Trong Gọng Kềm Lịch Sử

Tác giả:

27 – Cuộc Đàm Phán Bắt Đầu 


Chương 27
Cuộc Đàm Phán Bắt Đầu

Sau khi chia tay ông Rusk, tôi trở về để thông báo cho Sài Gòn biết rằng lập trường của Hoa Kỳ về cuộc chiến Việt Nam đã bắt đầu lung lay. Vừa về Sài Gòn được một ngày tôi đã thông báo ngay các tin tức thật chi tiết với ông Thiệu và ông Kỳ. Tôi nói rằng Việt Nam phải đối diện với thực tế về việc rút quân của Hoa Kỳ ngay lúc này. Tuy tôi chưa chánh thức được nghe chánh phủ Hoa Kỳ tuyên bố những thay đổi trong tương lai nhưng qua các cuộc đàm luận với các ông Johnson, Clifford, và Rusk, tôi đã biết rất rõ những khuynh hướng thay đổi chính sách của Hoa Kỳ. Đã đành rằng Hoa Kỳ khó thể rút quân lập tức, nhưng việc rút quân của Hoa Kỳ trong tương lai là việc không thể nào tránh khỏi. (Đã có khoảng nửa triệu binh lính Hoa Kỳ trấn đóng ở Việt Nam vào thời gian đó.)

Khi nghe tôi tường trình, cả ông Thiệu lẫn ông Kỳ có lẽ đều cho rằng đây là những âu lo hãy còn xa xăm. Tuy Hoa Kỳ rút quân là việc quan trọng, họ cho rằng vẫn còn nhiều thời giờ để lo liệu. Lúc này, đầu óc của cả hai còn đang bận rộn tìm cách khẩn cấp đối phó với những cuộc tấn công lẻ tẻ đợt hai của Việt Cộng. Mặc dù lúc tôi đặt vấn đề, cả ông Thiệu lẫn ông Kỳ đều tỏ vẻ quan tâm, tôi vẫn thấy rõ ràng là họ chưa chú ý đúng mức. Tuy tôi cố trình bày vấn đề hết sức tỉ mỉ và tường tận mà khi cuộc tường trình kết thúc tôi vẫn có cảm tưởng có lẽ cả ông Thiệu lẫn ông Kỳ đều chưa hiểu rõ những điều tôi muốn nói. Tôi tự hỏi phải chăng muốn thấu đáo ảnh hưởng của những biến cố đang xảy ra ngoài cách phải sống ở Hoa Kỳ không còn cách nào khác?

Đây không phải lần đầu, cũng chẳng phải lần cuối tôi thất bại trong việc dung hòa quan điểm của hai bên Hoa Kỳ và Việt Nam. Tôi còn nhận ra rằng vì ở Hoa Kỳ quá lâu, tôi đã bị những nhận thức thực tế ở thủ đô Hoa Kỳ chi phối.

Tết Mậu Thân là một thí dụ điển hình. Bầu không khí bi quan của Hoa Thịnh Đốn đã khiến tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy Sài Gòn có thể vượt qua cuộc tấn công hoàn toàn lạc quan và vô sự. Gần như tất cả mọi người Việt Nam đều thấy rõ bầu không khí tin tưởng phấn khởi sau Tết Mậu Thân. Tuy giao tranh vẫn còn rải rác đó đây trong những vùng lân cận quanh thành phố và Huế chỉ mới bắt đầu hồi sinh sau những cuộc tàn sát đẫm máu vừa qua, ở khắp nơi bầu không khí phấn khởi vẫn lộ rõ nét. Cuộc tấn công của Bắc Việt lúc Tết Mậu Thân chẳng những đã không lật đổ được chánh quyền Sài Gòn mà còn khiến quân đội Việt Nam tự tin hơn vì những kinh nghiệm vừa trải qua.

Những cuộc tấn công bất ngờ của Việt Cộng tuy ác liệt nhưng cuối cùng những viên chức quân sự và ngay cả đến dân chúng cũng đã thấy rõ rằng du kích quân chẳng phải thần thánh như lời đồn đãi. Hơn nữa, niềm phấn khởi tinh thần cùng những kết quả cụ thể hầu như ở khắp cả mọi nơi. Một trong những kết quả trông thấy là con số nhập ngũ nhảy vọt của quân đội Việt Nam, sự hình thành những đoàn thể tự nguyện nhằm mục đích giúp đỡ làng xóm chống lại những hoạt động xâm nhập của Cộng Sản. Những biến chuyển khả quan ở Việt Nam thật rõ rành rành. Nhưng rủi thay, những biến chuyển khả quan đó lại đến vào giữa lúc Hoa Thịnh Đốn bắt đầu thối chí.

