Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

28 – Vụ Anna Chennault 


Chương 28
Vụ Anna Chennault

Sau khi Thượng Nghị Sĩ Robert Kennedy bị ám sát thì cuộc bầu cử tổng thống của Hoa Kỳ chuyển thành một cuộc tranh cử giữa hai ông Hubert Humphrey và Ric-hard Nixon. Tôi đã biết ông Humphrey từ nhiều năm trước. Chúng tôi quen nhau kể từ khi ông còn là Thượng Nghị Sĩ và mối giao hảo đó kéo dài cho đến khi ông làm Phó Tổng Thống. Kể từ khi ông đắc cử Phó Tổng Thống cho đến nay, lúc nào ông Humphrey cũng hết lòng ủng hộ những chính sách chiến tranh của Tổng Thống Johnson. Ông Humphrey ủng hộ các chính sách phát triển nông thôn của Tổng Thống Johnson một phần cũng vì là những chính sách đó rất hợp với khuynh hướng dân chủ cấp tiến của ông. Vì thế, khi Tổng Thống Johnson tuyên bố không ra ứng cử, thì Phó Tổng Thống Humphrey bị đặt vào một tình thế khó xử. Tuy ông Humphrey biết rõ rằng cách vận động tranh cử hữu hiệu nhất vào lúc này là tạm lánh xa những chính sách chiến tranh, nhưng ông lại không thể đi ngược lại những chủ trương của chính ông và Tổng Thống Johnson, nhất là khi Tổng Thống Johnson vẫn là người dẫn đầu trong đảng và hãy còn là đương kim Tổng Thống. Cương vị khó khăn của ông Humphrey là phải dung hòa tất cả mọi mâu thuẫn khi ra tranh cử.

Còn về phần ông Nixon thì tôi đã gặp ông từ năm 1953 khi ông đến viếng thăm Việt Nam. Lúc đó ông còn là Phó Tổng Thống dưới thời Eisenhower. Vào năm 1960, khi ông Nixon ra ứng cử tổng thống thì những hiểu biết của tôi về ông có rõ rệt hơn một chút. Tuy vậy, trong cuộc tranh cử năm 1960, tôi không ủng hộ ông Nixon mà lại ủng hộ một vị Thượng Nghị Sĩ trẻ khác cũng ra ứng cử lúc đó là Thượng Nghị Sĩ John F. Kennedy. Lúc Thượng Nghị Sĩ Kennedy đắc cử tôi đã cảm thấy hết sức vui mừng. Tôi đã hết lòng ủng hộ các đảng viên dân chủ kể từ năm 1960, nhưng vào năm 1968, vì chính quyền Johnson không được dân chúng Hoa Kỳ ủng hộ và các đảng viên dân chủ lại đang vận động tranh cử bằng cách cố né tránh vấn đề Việt Nam nên tôi bắt đầu cảm thấy mình bắt đầu chú ý ứng cử viên Nixon nhiều hơn.

Vào giữa tháng sáu năm 1968, khi các vận động tranh cử đang ngày càng sôi nổi thì bà Anna Chennault bỗng đề nghị tôi đến gặp riêng ứng cử viên Nixon. Bà Chennault nguyên là vợ của Tướng Không Quân Claire Chennault, người đã chỉ huy đội bay lừng danh Flying Tigers ở Miến Điện trong thế chiến thứ hai. Sinh trưởng trong một gia đình Trung Hoa, sau khi thế chiến chấm dứt, bà trở thành một trong những người Hoa Kỳ gốc Á nổi bật. Bà đã hoạt động kêu gọi ủng hộ cho Trung Hoa và tham gia nhiều đoàn thể chính trị ở Hoa Thịnh Đốn.

Bà Chennault rất chú tâm đến vấn đề Việt Nam. Bà thường xuyên thăm viếng Việt Nam nhiều lần trước đây và cũng có một người chị sống ở Sài Gòn. Hơn nữa, công ty máy bay vận tải Flying Tigers của chồng bà sáng lập sau chiến cuộc cũng đã chuyên chở rất nhiều quân nhu và quân cụ cho cả Bộ Quốc Phòng Việt Nam lẫn Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Tôi gặp bà Chennault lần đầu ở Sài Gòn vào năm 1965, khi còn là phụ tá đặc biệt cho ông Kỳ. Lúc đó, ông Kỳ có tiếp xúc với bà Chennault rất nhiều. Tôi quen với bà Chennault là vì chúng tôi vẫn thường trò chuyện. Trong những cuộc nói chuyện với bà Chennault khi còn ở Việt Nam, tôi thường hỏi bà để biết rõ thêm về những tin tức ở Hoa Thịnh Đốn. Sau này, khi tôi sang làm việc ở Hoa Kỳ thì chính bà cũng là người đã giúp đỡ tôi làm quen với các hoạt động chính trị của Hoa Kỳ. Một trong những người mà bà Chennault giới thiệu với tôi là ông Tom Corcoran. Ông Corcoran nguyên là một chính trị gia nổi tiếng thuộc đảng dân chủ. Lúc chính sách New Deal, một chính sách nổi tiếng của đảng dân chủ, được tổng thống Roosevelt đưa ra để đối phó với những khó khăn về kinh tế của Hoa Kỳ trong thập niên 1930 thì ông Corcoran cực lực ủng hộ chánh sách đó. Những sự ủng hộ nồng nhiệt của ông Corcoran đối với chính sách New Deal đã khiến chính giới Hoa Kỳ gọi ông là New Dealer (Nhân vật New Deal) và gán cho ông biệt danh là Mr. Democrat. Chính ông Corcoran là người đã đưa bà Chennault vào những hoạt động chinh trị ở Hoa Thịnh Đốn. Sau này, ông Corcoran trở thành một trong những người bạn thân và cố vấn quan trọng của tôi. Bà Chennault cũng chính là người đã giới thiệu tôi với Thượng Nghị Sĩ Everett Dirksen, lãnh tụ Cộng Hòa ở Thượng Viện Hoa Kỳ. Lời giới thiệu của bà đã khiến ông Dirksen hưởng ứng vô cùng niềm nở và cho phép tôi tìm đến cầu viện ông Dirksen rất nhiều về sau.

