việt phải rút quân sáu tháng trước khi Hoa Kỳ bắt đầu rút quân) Tổng thống Nixon cũng tuyên bố Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận Mặt Trận Giải Phóng tham gia vào đời sống chính trị ở Việt Nam. Hơn nữa, Hoa Kỳ còn đồng ý để dân chúng được tự do bầu cử dưới sự giám sát của các ủy ban Quốc Tế. Ngay sau khi bài diễn văn của tổng thống Nixon chấm dứt, ở một buổi họp báo liền sau đó, ông Kissinger đã nhấn mạnh tính chất “uyển chuyển” của kế hoạch đưa ra và tuyên bố rằng kế hoạch này đã được Sài Gòn “thông qua.”

Tất cả mọi diễn biến xảy ra thật là kinh ngạc. Tuy đã có trao đổi sơ qua với Sài Gòn, Hoa Kỳ vẫn chưa hề tham khảo với chính quyền Sài Gòn trong chi tiết và cũng chưa hề có sự đồng ý nào đáng kể của Việt Nam. Chưa có gì có thể gọi là “thông qua” từ phía Việt Nam cả. Thật ra, khoảng hai ngày trước khi có cuộc họp báo của ông Kissinger, tôi có được thông báo rằng đại sứ Bunker sẽ đưa kế hoạch của Hoa Kỳ cho ông Thiệu. Điện văn của tôi gửi cho ông Thiệu dặn ông trước về việc này được gửi đi vào ngày 12 tháng 5. Chính quyền Việt Nam không hề có đủ thời gian để bác bỏ kế hoạch của tổng thống Nixon. Việt Nam đã bị buộc phải chấp nhận những điều Hoa Kỳ vừa tuyên bố. Lề lối tham khảo lấy lệ lúc đó của Hoa Kỳ thực sự đã là những triệu chứng đầu tiên về những thái độ về sau này của Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Những đòn phép bắt buộc cũng như những toan tính cưỡng bức độc đáo của chính quyền Nixon với đồng minh đã bắt đầu mở màn với chiêu thức độc đáo đầu tiên. 

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"