Vào ngày 31 tháng 3-1968, Việt Nam đã cảm thấy những nỗi chán chường của Hoa Kỳ. Trong một buổi diễn văn được chiếu khắp nơi trên toàn cõi Hoa Kỳ (và ở cả Sài Gòn) Tổng Thống Johnson tuyên bố rằng ông sẽ không ra tranh cử. Tối đó, tôi cùng xem Ti Vi với ông Kỳ. Cả hai chúng tôi đều biết rất rõ ý nghĩa của lời tuyên bố. Chẳng bao lâu nữa, TT Johnson, người bạn thân tín nhất của Việt Nam sẽ bước ra khỏi chính trường. Những thế lực mới sẽ bước vào thay thế, sẽ lại có TT mới và những chính sách mới. Dù cho chính phủ mới có hoạt động dưới thể thức nào đi nữa thì chúng tôi cũng sắp sửa phải bắt đầu những bước gian truân, trắc trở trong tương lai.

Trước đây, Hoa Kỳ vẫn ít khi tuyên bố ngưng dội bom, nhưng tối đó, Tổng Thống Johnson lại tuyên bố hủy bỏ một cuộc dội bom khác. Mỗi lần Hoa Kỳ tuyên bố ngưng dội bom là mỗi lần Hoa Kỳ cố tình tính toán để nhử Hà Nội đến bàn đàm phán. Từ trước đến nay, tất cả những tính toán của Hoa Kỳ đều bị Bắc Việt khinh miệt bác bỏ, nhưng lần này chẳng hiểu sao Trung Ương Đảng Bộ Hà Nội bỗng nhiên lại hưởng ứng. Ba ngày sau Hà Nội tuyên bố sẵn sàng đàm phán. Lời tuyên bố khiến cả tướng Westmoreland lẫn đại sứ Bunker đều phải trở về Hoa Thịnh Đốn để tham khảo ý kiến. Theo tình hình lúc đó thì có lẽ chỉ độ vài ngày nữa là chánh quyền Sài Gòn sẽ phải đối phó với một tình thế hoàn toàn khác hẳn.

Trong những năm làm việc ở Hoa Thịnh Đốn, tôi vẫn thường nghe dư luận Hoa Kỳ nói rằng lý do tồn tại của chánh phủ Việt Nam chính là cuộc chiến tranh. Vì lẽ đó, Sài Gòn lúc nào cũng khước từ tất cả những nỗ lực đàm phán hòa bình. Sự thật thì trong cả trong cuộc chiến cũng như trong lúc mưu cầu hòa bình, chánh quyền Việt Nam chẳng hề có cơ hội để chọn lựa. Tuy chính Việt Nam đang nằm trong vòng hiểm họa sanh tử mà gần như trong cả toàn thể chiến cuộc Hoa Kỳ lúc nào cũng dành phần chủ động. Hoa Kỳ thường tự mình định nghĩa thế nào là những ưu điểm thuận lợi và thường ít khi chú ý đến những mong mỏi hoặc nhu cầu của Việt Nam. Lúc này, khi bị những ý kiến lạc quan ngây thơ của dân chúng Hoa Kỳ thúc đẩy, chánh quyền Hoa Kỳ lại nóng lòng cố đàm phán bằng mọi giá. Họ tin rằng đàm phán là cơ hội cho phép họ chính thức kết thúc những can thiệp quân sự ở Việt Nam.

Hầu hết tất cả những người Việt Nam có kinh nghiệm về chiến thuật và chiến lược của Cộng Sản đều biết rõ việc Bắc Việt tuyên bố đàm phán là chuyện hoàn toàn giả dối. Đây không phải là một nhận định quá đáng. Những người Việt Nam hiểu rõ thủ đoạn của Bắc Việt đều nhận chân được rằng lúc này Bắc Việt đang áp dụng những chiến thuật của giai đoạn “vừa đánh vừa đàm,” “đánh rồi đàm, đàm rồi đánh.”

Trên nguyên tắc thì “đánh và đàm” là chiến thuật Bắc Việt chuyên dùng đối phó với các đối phương mạnh hơn. Chiến thuật này sẽ được áp dụng khi đối phương của họ bắt đầu chán chường và mệt mỏi. -Chiến thuật “đánh và đàm” là chiến thuật họ dở ra chỉ vào khi thời cơ đã thuộc về họ. Trong giai đoạn này, đàm phán không phải là một chính sách để đưa đến thỏa ước mà chỉ là một đòn phép tâm lý nhằm khêu gợi hy vọng của đối phương rồi từ đó chia rẽ nội bộ đối phương. Chiến thuật chính, theo Cộng Sản là: “Khuyến khích và nuôi dưỡng những mâu thuẫn nội bộ đối phương.” Đàm phán sẽ không đi đôi với việc giảm thiểu những nỗ lực đấu tranh mà trái lại sẽ đi đôi với những cuộc tấn công ráo riết để tạo áp lực khiến đối phương bị buộc phải đi đến đàm phán.