Vào tháng sáu năm 1968, thì dư luận ngày càng chú ý đến cuộc bầu cử tổng thống của Hoa Kỳ. Khi tôi, Thượng Nghị Sĩ John Tower của đảng Cộng Hòa và bà Chennault đang cùng dùng bữa tối ở Câu Lạc Bộ Georgetown thì bà Chennault bỗng đề nghị rằng tôi nên đến gặp vị ứng cử viên của đảng Cộng Hòa. Lúc này, bà Chennault đang vận động cho ứng cử viên Nixon. Bà cho biết rằng bà có thể dàn xếp cho tôi tiếp xúc với ứng cử viên Nixon rất dễ dàng. Đề nghị của bà Chennault quả là một đề nghị khác thường. Tôi hứa sẽ cho bà biết ý kiến sau khi suy nghĩ chín chắn lại vấn đề. Lúc này, những nhân viên phụ tá của tôi cũng đang nỗ lực vận động để chuyển vấn đề chiến tranh Việt Nam thành một đề tài cần được dư luận chú ý trong cuộc bầu cử Tổng Thống của Hoa Kỳ. Chính tôi cũng đang tìm cách đem vấn đề Việt Nam vào cuộc tranh cử. Thật không ngờ lúc này tôi lại có cơ hội được đích thân gặp mặt đối mặt với một trong những ứng cử viên.

Vấn đề gặp ông Nixon đã khiến tôi do dự là vì lúc này cuộc đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt vẫn còn tiếp diễn. Trong cuộc đàm phán đó, tôi là quan sát viên và được biết tường tận các chi tiết đàm phán của đảng dân chủ [Tổng Thống Johnson là người thuộc đảng Dân Chủ]. Trong khi đó thì ông Nixon lại là người của đảng Cộng Hòa. Cứ theo tình hình mà luận thì cơ hội gặp gỡ giữa tôi và ứng cử viên Nixon là một trong những cơ hội vô cùng hấp dẫn nhưng cũng lại là một trong những trường hợp vô cùng tế nhị đối với tôi. Vì thế, nếu không thận trọng khi đến gặp ông Nixon, tôi có thể gây những sự hiểu nhầm và có thể bị mang tiếng rằng tôi cố mưu toan để vận động sau lưng đảng Dân Chủ. Đây là một trong những điều tôi muốn tránh hoàn toàn. Tổng Thống Johnson là một người bạn tốt của Việt Nam. Hơn nữa, ông Humphrey lại có thể thắng cử. Tôi thực tình không muốn làm hại đến tình hữu nghị giữa Việt Nam và những người trong đảng Dân Chủ. Nhưng làm sao tôi có thể chối từ không gặp gỡ với ứng cử viên của đảng Cộng Hòa cho được? Khi đã cân nhắc mọi việc, tôi quyết định sẽ đến gặp ứng cử viên Nixon nếu bà Chennault nhận dàn xếp. Tuy thế, đây là sáng kiến của riêng cá nhân tôi chứ không hề có bất cứ chỉ thị nào của chính phủ Việt Nam cả. Tôi định sẽ tự mình làm hết mọi việc, không thông báo với Sài Gòn. Nếu về sau có gì trắc trở thì ông Thiệu có thể chối bỏ mọi sự và đổ lỗi cho riêng cá nhân tôi.

Vào đầu tháng 7, năm 1968, khi từ Ba Lê trở về Hoa Thịnh Đốn, tôi được thông báo rằng bà Chennault có thể dàn xếp cho tôi gặp ông Nixon. Theo như dự liệu thì tôi sẽ gặp ứng cử viên của đảng Cộng Hòa vào ngày 12 tháng 7. Theo quyển Kẻ Giữ Bí Mật và quyển Những Kẻ Mại Quyền thì vào lúc này tôi đã bị mật vụ CIA theo dõi. Hơn nữa, văn phòng An Ninh Quốc Gia của Hoa Kỳ cũng đã dò xét tất cả những bức điện tôi gửi về Sài Gòn. Nếu đây là sự thực thì quả tình lúc đó tôi hoàn toàn không hề hay biết. Nhưng lúc này tôi cho rằng việc tôi định gặp ứng cử viên Nixon là một việc khó có thể dấu diếm. Tôi cho rằng dù tôi có dấu diếm cách nào đi nữa thì rồi đây chính quyền Johnson cũng sẽ biết rõ cuộc gặp gỡ giữa tôi và ứng cử viên Nixon.

Lúc này, tôi vẫn thường xuyên đến gặp ông William Bundy và ông Walt Rostow để tham khảo những vấn đề liên quan đến cuộc đàm phán hoà bình ở Ba Lê và cũng để sửa soạn cho cuộc hội nghị thượng đỉnh sắp đến giữa tổng thống Johnson và ông Thiệu. Vì thế, tôi đã mượn dịp để mang vấn đề tôi định gặp ứng cử viên Nixon ra thảo luận với ông William Bundy. Vì vừa là bạn thân, lại vừa là một trong những nhà Ngoại Giao kỳ cựu, ông Bundy hiểu rõ hoàn cảnh của tôi. Khi nói chuyện với ông Bundy, tôi có hứa là khi gặp ứng cử viên Nixon, những vấn đề thảo luận của chúng tôi sẽ chỉ là những vấn đề tổng quát. Chúng tôi sẽ không đi sâu vào chi tiết hoặc nội dung của những cuộc đàm phán hòa bình ở Ba Lê.

Sau khi đã nói chuyện với ông Bundy và vững tâm rằng mình đã tìm được lối thoát cho một vấn đề khó khăn, vào ngày 12, tôi bay về Nữu Ước để gặp ông Nixon tại văn phòng nơi ông dùng điều động cuộc bầu cử ở khách sạn Pierre. Khi tôi đến nơi thì bà Chennault đã có mặt trong phòng đợi từ trước. Vài phút sau tôi được gặp cả ông Nixon lẫn ông John Mitchell, nguyên là luật sư và cố vấn riêng của ông Nixon. Tuy trước đây tôi có nghe lời đồn rằng ông Nixon là một người rất khó tính, nhưng hôm đó ông tiếp đãi tôi thật là niềm nở. Ông chăm chú nghe tôi tường trình đại cương tình hình Việt Nam và về việc cần thiết phải trang bị những binh sĩ Việt Nam bằng M-16 cùng những khí giới khác tối tân hơn. Trong khi bàn luận, ông Nixon đã hỏi tôi về múc độ lệ thuộc trầm trọng của Bắc Việt vào Liên Xô cũng như Trung Hoa và về các áp lực mà cả hai đại đồng minh của Bắc Việt có thể ảnh hưởng trực tiếp với chánh quyền Bắc Việt.

Khi cuộc bàn luận kết thúc, tôi có đề cập đến vấn đề các phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ đang ngày càng dâng cao. Tôi nói thẳng với ông Nixon những linh cảm của tôi về vấn đề Hoa Kỳ sẽ rút quân và đề nghị rằng Hoa Kỳ nên có những chương trình huấn luyện cho quân đội Việt Nam để họ có thể tự mình gánh vác mọi sự. Ông Nixon đồng ý tức thời. Vào lúc này, tôi chưa hề biết rõ rằng ứng cử viên Nixon đã bắt đầu suy nghĩ về việc thi hành cùng một lúc cả kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh lẫn đàm phán, nhưng chỉ trong vòng một năm sau đó, những kế hoạch này đã trở thành rường cột của chánh quyền Nixon. Sau cùng ông Nixon ngỏ lời cám ơn tôi đã đến gặp ông. Ông cũng nói thêm rằng nhân viên phụ tá của ông sẽ liên lạc với tôi qua ông John Mitchell và bà Anna Chennault. Tôi ra về khi cuộc họp kết thúc, lòng vô cùng phấn khởi, chẳng những vì những tiến triển tốt đẹp của cuộc họp mà còn là vì tôi đã giữ đúng lời hứa với ông Bundy và đã không động chạm gì tới việc đàm phán.