“Đánh và Đàm” không phải là những chiến thuật bí mật. Ngay cả các kế hoạch gia và các chính khách Hà Nội cũng đã bàn luận chiến thuật đánh và đàm thật cụ thể ngay trong những tờ tạp chí quan trọng của họ. Khi nhìn các chính khách Hoa Kỳ ùn ùn kéo nhau sang Ba Lê tôi đã thấy rõ họ chẳng hề hiểu biết tường tận những nhân vật họ đang nóng lòng đối diện trên bàn đàm phán. Chẳng những vậy, chúng tôi còn khó chịu hơn khi Hoa Kỳ vẫn không hề tham khảo ý kiến hoặc cho phép Việt Nam chánh thức góp phần vào cuộc đàm phán. Đàm phán dường như chỉ là công việc của riêng Hoa Kỳ và Bắc Việt. Tình trạng này vừa khiến chúng tôi phải lo lắng về những dự định của Hoa Kỳ lại vừa làm tăng thêm uy tín cho Việt Cộng. Hơn thế nữa, tình trạng này còn góp phần chứng thực thêm lời tuyên truyền: “chiến đấu chống lại quân xâm lược Hoa Kỳ” của Bắc Việt và làm giảm thiểu uy tín của chánh phủ Việt Nam.

Tuy biết rõ việc xảy ra là thế mà chúng tôi vẫn phải bó tay chịu đựng. Trên lý thuyết thì chúng tôi vẫn có thể phản đối hành động của Hoa Kỳ, nhưng hành động như vậy chẳng qua sẽ chỉ khiến dư luận Hoa Kỳ chống đối thêm và cho rằng Việt Nam lúc nào cũng hiếu chiến. Dư luận Việt Nam lại là một vấn đề khác. Những câu hỏi trong dư luận đã khiến chúng tôi bị buộc phải giải thích tại sao Hoa Kỳ lại nói chuyện với Bắc Việt. Chúng tôi đã nhấn mạnh rằng đây chỉ là những cuộc đàm phán mở đầu. Thực sự vấn đề chỉ là thủ tục và chẳng có gì quan trọng. Việc giải thích quả là một việc rắc rối và khó khăn vô kể. Vả lại vấn đề đàm phán hoàn toàn do Hoa Kỳ khởi đầu và do Bắc Việt hưởng ứng nên dù chúng tôi có nói gì đi nữa thì cuộc họp vẫn tiếp diễn. Vì chẳng còn đường chọn lựa, chúng tôi đành ráng sức chiều theo để giữ tình thân thiện giữa hai nước đồng minh.

Vào lúc này tình hình chính trị Hoa Kỳ đang ngày càng phức tạp và căng thẳng. Hoa Kỳ đang bước vào giai đoạn đầu tiên của cuộc bầu cử Tổng Thống. Các ứng cử viên (kể cả Thượng Nghị Sĩ Robert Kennedy) đang cố gắng vận động. Vào giữa lúc chính phủ Hoa Kỳ đang phải đối phó với cuộc đàm phán ở Ba Lê thì những biến chuyển ở Hoa Kỳ lại hết sức dồn dập. Giữa lúc tình hình đang thay đổi ào ạt như lúc này, tôi nghĩ rằng chỉ riêng một việc theo dõi được những biến chuyển ở Hoa Thịnh Đốn cũng đã chiếm hết cả thì giờ, nhưng ông Thiệu và ông Kỳ lại cảm thấy khác hẳn. Thay vì thông cảm những giới hạn thiết thực của tôi trong công vụ, họ lại nhìn tôi bằng con mắt khác. Vì thấy tôi có thể làm việc và tiếp xúc dễ dàng với người Hoa Kỳ nên ngoài những công việc chính ở Hoa Thịnh Đốn trong lúc này, họ còn cử tôi làm “quan sát viên chính thức” theo dõi những cuộc đàm phán hòa bình.

Không còn đường chọn lựa, tôi ở lại Sài Gòn để sửa soạn chương trình hành động rồi bay sang Hoa Thịnh Đốn để gặp những chính khách sắp đàm phán cùng Bắc Việt: Hai chính khách được Hoa Kỳ chọn lựa để đàm phán cùng Bắc Việt là ông Averell Harriman và Cựu Thứ Trưởng Quốc Phòng Cyrus Vance. Khi đến nơi tôi rất vui mừng vì được biết rằng hai người bạn cũ của tôi là ông William Jorden và ông Phillip Habib đều được cử vào phái đoàn đàm phán.

Ông Harriman, người có biệt danh là “con cá sấu già,” cũng không phải là một nhân vật tôi hoàn toàn xa lạ. Ông là một nhà ngoại giao lão thành của đảng dân chủ nên khi mới đến Hoa Thịnh Đốn tôi vẫn thường đến thăm ông ở GeorgeTown. Mối liên hệ giữa hai chúng tôi thật tốt đẹp. Bất kỳ khi nào có dịp đi công du Việt Nam ông Harriman cũng đến gặp tôi để cùng bàn bạc.

Tuy chưa gặp Cựu Thứ Trưởng Cyrus Vance bao giờ, tôi đã nghe nhiều người đồn đãi về ông. Ông Cyrus Vance được rất nhiều người trong chính giới Hoa Thịnh Đốn kính trọng. Vừa về đến Hoa Thịnh Đốn tôi đã dàn xếp để cùng ăn trưa với ông Vance. Tôi mong gặp ông Vance để biết rõ hơn về người phó trưởng đoàn của phái đoàn đàm phán. Khi đã tiếp xúc với Cựu Thứ Trưởng Vance, tôi vô cùng phấn khởi vì thấy ông là người tôi có thể cùng hợp tác dễ dàng. Ông Vance là một người cực kỳ sáng suốt và có thể phân tích rành rẽ gần như tất cả mọi vấn đề. Ông có tầm nhìn bao quát của một luật sư quốc tế và hình như sinh ra chỉ để giải quyết những vấn đề phức tạp của thế giới. Khi bữa ăn trưa kết thúc, chúng tôi đã cùng đồng ý về các thể thức phối hợp hành động mà Hoa Kỳ và Việt Nam có thể áp dụng vào những cuộc đàm phán sắp tới. * * * * *

Vào tháng 5, bầu trời mùa xuân ở Ba Lê thật đẹp. Tuy thế, cương vị quan sát viên của tôi ở đó lại có phần gượng gạo. Sự hiện diện của tôi rõ ràng chỉ là một sự chắp nối để cố giữ được một phần nào hình ảnh đoàn kết của Hoa Kỳ và Việt Nam. Trên thực tế thì có lẽ mọi người đều cũng biết rõ rằng tương lai Việt Nam sẽ được quyết định trên bàn đàm phán. Khung cảnh đàm phán ở Ba Lê lộ rõ hình ảnh của hai thành phần chính: Hoa Kỳ đang ở bên này, Bắc Việt bên kia, còn tôi thì lại lảng vảng mãi tận phía ngoài. Cảnh tượng gần như đập thẳng vào mắt mọi người và gây cho người xem một cảm tưởng rõ rệt rằng: “Đây là một cuộc chiến của Hoa Kỳ.”

Tuy khung cảnh khó chịu là thế, tôi vẫn cho rằng đây là một dịp may và đã dự định cố hết sức lợi dụng cơ hội. Trong thâm tâm tôi tin chắc cuộc đàm phán sẽ chẳng giải quyết được gì. Bắc Việt đến đây không phải với mục đích hòa bình. Họ chỉ cố hòa hoãn, kéo dài thì giờ và gây chia rẽ cho nội bộ Hoa Kỳ. Khi đã nhận chân được rằng đây chỉ là những đòn phép của một nước cờ hoãn binh, tôi quyết định rằng chẳng có lý do gì khiến mình phải đứng khoanh tay bàng quan mặc cho Bắc Việt độc quyền tự tung tự tác. Lúc này, ngoài các thành phần đàm phán, ở Ba Lê còn có cả trăm ký giả đến để tường thuật các cuộc đàm phán nên tôi cho rằng nếu biết cách điều động mọi việc tôi có thể tạo ảnh hưởng đáng kể với báo chí quốc tế.

Khi tôi bắt đầu xoay sở để lợi dụng tình thế thì giai đoạn đàm phán đầu tiên giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt diễn ra ở Majestic Hotel. Dĩ nhiên chẳng có kết quả gì thực tiễn. Những người Bắc Việt trình bày ý kiến chẳng khác nào những cuộn băng đang được máy thu thanh phát lại. Họ chẳng phát biểu gì ngoài việc lập đi lập lại những câu tuyên truyền cứng ngắc rằng: Hoa Kỳ phải chịu tất cả mọi trách nhiệm; Hoa Kỳ phải ngưng tất cả các cuộc dội bom. (Khi ra lệnh ngưng dội bom, Tổng Thống Johnson không hề ra lệnh ngưng những cuộc dội bom phía dưới vĩ tuyến 20); Hoa Kỳ phải rút hết quân đội ra khỏi Việt Nam. Những người Hoa Kỳ, trái lại, có vẻ đứng đắn hơn. Dù sao thì họ cũng đến Ba Lê để đàm phán. Họ tránh chửi rủa, chịu khó lắng nghe và dò dẫm cố gắng tìm dịp để kéo Bắc Việt vào cuộc đàm phán thật sự. Họ có vẻ hy vọng và cho rằng chỉ nội việc hai bên có thể cùng ngồi vào bàn thương thuyết với nhau cũng đã là một điểm đáng kể rồi. Họ cho rằng vẫn còn rất nhiều thì giờ để tìm hiểu, vận động và giải quyết các vấn đề khó khăn giữa hai bên.