Sau đó, những chuyến bay liên tục qua Ba Lê, Hoa Thịnh Đốn và Sài Gòn đã khiến tôi quên hẳn cuộc họp với ứng cử viên Nixon. Tuy thế, chỉ vài tháng sau, buổi họp này lại thình lình trở lại ám ảnh tôi. * * * * *

Vào ngày 18 tháng 7 Tổng Thống Johnson đến gặp ông Thiệu ở Honolulu. Tại đây, cuộc họp chẳng có gì khác hơn là những điểm tổng quát xác định lại sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với Việt Nam và nhắc lại những cố gắng nhằm đem lại hòa bình. Trong khi đó đàm phán ở Ba Lê vẫn tiếp tục cứng nhắc, chẳng hề có dấu hiệu gì tiến triển và thời khóa biểu của tôi vẫn đặc nghịt giờ giấc những chuyến bay và những buổi thảo luận cần thiết. Một hôm, khi tôi từ Hawaii bay ngược về Hoa Thịnh Đốn để sửa soạn tham dự một buổi thảo luận thì bỗng nhà tôi chợt hỏi rằng liệu tôi đã biết mình đang lên đường đi đâu và đã biết rõ mình sắp sửa ăn nói ra sao chưa? Tôi trả lời rằng tài xế đã biết rõ địa điểm nhưng tôi thì lại chưa. Trả lời xong, tôi mới thấy rằng thời khóa biểu chất chồng đã khiến tôi không còn đủ sức để đối phó với tất cả những vấn đề khó khăn được nữa. Tôi đã bắt đầu kiệt lực vì những chuyến bay từ Ba Lê qua Hoa Thịnh Đốn cộng thêm những chuyến bay ở khắp Hoa Kỳ để thuyết trình. Bởi thế tôi nhất định yêu cầu Sài Gòn phải tìm người thay thế tôi làm việc ở Ba Lê. Vào ngày 28 tháng 8, tôi qua Ba Lê lần cuối để giới thiệu đại sứ Phạm Đăng Lâm với Thống Đốc Harriman và phái đoàn đàm phán Hoa Kỳ. Ông Lâm là nhân vật mới mà chính quyền Việt Nam gửi sang để thay thế tôi làm quan sát viên ở Ba Lê.

Hôm sau, tôi trở lại Hoa Thịnh Đốn. Tại Hoa Kỳ, cuộc bầu cử tổng thống đã thực sự phát động và chiến tranh Việt Nam trở thành một trong những đề tài tranh luận sôi nổi nhất của cuộc bầu cử. Về phía đảng Cộng Hòa thì ứng cử viên Nixon tuyên bố rằng ông đã có một kế hoạch bí mật để chấm dứt chiến tranh. Trong khi đó thì đảng Dân Chủ đang phải đối phó với những chống đối chiến tranh ngày một gắt gao và ông Humphrey đang cố vận động để có một thái độ không quá trùng hợp với lập trường và những chính sách của chánh phủ Johnson khi trước. Riêng đối với tôi thì đây chính là giai đoạn để trình bày tất cả mọi vấn đề của Việt Nam với tất cả những nhân vật có ảnh hưởng trong chính giới Hoa Kỳ. Tôi bắt đầu tiếp xúc thẳng với các Thượng Nghị Sĩ, các dân biểu của hai đảng, các nhà báo, các bình luận gia và tất cả những nhân vật mà tôi có thể liên lạc. Lúc này, vì đảng Dân Chủ đang cố tránh xa vấn đề chiến cuộc Việt Nam, tôi thấy mình càng ngày càng bị kéo hẳn về hướng đảng Cộng Hòa. Chỗ thuận lợi nhất để vận động các đảng viên Cộng Hòa là chỗ ở của bà Chennault. Vì giàu có, bà Chennault luôn luôn tổ chức những buổi họp mặt gặp gỡ hoặc tiệc tùng. Những buổi tiếp tân do bà tổ chức thường bao gồm gần như tất cả các nhân vật trong giới chính trị ở Hoa Thịnh Đốn. Vào tháng 10-1968, tôi đã liên lạc lại với bà Chennault. Lúc này bà là một trong những người đứng đầu Ủy Ban Gây Qũy nhằm mục đích vận động cho cuộc bầu cử của Ứng Cử Viên Nixon. Tôi cũng liên lạc với Thượng Nghị Sĩ John Tower, chủ tịch Ủy Ban soạn thảo chương trình Nghị Sự của đảng Cộng Hòa. Trong lúc vận động tôi đã gặp cả ông George Bush và nhiều đảng viên Cộng Hòa khác. Đây là một giai đoạn căng thẳng đối với các đoàn thể chính trị ở Hoa Kỳ. Thống kê cho thấy số phiếu của ứng cử viên Hubert Humphrey đang dẫn đầu.

Trong khi ở Hoa Kỳ cuộc tranh cử ngày càng dữ dội thì ở Ba Lê đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt vẫn tiếp diễn. Vào ngày 15 tháng 10 năm 1968, khi trở lại Hoa Thịnh Đốn để tham khảo ý kiến, ông Phil Habib đã đến gặp tôi và cho biết Bắc Việt đang hưởng ứng lời đề nghị ngừng thả bom ở những khu vực ở trên vĩ tuyến 17. (Lệnh ngưng dội bom của Tổng Thống Johnson không bao gồm mạn Nam Miền Bắc. Tại những khu vực mạn Nam, Cộng Sản vẫn tấn công những đội quân của Hoa Kỳ và Việt Nam tại vùng I) Để đổi lại, Bắc Việt vui lòng mở rộng đàm phán ở Ba Lê để có sự tham dự của chính phủ Việt Nam ở Sài Gòn -Những người mà họ cho là “tay sai” và “bù nhìn”- và đồng thời của cả Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, những người mà họ gọi là “Những đại biểu chân chính của Miền Nam Việt Nam.”

Tôi đã biết những biến chuyển này từ trước qua những bức điện của Sài Gòn. Theo tôi thì ông Thiệu cho rằng sự nhượng bộ của Bắc Việt thật ra chỉ là những thủ đoạn dùng để ảnh hưởng cuộc bầu cử ở Hoa Kỳ về một hướng có lợi cho ông Humphrey. Bắc Việt hưởng ứng đề nghị của tổng thống Johnson vào lúc này là vì họ đã thấy rõ quá trình chống cộng của ông Nixon. Khi nhận lời đàm phán với Hoa Kỳ, Bắc Việt vừa tránh được những cuộc dội bom của Hoa Kỳ lại vừa ảnh hưởng được cuộc bầu cử ở Hoa Kỳ theo ý họ. Để đổi lại, họ bằng lòng bắt đầu một đợt đàm phán mới. Tầm mức quan trọng của đợt đàm phán này cũng lại do họ hoàn toàn quyết định. Nói tóm lại thì họ vẫn chẳng mất mát gì.

Khi Hoa Kỳ quyết định chấp nhận Mặt Trận Giải Phóng như một thành viên trong cuộc đàm phán thì ông Thiệu vô cùng phẫn nộ. Những phẫn nộ của ông không phải hoàn toàn vô cớ. Thật ra, vì được báo cáo riêng từ nhiều tháng trước, ông Thiệu đã biết rõ Hoa Kỳ sẵn sàng chấp thuận yêu cầu của Bắc Việt về vấn đề bao gồm cả MTGP vào cuộc đàm phán. Khi chấp nhận MTGP, Hoa Kỳ đã trình bày rằng họ vẫn xem cuộc đàm phán là một cuộc đàm phán của hai phe là phe Bắc và phe Nam và vì vậy dù Bắc Việt có đưa thêm bất kỳ đoàn thể nào vào đi nữa thì cuộc đàm phán tựu trung vẫn chỉ là một cuộc đàm phán giữa hai phe Nam, Bắc. Trước đây, vì bị áp lực của Hoa Kỳ nên dầu vẫn nghi ngờ và do dự, ông Thiệu có lẽ đã đồng ý điều kiện này vào tháng 7. Khi nhận lời, ông Thiệu nghĩ rằng Bắc Việt sẽ không bao giờ đồng ý đàm phán. Nhưng lúc này họ lại đồng ý, nhất là lại đồng ý vào một thời điểm khắc nghiệt: Chỉ trước thời gian bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ. Đây là một thời điểm mà Hoa Kỳ đang phải đối phó với các vấn đề khác bên trong nội bộ chẳng hạn như tình trạng kinh tế, nạn thất nghiệp, vấn đề an sinh xã hội. Áp lực của cuộc bầu cử ở Hoa Kỳ đã khiến vấn đề chiến tranh Việt Nam biến thành một vấn đề nhỏ hơn những vấn đề to lớn khác mà Hoa Kỳ cần phải giải quyết. Lúc này đảng dân chủ bị buộc phải hành động ngay để giải quyết vấn đề chứ chẳng thể bỏ thêm thời giờ để xem xét kỹ càng mọi chuyện.

Tôi rất thông cảm với những sự lo lắng của ông Thiệu. Chính tôi cũng muốn Hoa Kỳ nói rõ rằng họ không công nhận Mặt Trận Giải Phóng dưới mọi hình thức. Hơn nữa, tôi cũng muốn Bắc Việt phải thảo luận trực tiếp với Miền Nam Việt Nam vì nếu không thì chúng tôi vẫn chỉ là những kẻ đứng ngoài nhìn kẻ khác định đoạt số phận của chính mình.

Đã năm tháng qua, Bắc Việt liên tục đòi hỏi Hoa Kỳ phải ngưng các cuộc dội bom, rút hết quân về và giải tán chánh quyền ông Thiệu. Càng ngày chúng tôi càng mục kích rõ ràng việc Hoa Kỳ mất kiên nhẫn. Tuy Hoa Kỳ đang mong mỏi Bắc Việt giữ đúng những nguyên tắc cơ bản khi đàm phán, chẳng hạn như: “Nếu chúng tôi hành động thế này thì các anh sẽ phải hành động thế kia.” thế nhưng, những điều họ mục kích lại hoàn toàn khác hẳn. Họ thấy mình đã bị vướng vào các chính sách tuyên truyền và lý do duy nhất khiến họ vẫn còn trong cuộc là hy vọng của chính họ.

Theo tôi nhận xét thì chắc chắn các cuộc đàm phán còn kéo dài. Trong khi Hoa Kỳ đang bị những khó khăn trong nước xâu xé thì Cộng Sản chỉ cần giữ đúng quy tắc kiên nhẫn đợi chờ và nhất định không chịu nhượng bộ để thắng cuộc. Đây là những nguyên tắc căn bản của chính sách “Đánh và Đàm.” Nếu họ áp dụng nguyên tắc này thì Hoa Kỳ nhất định sẽ phải chịu đựng những áp lực chính trị và những áp lực của dân chúng Hoa Kỳ, trong khi chính họ lại thảnh thơi và hoàn toàn không phải chịu đựng áp lực nào cả. Giữa lúc tình thế đang diễn ra như vậy thì chúng tôi lại được mời vào ngồi chơi xơi nước, chứng kiến mọi sự. Đây là những lý do đã khiến chúng tôi đòi hỏi rằng nếu Việt Nam vào cuộc thì đàm phán bắt buộc phải có những biến chuyển rõ rệt thực thụ.

Lúc này chúng tôi đòi hỏi Bắc Việt phải trực tiếp đàm phán và Hoa Kỳ phải tuyên bố không công nhận MTGP. Chúng tôi cũng biết hai điều kiện mà Việt Nam đòi hỏi là hai điều kiện khó khăn. Hơn nữa, vì Hoa Kỳ đã chấp nhận đàm phán với Bắc Việt rồi nên vấn đề đòi hỏi của Việt Nam lúc này sẽ khiến chúng tôi phải đối diện với một áp lực vô cùng khủng khiếp. Bởi vậy, tôi đã chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc đụng độ nảy lửa sắp đến. Lúc này, tôi đã nhận được nhiều bức điện từ Sài Gòn cho tôi biết những cuộc điều đình giữa ông Thiệu và đại sứ Bunker. Sài Gòn cũng cho tôi những chỉ thị rõ rệt để hàng ngày thảo luận vấn đề với Tòa Bạch Ốc và Bộ Ngoại Giao. Hơn nữa, Sài Gòn còn cho lệnh tôi phải bỏ thì giờ thảo luận với ông Bundy, ông Rostow và gửi báo cáo thường xuyên về Việt Nam.