Những diễn biến trong những tuần lễ đầu của cuộc đàm phán hoàn toàn đi đôi với dự đoán của tôi. Đứng ở cương vị quan sát viên tôi chẳng hề có trách nhiệm nào thiết thực. Cứ hai hoặc ba lần một tuần, tôi lại rời khách sạn Claridge ở Champs-Élysée và đến tòa đại sứ hoặc để nghe tường trình về một buổi họp vừa chấm dứt, hoặc để cùng soạn thảo chương trình cho các buổi họp sắp đến. Trong cả hai trường hợp, cuộc gặp gỡ chỉ là thường lệ. Tất cả chẳng qua chỉ là những vấn đề trao đổi ý kiến hơn là bàn luận về những biến chuyển trong các cuộc đàm phán. Vì làm gì có biến chuyển để mà bàn bạc? Những bản báo cáo tôi gởi về Sài Gòn chẳng chứa đựng điều gì đáng chú tâm hoặc quan trọng. Nhờ vậy tôi có thể dùng tất cả thời giờ vào việc vận động báo chí và dư luận quốc tế.

Nếu đang lúc cần công khai phổ biến tư tưởng mà lại được gặp giới ký giả thì quả là tìm được một cơ hội bằng vàng. Tôi dành hầu hết tất cả thì giờ của tôi cho các cuộc phỏng vấn. Khi thì tôi gặp các phóng viên Andre Fontain, Claude Julien của báo Le Monde, lúc thì tôi gặp các ký giả Roger Massif, Nicholas Chatelain, và Max Clos của tờ Le Figaro. Tôi nhận lời để cho tờ Times của Luân Đôn, Đức cùng các tạp chí khác và cả đài truyền hình của Ý Đại Lợi phỏng vấn. Gần như ngày nào tôi cũng tường trình với các ký giả Hoa Kỳ. Trong số những phóng viên đã gặp lúc đó, tôi nhớ rõ nhất là các ký giả Stanley Karnow, Marvin Kalb, Peter Kallisher, James Wilde, Takashi Oka và Jessie Cook.

Trong các cuộc phỏng vấn tôi đã phải trả lời những câu hỏi đặt tôi vào những tình trạng lúng túng: Tại sao chúng tôi lại đến Ba Lê với tư cách quan sát viên? Tại sao Hoa Kỳ lại thay mặt chúng tôi bàn bạc mọi việc? Tuy thế, tôi vẫn tìm được cơ hội để nói rõ cương vị Việt Nam. Tôi khẳng định là Việt Nam quả thật mong mỏi hòa bình. Những mong mỏi này đã khiến Việt Nam hết lòng ủng hộ đàm phán, cho dù là phải chấp nhận một cuộc đàm phán song phương chỉ gồm Hoa Kỳ và Hà Nội mà thôi. Việc chúng tôi chẳng hề phản đối đàm phán song phương đã chứng tỏ mãnh liệt rằng Việt Nam đang mong mỏi hòa bình. Mặc dầu Việt Nam đã chấp nhận đàm phán song phương, tôi minh xác là Việt Nam vẫn nắm quyền quyết định vận mệnh của chính mình. Hơn nữa, nếu cần Việt Nam sẽ tự giữ quyền chủ động và sẽ tham dự bất kỳ cuộc đàm phán quan trọng nào có liên quan đến tương lai quốc gia. Sau đó tôi đề nghị một cuộc đàm phán trực tiếp giữa chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa và Bắc Việt để đàm phán có thể ngắn gọn và dễ dàng hơn.

Quả nhiên Bắc Việt lập tức khước từ đề nghị đàm phán trực tiếp hai miền như tôi đã tiên đoán. Khi những phóng viên hỏi Bắc Việt tại sao họ lại không chịu đàm phán với chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa, họ đã trả lời: Vì đàm phán với Việt Nam là việc hoàn toàn vô nghĩa. Hiển nhiên một khi Hoa Kỳ đã đồng ý nói chuyện với họ thì không bao giờ họ lại đồng ý đàm phán thẳng với Miền Nam Việt Nam.

Vài ngày sau, khi tôi đã công bố đề nghị đàm phán trực tiếp với Bắc Việt thì tôi lại có dịp gặp Đức Khâm Mạng của giáo hoàng. Đức Khâm Mạng nguyên là người nổi tiếng quen biết và có liên lạc với mọi phía. Vì không tiện trực tiếp nhờ một vị lãnh đạo tinh thần làm người hòa giải các vấn đề chính trị nên lúc cùng Đức Khâm Mạng đàm đạo tôi đã nhẹ nhàng tỏ ý nhờ ông liên lạc với Bắc Việt. Tôi nói rằng nếu quả còn có cơ hội đàm phán nào mà chánh phủ Việt Nam vẫn còn chưa biết thì chúng tôi nhất định sẽ chẳng bỏ lỡ. Giải pháp này cũng bị Bắc Việt lạnh lùng bác bỏ. Thỉnh thoảng, khi có dịp gặp Đức Khâm Mạng, tôi vẫn hỏi thăm tin tức. Ông cho biết rằng phản ứng của Bắc Việt dù là trước dư luận hoặc trong những lúc gặp gỡ riêng tư cũng vẫn cứng ngắc không hề thay đổi. Hành động của họ lại khẳng định thêm một lần nữa rằng Hà Nội đến Ba Lê chỉ để thử thách tầm kiên nhẫn của những người Hoa Kỳ nóng lòng chớ không phải để bàn bạc những giải pháp hòa bình bất kể do ai đề ra.

Dù sao đi nữa thì những hoạt động của tôi cũng đã mang lại một vài thành quả. Nỗ lực của tôi đã khiến Việt Nam được báo chí thế giới thông cảm phần nào. Những vận động của tôi cũng đã mở đường khiến tôi có có dịp tiếp xúc với cộng đồng Việt Nam ở Pháp. Cộng đồng Việt Kiều ở Pháp là một cộng đồng có ý thức chính trị rất cao và cộng đồng này vẫn thường chỉ trích chính quyền Việt Nam.

Từ trước đến nay, giới Việt Kiều sinh sống ở Pháp đã có truyền thống ủng hộ các phong trào tranh đấu chính trị của Việt Nam. Rất nhiều nhà cách mạng Việt Nam đã chung sống với họ hoặc lấy những ý tưởng của họ làm mục tiêu tranh đấu. Trong số có cả cụ Phan Chu Trinh và ông Hồ. Trong thời gian kháng Pháp, những Việt Kiều cư ngụ ở Pháp đã hoạt động vô cùng hữu hiệu. Họ đã cấp dưỡng tài chánh cho Việt Minh và đóng một vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng dư luận chống chiến tranh ở Việt Nam.

Tuy những đoàn thể ảnh hưởng mạnh mẽ nhất trong cộng đồng là những đoàn thể ủng hộ Cộng Sản, ngoài những đoàn thể này vẫn có những đoàn thể quốc gia đang hoạt động. Những phần tử quốc gia trong các cộng đồng Việt Kiều ở Pháp ủng hộ rất nhiều các thành phần quốc gia nằm trong những nhóm có lập trường khác biệt, nhưng ngay cả những phần tử quốc gia này cũng không ủng hộ ông Thiệu và ông Kỳ. Mục tiêu của tôi là cố tìm cách chuyển đổi những phẫn khích thù nghịch của những người Việt Nam ở đây thành sự ủng hộ.

Để hoàn thành mục tiêu, tôi tổ chức một buổi họp và mời rất nhiều phần tử nổi bật cùng đến tham dự. Tôi đã biết trước họ đến hoàn toàn với mục đích đối đầu. Trong cuộc họp, tôi vẫn dùng phương pháp đối diện trực tiếp với vấn đề như thường lệ. Tôi mở lời rằng: “Tôi biết các anh đang nghi ngờ chánh quyền Việt Nam nhưng chính tôi cũng đã từng là một sinh viên có hoạt động chính trị khi còn đi học. Bởi vậy tôi tin là tôi có thể hiểu được các anh phần nào. Tôi muốn các anh tạm quên cương vị đại sứ của tôi và chỉ xem tôi như một cựu sinh viên mà thôi. Ít nhất thì tất cả chúng ta cũng cùng là những người quốc gia. Chúng ta hãy cùng bàn luận về cả vấn đề quốc gia lẫn về vấn đề ông Thiệu, ông Kỳ. Tôi biết các anh đang gặp khó khăn với cả ông Thiệu lẫn ông Kỳ. Nhưng tôi muốn biết thật rõ ràng. Xin cho tôi được nghe chính các anh phát biểu những vấn đề các anh không đồng ý. Đích thực các anh chống đối vấn đề gì?