Sau cùng, sau không biết bao nhiêu bản ghi chú, diễn giải và minh xác giữa Hoa Thịnh Đốn, Sài Gòn và Ba Lê, ông Thiệu và đại sứ Bunker đã cùng thỏa thuận một bản thông cáo chung. Một trong những điều khoản chính của bản thông cáo chung là lời hứa mơ hồ của Hoa Kỳ về việc không công nhận MTGP như một thành phần độc lập cũng như bảo đảm rằng Bắc Việt sẽ “đàm phán trực tiếp và thực sự với Việt Nam.” Một khi nguyên tắc này đã được chấp thuận thì Tổng Thống Johnson và ông Thiệu cùng tuyên bố ngừng dội bom, và cùng công bố bắt đầu một giai đoạn mới cho các cuộc đàm phán đang diễn ra ở Ba Lê.

Tôi nhận được một bản thảo của tờ thông cáo chung qua điện văn vào ngày 29 tháng 10, chỉ bảy ngày trước khi bầu cử. Một phần của bản thông cáo chung là: “Cuộc gặp gỡ đầu tiên sẽ diễn ra tại Ba Lê vào [ngày, giờ ]. Những phái đoàn của Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ cùng đến tham dự buổi họp… Tôi nhấn mạnh sự chú ý của ông vào câu ‘trực tiếp và thực sự đàm phán với Việt Nam'” Lúc này, cuộc tranh cử gay go ở Hoa Kỳ vẫn tiếp diễn, thống kê cho thấy số phiếu của ứng cử viên Humphrey đang ngang ngửa với số phiếu của ứng cử viên Nixon, đó là chưa kể đến vấn đề sai số trong khi thống kê được thiết lập. Vì thế khi Hoa Kỳ và Việt Nam tuyên bố ngưng dội bom thì đảng Dân Chủ hết sức vui mừng. Họ hy vọng rằng tin tức này sẽ làm thay đổi cục diện.

Rồi bỗng nhiên mọi diễn biến bất chợt dừng lại. Vào lúc 4 giờ sáng ngày 30 tháng 10, tôi giật mình tỉnh giấc vì tiếng chuông điện thoại của ông Hoàng Đức Nhã, bí thư của ông Thiệu. Ông Nhã nhắn rằng ông Thiệu đã duyệt lại tình hình và nhất định khước từ bản thông cáo chung của cả hai chánh phủ lúc trước. Ông Thiệu khước từ là vì những tin tức mới nhất của đại sứ Lâm vừa gửi về. Ông Nhã nói rằng ông Lâm đã điện về rằng: Hai ông Harriman và ông Vance cho biết Hoa Kỳ sẽ không chánh thức đòi hỏi vài điều khoản như đã đề ra trong bản dự thảo. Một trong những trường hợp điển hình là ông Harriman nói với đại sứ Lâm rằng Hoa Kỳ không thể nào bắt buộc Bắc Việt “đàm phán trực tiếp và thật sự” với Việt Nam được. Do đó, Hoa Kỳ khó thể bảo đảm chuyện này. Khi được tin, ông Thiệu quyết định bác bỏ lệnh gởi phái đoàn sang Ba Lê. Ông Lâm đã được triệu hồi về Sài Gòn để tham khảo ý kiến.

Sáng sớm hôm đó, thể theo những chỉ thị trực tiếp từ Sài Gòn, tôi tới Bộ Ngoại Giao yêu cầu ông Bundy minh xác những điều đại sứ Lâm đã thông báo với Sài Gòn. Tôi đã chuẩn bị kỹ lưỡng để đón nhận thái độ của Hoa Kỳ đối với vấn đề thay đổi ý kiến của ông Thiệu vào giây phút chót. Tuy thế, tôi vẫn chưa chuẩn bị đủ để tránh khỏi những kinh ngạc đang đón chờ tôi ở văn phòng ông Bundy.

Khi tôi đến, ông Bundy, người tôi vẫn coi là một người bạn tốt quên cả mời tôi ngồi. Ông nói với tôi một cách cộc lốc và lạnh lùng rằng không hề có bất kỳ sự liên lạc nào giữa cuộc bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ và những nỗ lực đàm phán ở Ba Lê. Nói xong ông đứng thẳng lên, xoay lưng về phía tôi như thể không muốn đối diện với tôi. Tôi vừa nhìn vào phía sau lưng ông vừa nghe những tiếng gằn giọng liên tiếp nối nhau. Qua những tiếng gằn, tôi nghe rõ một vài chữ như “thiếu đứng đắn” và “không thể chấp nhận được.” Rồi vẫn quay lưng về phía tôi, ông bắt đầu phát biểu gần xa về việc gặp gỡ giữa tôi và ứng cử viên Nixon.

Toàn thể diễn biến làm tôi sững người. Nhưng tôi nhất định không chịu để bị tấn công dù ông Bundy có là bạn tôi hay không phải là bạn tôi. Tất nhiên ông Bundy đang hiểu lầm trầm trọng về những chuyện xảy ra giữa ứng cử viên Nixon và tôi. Bởi vậy, vừa lấy lại được bình tĩnh, tôi đã nói một cách quả quyết rằng tôi chưa hề làm bất cứ điều gì có thể đáng gọi là thương tổn đến mối liên hệ của cả hai quốc gia. Tôi nhắc nhở ông Bundy rằng vào ngày 1 tháng 7 tôi đã hứa sẽ không thảo luận chi tiết những cuộc đàm phán ở Ba Lê khi gặp ứng cử viên Nixon. Tôi chưa làm điều gì đi ngược lại với lời hứa đó. Những liên hệ giữa tôi và đảng Cộng Hòa chỉ là những liên lạc bình thường. Tôi hoàn toàn không đồng ý với những ám chỉ gần xa rằng tôi đã làm điều gì mờ ám.

Ông Bundy không tấn công tôi trực tiếp. Ông khó thể tiết lộ rằng chính phủ Hoa Kỳ đã bí mật rút tỉa tin tức từ những bức điện của tôi gửi cho chánh phủ Sài Gòn. Tôi cũng không muốn đôi co tranh luận cho tới đường cùng với ông. -Chẳng hạn như tự vệ bằng cách trực tiếp đòi hỏi ông cụ thể đưa ra việc ông cho là tôi và ứng cử viên Nixon đã cùng nhau thảo luận và nguyên do gì đã khiến ông suy luận như vậy. Kết quả là hai bên đều cố đè nén. Khi đã bắt đầu bình tĩnh, chúng tôi cùng sửa soạn tìm cách gỡ rối cho thế bí hiện tại. Vấn đề thật phức tạp vô kể và tuy chúng tôi đã cố gắng vượt mức, (Tại Sài Gòn, cả đại sứ Bunker cũng đã đến gặp ông Thiệu) việc giải quyết vấn đề vẫn thất bại. Ngày hôm sau, 31 tháng 10- 1968, trong một buổi diễn văn được chiếu trên khắp toàn quốc, Tổng Thống Johnson đã hành động thật quyết liệt. Ông tuyên bố rằng: “Hoa Kỳ đã bước vào giai đoạn đàm phán thực sự.” Ông sẽ cho lệnh ngưng toàn thể các chiến dịch dội bom và mở rộng thảo luận ở Ba Lê. Những đại biểu của Việt Nam có quyền tham dự. Những đại diện của Mặt Trận Giải Phóng cũng có quyền tham dự tuy sự tham dự của họ không có nghĩa là Hoa Kỳ đã công nhận họ.