Họ cũng trả lời câu hỏi của tôi rất thẳng thắn. Họ nói rõ rằng có hai điều họ không đồng ý. Thứ nhất là những chuyện tham nhũng dư luận đã đồn đãi. Thứ hai là chuyện ông Thiệu và ông Kỳ đã hành động chẳng khác nào tay sai của Hoa Kỳ.

Tôi đưa ra một quan niệm thật đơn giản để trả lời họ. Tôi trình bày rằng tuy chính tôi cũng là một nhân viên làm việc cho chánh quyền, việc này không có nghĩa là tôi có thể tự ý nói chuyện thẳng với ông Thiệu và ông Kỳ về mọi chuyện và cũng chẳng có nghĩa là tôi hoàn toàn không gặp khó khăn. Tôi nói với họ: “Các anh có thể nhìn ông Thiệu, ông Kỳ, phán rằng đây là những nhân vật tham nhũng rồi tiếp tục ngồi ngoài khoanh tay chẳng làm gì cả. Trong trường hợp này các anh phải đợi chờ cho đến lúc tự mình nắm quyền các anh mới có thể quét sạch, làm lại từ đầu như chính các anh mong mỏi.”

“Nhưng tôi xin nói với các anh rằng nếu các anh tiếp tục đợi chờ những giây phút đó, các anh sẽ phải đợi chờ không biết đến bao giờ. Nếu các anh chỉ đợi chờ thì rồi đây Cộng Sản sẽ chiếm dần tất cả. Đối với chế độ độc tài Cộng Sản thì các anh chẳng có cơ hội gì cả. Với chánh quyền Việt Nam lúc này, thì ít ra các anh còn có cơ hội. Dĩ nhiên ai cũng muốn giữ cho mình trong sạch, nhưng trên lãnh vực chính trị những chuyện này có bao giờ là sự thực? Nếu các anh muốn chánh quyền Sài Gòn không còn tham nhũng thì các anh phải tự mình nhập cuộc. Các anh có cơ hội để làm việc này. Có nằm trong chăn mới biết chăn có rận. Tôi đang nằm trong chăn nên tôi hiểu rất rõ chánh quyền hiện thời. Chính bản thân tôi cũng nhiều lúc không đồng ý với ông Thiệu và ông Kỳ, nhưng nếu theo về bên kia thì chúng ta chẳng còn bất kỳ cơ hội nào cả.”

“Tôi biết rằng cũng có thể có vài người trong nhóm các anh đây sẽ báo cáo những chuyện tôi vừa nói về với ông Thiệu hoặc ông Kỳ. Chuyện đó đối với tôi chẳng có gì quan trọng. Chúng ta đều là những người trong nhóm quốc gia. Chúng ta cùng chung một lý tưởng. Ngoài cách cùng ngồi lại với nhau, chúng ta chẳng còn cách nào khác để chọn lựa. Nhưng việc này hoàn toàn tùy thuộc các anh.”

Cuộc họp diễn ra gần trọn vẹn một ngày và rồi từ từ cách thuyết phục của tôi đã làm giảm dần những sự chống đối. Đây quả là những điều tôi có thể chuyển đạt dễ dàng đến các anh chị em sinh viên. Thật ra tôi đã có rất nhiều điểm chung với họ. Ít ra là cũng có những điểm tổng quát chung. Điều khác biệt duy nhất giữa chúng tôi là do những cách suy xét tôi đã học hỏi được từ những kinh nghiệm trong chính trường nhiều năm về trước. Có lẽ nhiều nhất là những sự suy nghĩ của tôi trong những năm tôi bị gạt ra khỏi chính trường. Bất kể đúng sai, tôi đã tin rằng mình lúc nào cũng phải tự đặt tay vào những chuyện có thể làm. Đây là con đường duy nhất để tránh những tai họa sâu xa. Tôi quan niệm rằng chẳng ai có thể đợi chờ một cơ hội hoàn toàn -Vì nếu cứ đợi chờ thì hoàn cảnh có thể buộc người đợi phải đi vào một hướng khắc nghiệt hơn. Trong khi đó thì nhập cuộc tức là đã tóm được một phần của cơ hội. Và nếu đã có được cơ hội thì dù rằng mới chỉ có được một phần của cơ hội, người đợi vẫn có thể cố gắng chuyển mọi việc về một hướng tốt đẹp hoặc ít ra cũng là một hướng tương đối khả quan hơn. Những khó khăn mà người vào cuộc phải chấp nhận sẽ được đền bù bằng những hy vọng trong tương lai. Nếu những người làm chánh trị chịu khó tìm cách lợi dụng tất cả mọi cơ hội khi nhập cuộc thì tôi tin rằng nỗ lực của họ có thể giúp họ thành công. Ngược lại, nếu họ chỉ khoanh tay đợi chờ, chắc chắn chẳng bao giờ họ có thể đoạt được mục đích.