Một ngày sau đó, ông Thiệu tuyên bố mặc dù Việt Nam không hề chống đối việc ngưng dội bom, nhưng vì những lý do đặc biệt, Việt Nam sẽ không gửi phái đoàn nào sang Ba Lê tham dự đàm phán. Đây là lần đầu tiên trong suốt cuộc chiến, chánh phủ của hai đồng minh đã công khai tuyên bố rằng họ không cùng quan điểm. Thống kê cho thấy Phó Tổng Thống Humphrey được ủng hộ đông đảo sau khi Tổng Thống Johnson tuyên bố ngưng dội bom, nhưng lại mất ủng hộ sau khi ông Thiệu tuyên bố Việt Nam không hưởng ứng cuộc đàm phán. Như số phận oái oăm đã định, những sự xích mích và bất đồng ý kiến giữa hai chánh phủ lại xảy ra công khai vào ngày 1-11, ngày Lễ Quốc Khánh của Việt Nam. Việc này có nghĩa là vào ngay khi những đàm phán đang ở vào giai đoạn quyết liệt giữa Hoa Kỳ với Việt Nam và đúng vào lúc tòa đại sứ Việt Nam phải đối phó với báo chí và dư luận Hoa Kỳ thì tòa đại sứ lại phải sửa soạn một cuộc tiếp tân lớn với với hơn một ngàn quan khách. Số quan khách đó bao gồm những người của quốc hội Hoa Kỳ, của các cơ quan trong chính phủ Hoa Kỳ, của các phái đoàn Ngoại Giao và tất cả các tổ chức chính trị khác ở Hoa Thịnh Đốn.

Tuy thế, mọi diễn biến trong ngày lễ vẫn xảy ra chẳng khác gì thường lệ. Theo Hoa Thịnh Đốn thì đây là một buổi tiếp tân hết sức thành công. Trong buổi lễ, chánh phủ Hoa Kỳ đã cố tỏ ra vô cùng hòa nhã. Tất cả những người bạn của Miền Nam Việt Nam đều cùng hiện diện, kể cả các ông Rusk, Rostow, Bundy và các nhân viên cao cấp khác. Họ có mặt ngay trước giới truyền thanh, truyền hình như để xác nhận rõ ràng những chia rẽ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam chỉ là những xích mích nhỏ nhoi, không đáng kể.

Tuần lễ quốc khánh kết thúc thật vất vả và bận rộn. Tôi đã dùng cả hai ngày thứ hai và thứ ba để bàn luận cùng ông Bundy và ông Rostow. Tổng Thống Johnson đọc diễn văn vào thứ tư. Toà đại sứ phải sửa soạn tiếp rước một buổi tiếp tân trọng thể vào thứ năm. Ông Thiệu khước từ không tham gia đàm phán vào ngày thứ sáu và rồi tòa đại sứ lại phải tiếp hơn 1000 quan khách cũng vào ngày thứ sáu. Chưa bao giờ tôi thấy cần một ngày nghỉ như lúc này nhưng tình cảnh dĩ nhiên không hề cho phép.

Sáng hôm sau đó là ngày 2 tháng 10, một ngày thứ bảy mát mẻ và tràn đầy nắng ấm. Chỉ còn đúng ba ngày nữa là cuộc bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ bắt đầu. Mới sáng sớm, nhân viên trực ở tòa đại sứ đã điện thoại báo cho tôi biết có hai bức điện mật và khẩn của tổng thống Thiệu, tôi vội vã phóng xe trên con đường vắng vẻ tự hỏi chẳng hiểu lại có thêm khủng hoảng gì nữa đây. Khi đến nơi thì trong cả hai bức điện đều chẳng chứa đựng điều gì quan trọng. Dĩ nhiên những bức điện cũng chẳng chứa đựng điều gì có thể giúp tôi giải quyết những vấn đề nan giải lúc này. Tôi đang chuẩn bị về thì lại có một cú điện thoại khác của ông Saville Davis, một trong những ký giả kỳ cựu của tờ Christian Science Monitor. Ký giả Saville Davis cho biết ông cần gặp tôi về một việc tối quan trọng. Trước đây, thỉnh thoảng tôi vẫn ăn cơm trưa cùng ký giả Davis và vì vậy tuy đây là sáng thứ bảy tôi vẫn chẳng thể từ chối lời yêu cầu của ông được.

Vài phút sau ký giả Davis đã đến văn phòng tôi và cho tôi xem một bức điện dài ông nhận được của Beverly Deepe, một ký giả của tờ Monitor ở Sài Gòn. Theo như nguồn tin của cô Deepe cho biết thì đại sứ Bùi Diễm đã gửi điện cho Tổng Thống Thiệu khuyên ông không nên gửi phái đoàn đàm phán Việt Nam sang Ba Lê. Sau đó phóng viên Beverly chú thích thêm rằng dư luận đang ồn ào trong giới báo chí về việc ứng cử viên Nixon và Việt Nam đã cùng nhau thỏa thuận một kế hoạch cho cuộc chiến Việt Nam. Nội dung của kế hoạch này là Việt Nam sẽ trì hoãn các cuộc đàm phán ở Ba Lê nhằm làm giảm uy tín của ông Humphrey và dồn số phiếu bầu cử về phía ứng cử viên của đảng Cộng Hòa. Để đổi lại ân huệ này, khi đắc cử tổng thống Nixon sẽ ủng hộ Việt Nam mạnh mẽ hơn các đảng viên dân chủ khi trước.

Tin tức làm tôi chết sững. Tôi âm thầm đọc lại lần thứ hai lòng nhủ thầm rằng đây chắc hẳn là những tin tức đã khiến ông Bundy tiếp đón tôi một cách phẫn nộ vài ngày trước. Tuy đã biết rõ rằng không có kế hoạch thầm kín nào cả, tôi vẫn không hiểu nổi tại sao một chuyện hiểu nhầm như vậy lại có thể xảy ra. Tôi không biết phải nói gì với ký giả Saville Davis, người đang nhờ tôi xác nhận những câu chuyện của Beverly Deep. Cả ông Saville lẫn tôi đều hiểu rõ rằng nếu được đăng tải câu chuyện sẽ chuyển thành một vụ sì- căng-đan có ảnh hưởng trầm trọng đến những kết quả của cuộc bầu cử.