Đây là những lời nhắn nhủ tôi đã cố gắng chuyển đến các sinh viên trẻ trong buổi gặp gỡ. Khi cuộc họp kết thúc -và bầu không khí đã khả quan hơn- Tôi nói rằng tôi không hề đến đây để vận động cho ông Thiệu hoặc ông Kỳ. Tôi đến đây chỉ để bàn luận vấn đề liên kết những phần tử quốc gia và tìm cách khiến họ cùng đâu lưng chống lại Cộng Sản. Tôi không đòi hỏi các anh phải hứa hẹn mà tôi cũng chẳng đòi hỏi bất cứ điều gì khác. Tôi cũng chẳng cần biết sau đó các anh sẽ làm gì, nhưng bất kể các anh quyết định ra sao, tôi vẫn mong rằng giữa chúng ta hãy còn một mối cảm thông của những người cùng đi chung một đường. Tôi muốn các anh hiểu rõ rằng lúc nào tôi cũng sẵn lòng ủng hộ các anh.

Buổi nói chuyện tương đối dai dẳng này chỉ là một trong những buổi tranh luận sôi nổi giữa tôi và những người hoạt động chính trị ở ngoại quốc. Trong suốt mùa hè năm 1968, thời khóa biểu của tôi từ thứ hai đến thứ sáu đầy dẫy hàng loạt những buổi họp tương tự, những cuộc phỏng vấn, những buổi tiếp xúc, những lần họp cùng các đoàn thể Hoa Kỳ, các đoàn thể Ngoại Giao Pháp, những lần phát biểu trên radio, trên đài truyền hình. Vào chiều thứ sáu, tôi ra phi trường Orly cố bắt kịp chuyến bay TWA lúc 4:30 về Hoa Thịnh Đốn. Tại đây, tôi làm việc cùng các nhân viên sứ quán cho tới thứ hai hoặc thứ ba, cố gắng tìm hiểu những tin tức thời sự và chiều hướng của cuộc bầu cử sắp tới ở Hoa Kỳ. Lúc này các chiến dịch vận động tranh cử của Hoa Kỳ đã đến giai đoạn sôi sục. Vào ngày thứ tư, tôi lại hối hả trở lại Ba Lê trên những chuyến bay Shuttle tốc hành nối liền Hoa Thịnh Đốn-Ba Lê của hãng Air France. Tôi bay nhiều đến độ gần như phi hành đoàn đã thuộc lòng tất cả những thói quen của tôi.

Nếu ở những giai đoạn bình thường khác thì chắc chắn những chuyến hành trình liên tục vượt Đại Tây Dương đã làm tôi kiệt sức, nhưng lúc này những chuyến tốc hành chỉ là những thói quen không hơn không kém. Tình thế đang sôi sục ở cả Pháp lẫn Hoa Kỳ. Biểu tình lúc nào cũng đầy đường phố. Cứ thỉnh thoảng lại có những cuộc ẩu đả giữa những người biểu tình và cảnh sát. Tại Hoa Kỳ, học sinh, sinh viên xuống đường để chống chiến tranh, nhưng ở Âu Châu phẫn khích lại chuyển thẳng ngay vào “chính quyền.” Tại Pháp, nơi chúng tôi đáng nhẽ phải bàn bạc hòa bình mà cảnh tượng lại có vẻ thất thường đến độ gần như đang ngay giữa giai đoạn đầu của một cuộc cách mạng. Đã có lần những người chống đối buộc chúng tôi phải đáp xuống phi trường quân sự Bretigny thay vì phi trường Orly như thường lệ. Một lần khác máy bay chẳng thể đáp xuống Ba Lê mà lại phải cất cánh từ Brussels ngược về lại Hoa Thịnh Đốn. Tôi còn nhớ chuyến bay đó khá rõ. Ngày đó trùng vào ngày tôi trở về Hoa Kỳ để dự đám tang Thượng Nghị Sĩ Robert Kennedy. Vài ngày trước, ngay sau khi giai đoạn tranh cử vừa kết thúc thì ông bị ám sát.

Ngay giữa lúc tình hình đang cực kỳ xáo trộn tôi còn được gặp ông Ric-hard Nixon ở New York. Lúc này ông đã là ứng cử viên tranh cử Tổng Thống của đảng Cộng Hòa. Cuộc gặp gỡ giữa tôi và ứng cử viên Nixon dần dà kết thành những liên hệ chính trị phức tạp vô tưởng. Hậu quả là tôi đã bị kết án cố mưu toan vận động bất hợp lệ để chuyển hướng kết quả của cuộc bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ. Cũng theo dư luận thì chính bà Anna Chennault là người đã đứng ra làm trung gian. 

 

Thảo luận cho bài: "Trong Gọng Kềm Lịch Sử"