Tôi biết đây không phải là chuyện có thể dễ dàng xác nhận qua một cuộc bàn luận ngắn gọn cho dù tôi biết rõ tất cả mọi câu trả lời. Hơn nữa, tất cả những câu tuyên bố của tôi đều vô cùng nguy hiểm. Ngay cả việc chối cãi thẳng thừng cũng sẽ đưa đến những lời đồn đãi bất lợi một khi câu chuyện được đăng tải và khiến tôi phải chịu một gánh nặng về việc can thiệp vào một cuộc bầu cử ngang ngửa, một cuộc bầu cử mà chỉ cần một sự đổi ý nhẹ nhất cũng có thể xoay chuyển cán cân trong việc quyết định ai là vị tổng thống kế tiếp của Hoa Kỳ. (Nên nhớ rằng ông Nixon đã thắng cử với số phiếu hơn không quá 1% tổng số phiếu.) Dĩ nhiên tôi vẫn có thể tránh né vấn đề bằng cách viện lẽ rằng về phương diện chính thức tôi không thể nói hết được, nhưng điều khiến tôi suy nghĩ nhiều nhất là phải làm cách nào để tránh cho những tin tức sai lầm này ảnh hưởng vào cuộc bầu cử tổng thống của Hoa Kỳ. Tôi cũng không muốn bất kỳ ai dồn tôi phải quyết đoán trước khi tôi có đủ cơ hội suy nghĩ chín chắn về mọi việc. Tôi nói với ông Davis rằng: “Tôi không thể xác nhận mà cũng không thể cải chính bất kỳ điều gì. Vì là đại diện của một quốc gia, công việc của tôi là liên lạc với mọi chi nhánh của xã hội Hoa Kỳ và thông báo với chánh phủ Việt Nam những việc đang xảy ra tại đây. Những lời bình luận tôi gửi cho tổng thống Thiệu là những vấn đề tối mật và tôi sẽ không có lời tuyên bố gì cả về những vấn đề này.”

Ông Davis rời tòa đại sứ đầu óc rối bời, không biết phải làm gì với bức điện. Theo như tôi biết thì tờ Monitor không hề đăng tải câu chuyện. Vì không thể biết rõ sự thật phía sau và cũng biết rõ tầm mức quan trọng khác thường của bức điện, họ đã hành động theo lương tâm. Việc khẳng định rằng ứng cử viên Nixon có thể thắng hay không một khi tin tức lan tràn về việc ông có ý phá hỏng những đàm phán hòa bình là một việc vô cùng khó nói. Về sau, ông William Safire, người soạn thảo diễn văn cho ông Nixon trong giai đoạn bầu cử đã viết trong quyển Before The Fall rằng “Nếu không có ông Thiệu thì có lẽ ứng cử viên Nixon khó thể thắng cử.” Có thể câu xét đoán đã đặt quá nặng vấn đề đàm phán Ba Lê cũng như vấn đề Việt Nam, nhưng trong một cuộc bầu cử xít xoát như cuộc bầu cử năm 1968 thì việc gì cũng có thể xảy ra được.

Khi tiễn ông Davis xong, tôi ngồi xuống, cố suy nghĩ về những vấn đề ẩn phía sau câu chuyện của tờ Monitor. Vì ký giả Beverly Deepe viết rằng tôi đã khuyên Sài Gòn đừng gửi phái đoàn, tôi bắt đầu xem xét lại những bức điện đã gửi về cho ông Thiệu trong thời gian hai tuần lễ từ khi vấn đề bàn luận chi tiết khởi đầu. Trong những bức điện đã gửi, tôi tìm thấy một bức điện từ ngày 23 tháng 10, sáu ngày trước bức điện ngày 29 tháng 10 gửi từ Sài Gòn, cho tôi biết là đã có sự thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và Việt Nam về việc Việt Nam gia nhập cuộc đàm phán ở Ba Lê ngày 28. Trong đó tôi ghi rằng: “Nhiều bạn bè thuộc đảng Cộng Hòa đã liên lạc với tôi và khuyên rằng chúng ta phải giữ vững thái độ cứng rắn. Từ những bản tường trình của báo chí, họ thấy rằng tổng thống (ông Thiệu) đã trở nên có phần kém cương quyết rồi.” Trong một bức điện khác vào ngày 27-10 tôi viết: “Tôi vẫn thường xuyên liên lạc với những nhân vật phụ tá của ông Nixon,” khi viết như thế, ý tôi muốn nói đến bà Anna Chenault, ông John Mitchell và Thượng Nghị Sĩ Tower.

Đây cũng là những lời nhắn có liên quan đến những việc liên lạc mà tôi gửi về Sài Gòn. Rõ ràng là tin tức chẳng hề cho thấy rõ rệt tôi có âm mưu gì với đảng Dân Chủ. Nhưng khi đặt hai mảnh tin lại với nhau và nhìn từ khung cảnh của một cuộc bầu cử căng thẳng, tôi đã thấy rằng những mảnh tin có đủ chứng cớ để cho bất kỳ ai sẵn sàng tin vào những gì mờ ám nhất. (Tôi chẳng hề biết tại sao những bức điện văn của tôi lại bị chánh phủ Hoa Kỳ hoặc Beverly Deepe biết rõ, nhưng tôi vẫn thấy khó chịu về việc họ đã biết rõ cả.) Mặt khác, việc đã quá rõ ràng là ông Thiệu có rất nhiều lý do để chống đối những cuộc đàm phán mở rộng mà chẩng cần phải bàn luận với bất kỳ ai. Hơn nữa, vào ngày 28 tháng 10, Ông Thiệu đã đồng ý ký bản thông cáo chung với Hoa Kỳ. Sau đó, ông khước từ ý định chỉ vì đại sứ Phạm Đăng Lâm đã báo cáo về những diễn biến không thực sự đi sát với những điều Hoa Kỳ đã đề ra khi trước. Nếu ông Thiệu đã quyết định không đồng ý thì lẽ nào ông còn phải trì hoãn cho đến phút chót để đổi ý?

Mặc dù đã biết rằng mình không hề có âm mưu gì mờ ám, tôi vẫn cảm thấy dường như có điều gì bí ẩn, nhất là vai trò của bà Anna Chennault. Tôi có cảm tưởng rằng bà đã tự mình có sáng kiến thúc đẩy phía Việt Nam Cộng Hòa và ông Nixon vào con đường cứng rắn đối với cộng sản để thủ lợi cho đảng Cộng Hòa. Chính bà là người đã liên lạc với ông John Mitchell và ông Ric-hard Allen (Ông Allen là cố vấn ngoại giao của ông Nixon và rồi nhiều năm sau lại là cố vấn an ninh quốc gia của Tổng Thống Reagan). Và chính bà cũng đã liên lạc với tôi cũng như đã tự liên lạc thẳng với ông Thiệu qua anh ông Thiệu là ông Nguyên văn Kiểu lúc đó đang là đại sứ ở Đài Loan. Trong giai đoạn phức tạp và hỗn loạn này, chẳng ai có thể khẳng định được những tin tức nào đã được chuyển cho những ai, vì thế tuy những diễn biến vừa kể có thể đưa đến những hậu quả lớn lao trên chính trường Hoa Kỳ, những gì được gọi là mưu toan của bà Anna Chennault sẽ chỉ mãi mãi là bí ẩn của lịch sử. Dù sao đi nữa thì vào ngày 5 tháng 11, chỉ ba ngày sau đó, ứng cử viên Nixon đã được bầu làm tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ. Biến cố này đã khiến tôi cho những diễn biến khó chịu lui luôn vào quá khứ. Vào ngày 9 tháng 11, khi tôi đang một mình làm việc trong văn phòng thì chuông cửa reo vang. Vì chẳng có tùy viên nào ở cạnh, tôi nhìn ra cửa sổ để xem ai nhấn chuông. Bên ngoài, một người đứng tuổi đang đứng cạnh cửa co ro tránh gió. Khi xuống đến nơi để hỏi xem ông ta cần gì, tôi đã giật nảy người vì nhận ra Thượng Nghị Sĩ Everett Dirksen. Tôi mời ông vào. Ông ngỏ ý xin lỗi về việc ghé tòa đại sứ bất ngờ mà không thông báo trước. Ông Dirksen cho biết sở dĩ ông đích thân đến gặp tôi là vì có một tin “tối quan trọng” cần cho tôi biết.

Khi chúng tôi vừa an vị thì ông Dirksen mở lời rằng: “Tôi đến đây nhân danh cả hai vị tổng thống, tổng thống Johnson và tổng thống Nixon.” Tôi im lặng lắng nghe trong kinh ngạc. Lời nhắn tin thật là ngắn ngủi: “Việt Nam phải gửi ngay phái đoàn đại biểu tới Ba Lê trước khi việc trở nên quá trễ.” Tôi chưa kịp hỏi rằng vì sao lại “quá trễ” thì ông Dirksen đã tiếp tục: “Tôi cũng cần khẳng định rõ rệt với ông rằng Hoa Kỳ sẽ không bao giờ công nhận sự hiện diện của Mặt Trận Giải Phóng như một thành phần hoàn toàn biệt lập. Tôi xin xác nhận một cách tuyệt đối rằng Hoa Kỳ không bao giờ chủ trương ép buộc Việt Nam Cộng Hòa phải chấp nhận giải pháp chính phủ liên hiệp.”

Ông Dirksen đã giúp tôi rất nhiều trong quá khứ. Cách viếng thăm khác thường của ông đã khiến tôi hết sức chú tâm đến vấn đề ông đang trình bày. Hơn nữa, tầm mức kính trọng của tôi đối với ông khiến tôi chẳng chút nghi ngờ gì về điều ông nói. Lòng vẫn còn kinh ngạc, tôi cám ơn ông đã đến cho biết tin và cũng nói rằng tôi sẽ chuyển ngay tin tức về cho ông Thiệu. Vài phút sau khi chào ông Dirksen, chuông điện thoại lại reo vang. Ký giả Joseph Alsop, một ký giả và bình luận gia nổi tiếng của Hoa Kỳ ngỏ lời xin được gặp tôi gấp. Tôi ngồi lặng trên ghế đợi ký giả Alsop và phân vân tự hỏi chẳng hiểu lại có chuyện gì nữa đây?

Ký giả Alsop là bạn thân của tôi đã từ lâu. Tôi đã biết ông từ những năm của thập niên 1960, khi ông đến thăm Việt Nam và gặp Bác sĩ Quát. Kể từ khi tôi đến Hoa Thịnh Dốn, chúng tôi vẫn liên lạc với nhau thường xuyên. Tôi vẫn thường mua cả nước mắm cho ông. Ký giả Alsop và ông Dirksen là hai người tôi tin tưởng nhất trong nhóm bạn ở Hoa Thịnh Đốn. Cứ theo tình hình mà luận thì có lẽ chánh phủ Hoa Kỳ đang cố tạo ấn tượng về mức trầm trọng của tình hình với tôi bằng cách chọn những sứ giả hữu hiệu nhất.

Mười lăm phút sau ký giả Alsop lại ngồi đúng vào chiếc ghế mà ông Dirksen vừa mới rời khỏi. Khi tôi vừa bắt đầu lên tiếng về việc ông Nixon thì ký giả Alsop đã cắt lời: “Ông bạn ơi, tổng thống của ông bạn đang chơi một trò chơi nguy hiểm. Tôi mới gặp Ông Già hôm qua. Ông Già đang điên cuồng vì giận.” Ký giả Alsop đã dứt câu mà tôi vẫn chưa liên tưởng được “Ông Già” là ai. Tuy thế, chỉ một phút sau tôi nhận ra là ông đang nói về tổng thống Johnson. Nhớ lại những lời ông Dirksen vừa nói nửa giờ trước đây, tôi hỏi ký giả Alsop: “Phải chăng Ông Già nhờ ông đến gặp tôi?”

“Không đúng hẳn,” ông Alsop trả lời. Thực ra chính ký giả Alsop đã nói chuyện với Tổng Thống Johnson hôm trước. Hiển nhiên là TT Johnson đã mất hết kiên nhẫn vì những hành động bất ngờ của ông Thiệu. Sự khích động của TT Johnson đã khiến ký giả Alsop cảm thấy gần như bắt buộc phải cho tôi biết tin. Ký giả Alsop hút thuốc liên miên như thể đang cố tìm cách giảm bớt sự lo lắng. Ông khuyên tôi nên trở về Sài Gòn lập tức để nói chuyện với ông Thiệu.

Cũng trong ngày đó, tôi lại nhận được một cú điện thoại bất ngờ từ Bộ Ngoại Giao, hỏi tôi đã tiếp xúc với Thượng Nghị Sĩ Dirksen hay chưa? Vào giờ cơm tối, một chuyên viên của Bộ Ngoại Giao đến nhà tôi để đặt giây điện thoại trực tiếp về Sài Gòn. Đường giây này là đường giây an toàn của Ngũ Giác Đài. Ngay ngày hôm sau, nhằm ngày chúa nhật, tôi đến gặp ông Bundy để tổng kết lại tình hình. Tôi lên máy bay về Sài Gòn vào sáng thứ hai. Đây là lần đầu tiên trong vòng 4 tuần tôi mới có được ít phút rảnh rang để suy nghĩ. Tôi suy nghĩ về tầm quan trọng của các biến cố, về việc đảm nhiệm của vị tân tổng thống, về những chính sách khác biệt của chính phủ mới. Có lẽ những chính sách mới lại là những kế hoạch bí mật trong tương lai. 

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"